Tại hội nghị, TS Nguyễn Quốc Thập – Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam – cho rằng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, đặt ra yêu cầu cao hơn cho ngành dầu khí. Đó là chúng ta cần một nền năng lượng an toàn hơn, linh hoạt, cạnh tranh, xanh và tự chủ hơn. Tuy nhiên nhìn vào thực tế, các điều kiện thuận lợi của ngành dầu khí không còn như trước.
Nhiều mỏ chủ lực đã qua thời kỳ khai thác tốt nhất, nên việc gia tăng trữ lượng ngày càng khó hơn. Các dự án mới thường xa, sâu hơn, phức tạp, rủi ro hơn với yêu cầu về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và năng lực quản trị ngày càng cao.
Ông Trần Thanh Tùng, Phó vụ trưởng Vụ Dầu khí, Than (Bộ Công Thương), cũng chỉ ra những thách thức lớn, đó là sự mâu thuẫn giữa nhu cầu năng lượng phục vụ phát triển kinh tế (dự kiến trên 10%) với thực trạng nguồn cung nội địa bị suy giảm.
Trên thực tế, các mỏ dầu khí chủ lực của Việt Nam sau thời gian dài khai thác đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên từ 15-30% mỗi năm.
Công tác gia tăng trữ lượng gặp nhiều khó khăn khi các phát hiện mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, hiệu quả kinh tế thấp hoặc nằm ở vùng nước sâu, xa bờ với địa chất phức tạp và nhạy cảm.
Các nguồn năng lượng khác như thủy điện bị khai thác tối đa. Các mỏ than lộ thiên đến nay đã suy giảm sản lượng, đòi hỏi chi phí cao và công nghệ tiên tiến.
Trong khi đó nguồn điện tái tạo lại đòi hỏi nguồn đầu tư lớn và tính ổn định chưa cao. Hệ thống hạ tầng năng lượng chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi tỉ lệ nội địa hóa của ngành vẫn chưa cao.
Những điểm nghẽn về thể chế, pháp lý vẫn còn tồn tại. Đặc biệt là yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho năng lượng mới thu hút nhà đầu tư tham gia như điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amonia xanh, thu giữ và lưu trữ carbon…
Thêm nữa là vấn đề thiếu nguồn lực tài chính triển khai các dự án năng lượng mới trong bối cảnh giá nhiên liệu sơ cấp tăng phi mã, đặc biệt là giá LNG. Chính sách giá năng lượng vẫn còn những bất cập và còn tình trạng bù chéo. Việc duy trì mức giá năng lượng ổn định để bảo đảm ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một áp lực cực kỳ lớn.
Dù vậy, nhìn nhận vào những cơ hội, ông Thập cho rằng ngành dầu khí không chỉ tiếp tục giữ vững vai trò truyền thống mà còn mở rộng sang một không gian công nghiệp – năng lượng rộng hơn.
Đó là lĩnh vực khí, LNG, điện khí, lọc hóa dầu giá trị cao, dịch vụ kỹ thuật cao, điện gió ngoài khơi, CCS/CCUS, hydrogen, amonia, chuyển đổi số, quản trị phát thải và các chuỗi giá trị năng lượng mới…
Để tận dụng cơ hội, Chủ tịch Hiệp hội Dầu khí nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách để tháo gỡ các vướng mắc, mở ra không gian thể chế. Trong đó việc sửa đổi Luật Dầu khí và các cơ chế chính sách liên quan có vai trò lớn để mở không gian phát triển cho chuỗi giá trị dầu khí, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, tận thu tài nguyên, nâng cao hệ số thu hồi, thúc đẩy dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi…
Đồng tình, trong bối cảnh ngành năng lượng phải đáp ứng yêu cầu kép là đảm bảo an ninh năng lượng, chuyển dịch năng lượng theo cam kết Net Zero và nhu cầu tăng trưởng hai con số, ông Tùng cho rằng cần giải quyết các nút thắt như đột phá về thể chế, tăng tính tự chủ năng lượng gắn với tăng năng lực nội tại, cũng như đảm bảo tính hài hòa giữa an ninh, giá cả và bền vững.
Ông Tạ Đình Thi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, thì cho rằng ngành dầu khí cần tối ưu chuỗi giá trị, đặc biệt là gắn khai thác, chế biến dầu khí với các ngành năng lượng mới như điện gió ngoài khơi, LNG. Thúc đẩy xu thế dầu khí năng lượng, số hóa, tích hợp thông tin dữ liệu trên biển. Gắn với phát triển các mô hình hợp tác quốc tế, thử nghiệm có kiểm soát.
Gói 17,5 tỷ USD sẽ hỗ trợ tối đa 5 khoản vay. Mỗi khoản phục vụ việc xây dựng hai lò phản ứng công suất 1,1 GW tại mỗi địa điểm, theo Bộ Năng lượng Mỹ.
Gói vay này nhằm triển khai thỏa thuận trị giá 80 tỷ USD của DOE với công ty công nghệ điện hạt nhân Westinghouse Electric. Theo thỏa thuận, chính phủ Mỹ sẽ hỗ trợ thu xếp tài chính và thúc đẩy quá trình cấp phép cho các dự án lò phản ứng Westinghouse để đổi lấy 20% lợi nhuận trong tương lai.
Nhiều năm qua, ngành điện hạt nhân Mỹ gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư, do các dự án đòi hỏi vốn lớn, thường xuyên đội chi phí và thủ tục pháp lý phức tạp. Điều này khiến chúng trở nên rủi ro hơn so với các lựa chọn rẻ hơn và triển khai nhanh hơn như điện khí hay năng lượng tái tạo.
Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright kỳ vọng gói vay sẽ giúp Mỹ hiện thực hóa mục tiêu khởi công xây dựng 10 lò phản ứng hạt nhân quy mô lớn mới trước năm 2030, thậm chí có thể rút ngắn lộ trình này tới ba năm.
Theo ông Wright, chương trình đã nhận được quan tâm mạnh mẽ từ các công ty năng lượng, tập đoàn công nghệ siêu lớn (hyperscaler) đang có nhu cầu tiêu thụ điện cao bởi những trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI).
"Chúng tôi tin rằng các dự án điện hạt nhân sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cổ đông các công ty điện lực, người dùng điện và hyperscaler ", ông nói.
CEO tập đoàn quản lý tài sản Brookfield Connor Teskey nhận định các khoản vay của DOE sẽ tạo cú hích phục hồi cho ngành điện hạt nhân Mỹ. "Nguồn vốn này đóng vai trò xúc tác và nền tảng cho ngành điện hạt nhân, củng cố chuỗi cung ứng nội địa và đẩy nhanh xây dựng các dự án cung cấp nguồn điện ổn định nhiều thập kỷ tới cho cả nước", ông nói.
Đến 20h ngày 17/4, giá dầu Brent giảm 10% xuống 89 USD một thùng. Dầu WTI sụt 11% về 83 USD.
Giá dầu đi xuống sau khi Iran tuyên bố eo biển Hormuz được mở hoàn toàn cho hoạt động vận tải thương mại trong thời gian ngừng bắn giữa Israel và Lebanon.
"Việc di chuyển của tất cả tàu thương mại qua eo biển Hormuz được mở hoàn toàn trong thời gian còn lại của lệnh ngừng bắn", Bộ trưởng Ngoại giao Iran Seyed Abbas Araghchi viết trên mạng xã hội ngày 17/4. Tuy nhiên, các tàu phải di chuyển theo "tuyến đường được điều phối" do cơ quan hàng hải của Iran thông báo, ông cho biết.
Israel và Lebanon trước đó đồng ý ngừng bắn 10 ngày kể từ 5h ngày 17/4. Chiến dịch quân sự của Israel tại Lebanon nhằm vào lực lượng Hezbollah đang là điểm nghẽn trong đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran.
Eo biển Hormuz chuyên chở khoảng 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu. Tuy nhiên, tuyến đường thủy này đã gần như bị phong tỏa sau khi chiến sự nổ ra cuối tháng 2. Việc này khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt thời gian qua do thiếu cung.
Giá vàng thế giới hiện cũng tăng mạnh sau thông tin eo biển Hormuz mở lại. Mỗi ounce tăng hơn 70 USD lên 4.860 USD.
Xung đột Trung Đông hạ nhiệt có lợi cho kim loại quý. Thời gian qua, vàng chịu sức ép khi chiến sự kéo giá năng lượng lên cao, khiến lạm phát nhiều nơi tăng tốc. Lạm phát cao khiến các ngân hàng trung ương ngần ngại giảm lãi suất. Giá vàng vì thế gặp bất lợi, do không trả lãi cố định. Từ đầu chiến sự, vàng đã mất giá khoảng 10%.
Tin tức tích cực từ Trung Đông cũng giúp thị trường chứng khoán Mỹ khởi sắc. Chỉ số DJIA tăng 1,5% ngay khi mở cửa. S&P 500 và Nasdaq Composite đều tăng 1%. Wall Street gần đây liên tiếp lập kỷ lục mới, do nhà đầu tư lạc quan về khả năng chiến sự tại Trung Đông chấm dứt. S&P 500 và Nasdaq Composite đều đã đi lên hơn 10 phiên qua. Tính chung từ đầu chiến sự, hai chỉ số này đều đang tăng điểm.
Ấn Độ - quốc gia nhập khẩu vàng lớn thứ hai thế giới - đang đối mặt áp lực lớn lên nguồn ngoại tệ, khiến Thủ tướng Narendra Modi phải đưa ra lời kêu gọi người dân hạn chế mua vàng trong ít nhất một năm.
Phát biểu mới đây, ông Modi khuyến khích người dân thực hành tiết kiệm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động và xung đột Trung Đông tiếp tục đẩy giá năng lượng leo thang. Trong đó, việc giảm mua vàng được xem là giải pháp trực tiếp nhằm hạn chế dòng USD chảy ra nước ngoài.
Trong năm tài khóa 2026, Ấn Độ đã chi khoảng 72 tỷ USD để nhập khẩu vàng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Theo Hội đồng Vàng Thế giới, tổng lượng vàng tiêu thụ của nước này trong năm 2025 vượt 710 tấn, riêng nhu cầu trang sức đạt khoảng 430,5 tấn.
Tại Ấn Độ, vàng không đơn thuần là tài sản đầu tư mà còn gắn chặt với văn hóa, tín ngưỡng và các nghi lễ truyền thống. Người dân thường mua vàng trong các dịp lễ lớn, mùa cưới hoặc như biểu tượng của địa vị xã hội. Chính vì vậy, bất kỳ lời kêu gọi nào liên quan đến việc hạn chế mua vàng đều được đánh giá là tác động mạnh tới nền kinh tế và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ Ấn Độ xem đây là biện pháp mà người dân có thể chủ động tham gia để giảm áp lực lên cán cân thanh toán và dự trữ ngoại hối.
Lời kêu gọi hạn chế mua vàng của Thủ tướng Narendra Modi đã ngay lập tức tạo ra làn sóng phản ứng trên thị trường tài chính Ấn Độ trong các phiên giao dịch sau đó.
Nhóm cổ phiếu ngành vàng và trang sức đồng loạt lao dốc khi giới đầu tư lo ngại nhu cầu tiêu dùng sẽ suy giảm mạnh. Áp lực bán lan rộng khiến chỉ số chứng khoán Sensex có lúc giảm hơn 1.000 điểm, phản ánh tâm lý lo ngại về nguy cơ gián đoạn kinh tế nếu người dân cắt giảm chi tiêu và nhu cầu tiêu dùng suy yếu kéo dài.
Thông điệp của Thủ tướng Modi nhận được sự ủng hộ từ nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn tại Ấn Độ như Bharti Enterprises, EY India hay KPMG. Một số doanh nghiệp cho biết đã bắt đầu rà soát các khoản chi phí công tác và kế hoạch tiêu dùng để thích ứng với bối cảnh kinh tế mới.
Theo Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI), dự trữ ngoại hối của nước này tính đến đầu tháng 5 còn khoảng 690,7 tỷ USD, giảm đáng kể so với mức 728 tỷ USD hồi tháng 2. Trong khi đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo thâm hụt tài khoản vãng lai của Ấn Độ năm nay có thể lên tới 84,5 tỷ USD, trong đó nhập khẩu vàng là một trong những nguyên nhân chính.
Thâm hụt tài khoản vãng lai xảy ra khi lượng ngoại tệ chi cho nhập khẩu lớn hơn nguồn thu từ xuất khẩu và dòng tiền từ nước ngoài. Với vàng, toàn bộ giao dịch nhập khẩu đều phải thanh toán bằng USD, khiến nhu cầu ngoại tệ tăng mạnh.
Nếu tình trạng này kéo dài, đồng rupee sẽ chịu áp lực mất giá, kéo theo nguy cơ lạm phát tăng cao và chi phí vay nợ nước ngoài trở nên đắt đỏ hơn.
Trong tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 775 tỷ USD của Ấn Độ, bốn nhóm hàng lớn nhất gồm dầu thô, vàng, dầu thực vật và phân bón chiếm hơn một phần ba giá trị. Dầu thô đứng đầu với 134,7 tỷ USD nhưng là mặt hàng thiết yếu khó cắt giảm. Dầu thực vật và phân bón cũng đóng vai trò quan trọng với an ninh lương thực.
Trong khi đó, hóa đơn nhập khẩu vàng lên tới 72 tỷ USD - gần gấp đôi tổng giá trị nhập khẩu dầu thực vật và phân bón cộng lại - khiến mặt hàng này trở thành mục tiêu dễ kiểm soát nhất để giảm áp lực ngoại tệ.
Áp lực đối với nền kinh tế Ấn Độ càng gia tăng khi chiến sự tại khu vực Trung Đông đe dọa các tuyến vận tải dầu mỏ quan trọng, đặc biệt là eo biển Hormuz - nơi vận chuyển khoảng 20% nguồn cung năng lượng toàn cầu. Khi nguy cơ gián đoạn nguồn cung tăng lên, giá dầu có thể tiếp tục leo thang, buộc Ấn Độ phải dành nhiều ngoại tệ hơn cho nhập khẩu năng lượng.
Theo dự báo của NDTV, nếu Ấn Độ giảm 30-40% lượng vàng nhập khẩu, nước này có thể tiết kiệm khoảng 25 tỷ USD. Trong kịch bản cắt giảm một nửa lượng nhập khẩu vàng, số ngoại tệ tiết kiệm được có thể lên tới 36 tỷ USD.
Khoản tiền này có thể được ưu tiên cho nhập khẩu năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác trong bối cảnh giá dầu thế giới tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông.