Phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc sơ kết một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp sáng 1/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá việc sắp xếp tổ chức bộ máy thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng để chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng vận hành.
Theo ông, bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được kiện toàn theo hướng tinh gọn, đồng bộ; nhiều đầu mối trung gian được cắt giảm, chức năng, nhiệm vụ từng bước được rà soát, hoàn thiện. Công tác bố trí, đánh giá cán bộ có nhiều đổi mới theo vị trí việc làm, kết quả thực hiện nhiệm vụ và dữ liệu quản trị; đội ngũ cán bộ, công chức cơ bản ổn định tư tưởng, người dân đồng thuận với chủ trương của Đảng.
Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh đây mới là kết quả bước đầu, cuộc cải cách còn nhiều việc phải tiếp tục thực hiện với quyết tâm cao hơn, cách làm khoa học hơn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn. Ông yêu cầu trọng tâm giai đoạn tới là bộ máy mới phải tạo ra năng lực mới, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và năng lực kiến tạo phát triển.
Không chấp nhận cán bộ sợ trách nhiệm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết ba lĩnh vực đang gây nhiều khó khăn cho cán bộ cơ sở là đầu tư, đất đai và tài chính. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng bị xử lý nhưng không có trường hợp nào bị xử lý vì “dám nghĩ, dám làm”; những người vi phạm đều do tư lợi, vi phạm pháp luật. Vì vậy, không thể lấy lý do sợ sai để trì hoãn công việc.
Ông dẫn chứng có địa phương thay đổi người đứng đầu, chỉ sau 8 ngày tiến độ giải quyết công việc được cải thiện rõ rệt. Do đó, tình trạng né tránh trách nhiệm, liên tục xin ý kiến cấp trên thay vì thực hiện đúng thẩm quyền là điểm nghẽn lớn trong tổ chức thực thi.
“Nếu ai thấy sợ, thấy không làm được thì nên thẳng thắn báo cáo tổ chức để bố trí công việc phù hợp hơn”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, nhấn mạnh rằng bộ máy mới “không chấp nhận cán bộ không dám nghĩ, không dám làm, không dám đổi mới”.
Theo ông, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải thiếu chủ trương hay nguồn lực mà là khâu tổ chức thực hiện. Chủ trương, thể chế và tài chính đã có nhưng nếu cán bộ không hành động thì mọi việc vẫn ách tắc. “Tôi đang nghĩ cần có một nghị quyết chuyên đề về công tác cán bộ để khắc phục tình trạng có cơ chế nhưng vẫn không dám làm”, ông cho hay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chỉ ra năng lực thực thi ở cấp xã còn hạn chế khi khối lượng công việc tăng mạnh nhưng thiếu cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin và thanh tra. Trong khi đó, việc phân cấp ở một số nơi chưa đi kèm nguồn lực, nhân lực và hướng dẫn thực hiện, khiến địa phương gặp khó khăn. Ông yêu cầu cấp tỉnh không được giao việc mà không phân bổ tài chính, nhân lực hoặc hỗ trợ chuyên môn cho cấp xã.
Hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách để cán bộ yên tâm công tác
Về nhiệm vụ thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, rà soát hệ thống pháp luật để bảo đảm thống nhất, minh bạch; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng tập trung vào định hướng chiến lược, công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát, không làm thay chức năng quản lý của Nhà nước.
Ông yêu cầu hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức cấp xã thực sự là tuyến đầu phục vụ người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh phân cấp đi đôi với chuyển giao đầy đủ nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm. Việc bố trí biên chế phải dựa trên khối lượng công việc thực tế, không cào bằng giữa các địa phương.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng yêu cầu xây dựng vị trí việc làm linh hoạt, tăng cường cán bộ có chuyên môn sâu về cơ sở, đồng thời có chính sách tiền lương, phụ cấp và điều kiện làm việc phù hợp để cán bộ yên tâm công tác, nhất là ở vùng khó khăn, miền núi, biên giới. Song song với đó, cơ quan chức năng cần đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, tăng cường quản trị bằng dữ liệu, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh.
Kết luận hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu các cơ quan khẩn trương hoàn thiện kết luận và chương trình hành động theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm”; những việc thuộc thẩm quyền Trung ương phải quyết định kịp thời, việc của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương phải triển khai ngay.
“Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, phân cấp mới phải đi đôi với trách nhiệm mới, dữ liệu mới tạo ra phương thức quản trị mới. Bộ máy mới phải phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp và sự phát triển của đất nước”, ông nhấn mạnh.
>>> Nội dung bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Từ năm 1965, Mỹ dùng không quân, hải quân mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc trên quy mô lớn, cường độ ngày càng khốc liệt. Huyết mạch giao thông bến phà Gianh bị đánh phá dữ dội. Ngoài bom đạn, nơi đây còn hứng chịu thủy lôi do máy bay thả xuống với mục đích cắt đứt tuyến đường chi viện từ miền Bắc vào Nam.
Tháng 10/1965, chàng trai Trần Xuân Khuể mới 19 tuổi viết đơn tình nguyện vào lực lượng hải quân. Sau đợt khám sức khỏe, ông không đạt tiêu chuẩn nên nhập ngũ vào công binh C26, Tỉnh đội Quảng Bình. Đơn vị của ông làm nhiệm vụ tại phà Giang, vận chuyển xe, vũ khí, lương thực vào chiến trường miền Nam.
Ban đầu được biên chế làm nhiệm vụ đưa phà qua sông, sau 4 tháng ông được đi học lái cano, là một trong 25 người của trung đội làm nhiệm vụ lái cano phá thủy lôi trên sông Gianh.
Mỗi lần máy bay địch quần thảo trên bầu trời thường theo hai chiếc, mỗi chiếc thả 12 quả thủy lôi xuống sông. Tại đây có một đại đội quan sát ngày đêm, khi phát hiện thủy lôi rơi ở vị trí nào sẽ báo cho đội rà phá.
Sông Gianh rộng khoảng 800 m, bờ Nam và bờ Bắc mỗi bên bố trí một đại đội. Để phá thủy lôi, một sợi dây được kéo qua sông, cứ mỗi đoạn 5 m buộc một cục nam châm, tiếp theo 5 m buộc một cục sắt. Sợi dây dài hơn 800 m được kéo qua kéo lại trong khu vực bán kính khoảng 100 m. Mỗi khi dây đi qua gặp thủy lôi, từ trường sẽ kích nổ.
Sau khi kéo dây, đại đội của ông Khuể lái cano rà phá. Công việc chia theo ca kíp, mỗi lần có một người lái và hai người hỗ trợ. Cano chạy qua lại trên sông Gianh theo hang lối, khi gặp thủy lôi sẽ kích nổ.
Thủy lôi địch thả xuống có gắn dù nên thường cách mặt nước khoảng một mét. Để kích nổ, ông cho cano chạy hết tốc độ, khoảng 50-70 km/h. Khi cano băng qua, thủy lôi phát nổ phía sau nên không gây thương tích cho người lái.
Sinh ra ở vùng sông nước Gianh, ông Khuể thông thạo luồng lạch, biết rõ chỗ sâu, chỗ cạn, lợi thế so với nhiều đồng đội từ nơi khác đến. Vì vậy, những khu vực nguy hiểm, khó khăn thường được giao cho ông. "Lái cano mà mắc cạn gặp thủy lôi thì gần như không còn cơ hội sống. Nhờ kinh nghiệm nên tôi biết cách xử lý", ông nói.
Trên sông Gianh, ngoài công binh còn nhiều đơn vị khác phối hợp làm nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam. Hàng ngày địch dội bom đạn, nhiều người chết và bị thương. Thời điểm chiến tranh khốc liệt, hầu như ngày nào địch cũng cho máy bay thả thủy lôi xuống sông Gianh.
Khi máy bay đến, các đơn vị khác có thể xuống hầm trú ẩn, còn những người lái cano, vận hành bến phà thì trên trời bom đạn, dưới sông thủy lôi, không có gì che chắn. "Mọi người làm việc trong tâm thế sống chết là may rủi của số phận, nhưng ai cũng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ", ông nhớ lại tâm thế ngày đó.
Năm 1967, mẹ bị trúng rocket qua đời, ông Khuể sống một mình. Do chưa lập gia đình, ông thường nhận những nhiệm vụ nguy hiểm nhất với suy nghĩ "nếu có hy sinh cũng không vướng bận".
Trong hàng trăm lần làm nhiệm vụ, ông nhớ nhất chuyến đi khoảng 4h một ngày tháng 8/1968. Hôm đó trời âm u, ông lái cano cùng hai đồng đội xung phong đi rà phá thủy lôi. Nhóm xuất phát từ sông Gianh ra cửa biển, nơi địch vừa thả thủy lôi và được tiên lượng chuyến đi "lành ít dữ nhiều".
Trước khi làm nhiệm vụ, đơn vị tổ chức lễ truy điệu sống cho ba người. Chiếc mũ cối cùng nắm cơm vắt được đặt xuống đất, thắp ba nén hương.
"Chính trị viên vừa thật vừa đùa rằng thắp hương cho vui thôi, chứ không chết đâu", ông nhớ lại. Đó là lời động viên trước giờ xuất phát, còn ai cũng nghĩ có thể bị thương hoặc hy sinh, nhưng không ai từ chối nhiệm vụ. May mắn chuyến đi phá hủy được nhiều thủy lôi và cả ba trở về an toàn.
Năm 21 tuổi, ông được kết nạp Đảng nhờ thành tích trong rà phá thủy lôi. 6 năm cầm lái cano phá thủy lôi trong chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất và lần thứ hai của Mỹ, ông không nhớ đã phá được bao nhiêu quả. "Chỉ nhớ 7 lần thoát chết khi thủy lôi nổ gần. Năm 1968, có lần thủy lôi nổ trúng, tôi bị hất tung lên rồi rơi xuống nước, may được đồng đội cứu", ông kể.
Ngày 6/7/1972, khi đang ở dưới hầm, ông được cán bộ tỉnh đến trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được thưởng 180 đồng, phích nước và bộ ấm chén. Số tiền đó ông dành 80 đồng mua hai con lợn, hai cây thuốc lá để toàn đơn vị liên hoan, một phần biếu những gia đình từng cưu mang mình, còn lại 20 đồng gửi về cho người vợ mới cưới, dặn mua bộ quần áo mới.
Cuối năm 1973, Mỹ ngừng bắn ở miền Bắc, đơn vị chuyển sang ngành giao thông, ông cũng chuyển sang lái phà. Đến năm 1998, cầu Gianh được xây dựng, chấm dứt hoạt động của bến phà cuối cùng trên quốc lộ 1, ông chuyển sang làm nhân viên bán vé cho đến năm 2006 thì nghỉ hưu.
Từ một thanh niên nông thôn nhập ngũ, khi trở về ông tiếp tục làm nông, trồng lúa, nuôi gà, lợn. Vợ chồng ông có 5 người con, đều đã lập gia đình. Hai ông bà hiện sống trong căn nhà cấp bốn xây từ năm 1991, ở thôn La Hà, xã Nam Gianh, ngay bên sông Gianh.
Việc nghiên cứu được thực hiện theo đề xuất của Sở Nông nghiệp và Môi trường, dự kiến kéo dài 12 tháng trong giai đoạn 2026-2027.
Chủ tịch UBND tỉnh giao Vườn Quốc gia U Minh Hạ chủ trì triển khai, phối hợp với nhóm nghiên cứu, đồng thời quản lý, giám sát hoạt động theo đúng quy định. Nhiệm vụ trọng tâm là làm rõ nguyên nhân cây tràm suy kiệt, ngã đổ và chết hàng loạt thời gian qua.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục theo dõi, hướng dẫn các đơn vị hoàn thiện thủ tục pháp lý, bảo đảm việc nghiên cứu phù hợp mục tiêu bảo tồn và điều kiện thực tế của địa phương.
Hiện khoảng 300 ha rừng tràm tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ suy kiệt nghiêm trọng, nhiều diện tích cây chết và đổ ngã; khoảng 400 ha khác có nguy cơ tiếp tục suy giảm nếu điều kiện bất lợi kéo dài.
Theo Ban quản lý Vườn Quốc gia U Minh Hạ, tình trạng này xuất hiện khoảng 10 năm qua, tập trung ở các tiểu khu 1 và 3. Nguyên nhân ban đầu được xác định do rừng già cỗi, biến động thủy văn và ngập nước kéo dài trên nền đất than bùn.
Nhiều khu vực trũng ngập hơn 6 tháng mỗi năm khiến cây tràm khó tái sinh. Vào mùa khô, lớp than bùn mất độ kết dính làm tăng nguy cơ cây bật gốc, đổ ngã.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ là một trong ba khu bảo tồn đất ngập nước quan trọng của Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời là vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau do UNESCO công nhận.
Khu vực có hơn 8.500 ha vùng lõi, gồm khoảng 2.500 ha rừng tràm trên đất than bùn thuộc phân khu bảo tồn và hơn 5.190 ha thuộc phân khu phục hồi, sử dụng bền vững hệ sinh thái đất ngập nước.
Ngày 28/6, Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ (Công an tỉnh Thanh Hóa) cho biết khoảng 6h cùng ngày, đơn vị đã điều động lực lượng đến giải cứu 2 du khách bị mắc kẹt trong thang máy của một khách sạn trên địa bàn phường Sầm Sơn.
Khi tiếp cận hiện trường, lực lượng chức năng xác định 2 du khách bị mắc kẹt trong khoang thang máy giữa tầng 2 và tầng 3, có biểu hiện hoảng loạn.
Bên cạnh việc triển khai phương án cứu hộ, lực lượng chức năng đã trấn an tinh thần, hướng dẫn các nạn nhân giữ bình tĩnh và phối hợp trong suốt quá trình giải cứu. Sau khi sử dụng thiết bị chuyên dụng để banh, cắt và mở cửa thang máy, lực lượng chức năng đã đưa cả hai nạn nhân ra ngoài an toàn, sức khỏe ổn định.