Theo TTXVN, phát biểu chỉ đạo, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá, Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng đã chủ động, nhạy bén trong công tác tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả về trước mắt và lâu dài.
Quân đội đã nắm chắc, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống, giữ vững thế chủ động, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ. Cùng với đó là tập trung xây dựng quân đội tinh gọn mạnh, hiện đại, có bản lĩnh chính trị cao, kỷ luật nghiêm, năng lực chuyên môn tốt và làm chủ công nghệ, vừa củng cố sức mạnh truyền thống, vừa hình thành năng lực mới của chiến tranh hiện đại…
Thời gian tới, Thủ tướng đề nghị Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng và đối ngoại. Quân đội phải nhìn xa hơn, chuẩn bị sớm hơn, tham mưu sâu hơn; không chỉ dự báo về quân sự, quốc phòng mà cả tác động về kinh tế – xã hội, ngoại giao nói chung; nhận diện các nguy cơ an ninh truyền thống, phi truyền thống, không để đất nước bị bất ngờ chiến lược, không để sự kiện bên ngoài chuyển hóa thành khủng hoảng trong nước.
Thủ tướng lưu ý phải tiếp tục xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; thực hiện việc điều chỉnh tổ chức bộ tiêu chí xây dựng quân đội hiện đại trong tình hình mới; nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo, diễn tập, làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại và đáp ứng điều kiện tác chiến mới.
Cạnh đó, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời, không gian mạng, hạ tầng chiến lược và xử lý tình huống phải kiên quyết về nguyên tắc, linh hoạt về phương pháp, chắc chắn về pháp lý, chủ động về truyền thông và tránh mắc bẫy leo thang. Xây dựng phòng thủ quân khu, các khu vực phòng thủ vững chắc trong điều kiện mới, đồng bộ với cơ chế lãnh đạo và tổ chức quân sự địa phương.
Thủ tướng cho rằng, phải phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia và làm chủ công nghiệp quốc phòng, chuỗi cung ứng chiến lược để bảo đảm năng lực ứng phó trong mọi tình huống, trọng tâm là đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả về đối ngoại quốc phòng, tổ chức tốt các sự kiện, hoạt động đối ngoại, góp phần xây dựng lòng tin, mở rộng hợp tác, giảm thiểu nguy cơ xung đột, đặc biệt chú trọng về khoa học, công nghệ, đào tạo nhân lực để phát triển công nghiệp quốc phòng.
Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu quan tâm thực hiện tốt công tác chính sách và tổ chức chu đáo, trang trọng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, tri ân nhân kỷ niệm 79 năm Ngày thương binh – liệt sĩ.
Đồng thời, huy động sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, thu thập thông tin và xác định danh tính liệt sĩ, coi đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của các cấp, các ngành, nhất là Bộ Quốc phòng và cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược tăng cường giữa Philippines và Việt Nam

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố chung giữa Philippines và Việt Nam:
1. Nhận lời mời của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr., Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines từ ngày 31.5 đến ngày 1.6.2026.
2. Ngày 1.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón và hội đàm chính thức với Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. và cùng chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác song phương. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã chủ trì buổi chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Philippines và tham dự diễn đàn doanh nghiệp.
3. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm, diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược giữa Philippines và Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn và nhất trí nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược hiện nay lên Đối tác chiến lược tăng cường.
4. Trên cơ sở khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam - Philippines, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tình hữu nghị lâu bền và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế và thượng tôn các nguyên tắc và nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương ASEAN.
5. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quyết tâm phát huy những thành quả hợp tác về chính trị - an ninh, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, mở rộng thương mại và đầu tư, hợp tác nông nghiệp, giáo dục, du lịch, giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân... đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy kết quả hợp tác thực chất vì lợi ích hai nước và của khu vực. Các cuộc thảo luận giữa hai lãnh đạo đã đặt nền tảng cho khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường năng động, bền chặt và cùng có lợi, vì an ninh, thịnh vượng và ấm no của nhân dân hai nước.
6. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định các cuộc trao đổi cấp cao giữa Philippines và Việt Nam thể hiện tin cậy giữa hai nước và cam kết tăng cường quan hệ song phương, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục triển khai các chuyến thăm và tiếp xúc thường xuyên trên tất cả các kênh và các cấp, giao lưu nhân dân và kết nối doanh nghiệp, góp phần duy trì tham vấn về các vấn đề chiến lược của khu vực và toàn cầu, và tăng cường tiềm năng bổ trợ giữa định hướng phát triển của mỗi nước. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế hợp tác mới giữa cơ quan lập pháp và chính quyền địa phương hai nước thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương, chia sẻ thông tin và các thực tiễn tốt.
7. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ và triển khai thường xuyên các cơ chế đối thoại và hợp tác song phương đã được thể chế hóa ở các cấp, bao gồm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương (JCBC), Tiểu ban Thương mại Việt Nam - Philippines (JTC), các đối thoại quốc phòng và an ninh và tham vấn về các vấn đề biển và đại dương, nhằm xác định và thúc đẩy các tiềm năng bổ trợ giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo giao Bộ Ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hành động mới triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường.
8. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tầm hợp tác kinh tế giữa Philippines và Việt Nam, là hai nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, góp phần tăng cường năng lực và khả năng tự cường của mỗi quốc gia. Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ mong muốn vượt mục tiêu thương mại song phương 10 tỉ USD theo hướng cân bằng thông qua mở rộng cơ hội thương mại hai chiều, cải thiện tiếp cận thị trường và giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường các trao đổi cấp cao và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các khu vực công và tư nhân của hai nước, đồng thời hoan nghênh nỗ lực khai phá những lĩnh vực hợp tác mới như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số/bao trùm về số, quản trị số, các công nghệ mới, năng lượng, đầu tư hai chiều trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế sáng tạo và các sáng kiến kinh tế xanh. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết và hợp tác kinh tế khu vực trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nỗ lực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN bao trùm, tự cường và bền vững.
9. Nhận thức rõ vai trò thiết yếu của nông nghiệp đối với sự phát triển và nền kinh tế của mỗi nước, hai nhà lãnh đạo cam kết thúc đẩy hợp tác nông nghiệp chặt chẽ hơn thông qua nghiên cứu và phát triển chung, nâng cao năng lực, trao đổi chuyên gia và thực tiễn tốt, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, và nghiên cứu các lĩnh vực hợp tác tiềm năng trong thương mại và đầu tư, nông nghiệp, đặc biệt về gạo, thủy sản, phát triển kinh tế biển xanh bền vững, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp thông minh, quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và giải quyết các thách thức liên quan đến lương thực và nông nghiệp, với mục tiêu chuyển đổi các ngành nông nghiệp và thủy sản thành những động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nông thôn và tạo động lực cho các cộng đồng dân cư.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm và tăng cường chuỗi cung ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trước những thách thức toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi tăng cường hợp tác song phương để phòng chống các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) thông qua chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực và hợp tác quản lý nghề cá và thực thi pháp luật.
10. Hai nhà lãnh đạo nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch là một động lực tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hiểu biết văn hóa và kết nối nhân dân; cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch thông qua chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến du lịch bền vững và bao trùm, và tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi và hợp tác du lịch giữa hai nước.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác biển hiện có, bao gồm Ủy ban Hỗn hợp về các vấn đề biển và đại dương cấp Thứ trưởng, Nhóm công tác chung về các vấn đề biển và đại dương (JPWG-MOC), việc thực hiện Bản ghi nhớ về phòng ngừa và quản lý sự cố tại Biển Đông và Bản ghi nhớ về hợp tác biển giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines, đường dây nóng giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.
Hai bên cam kết xử lý các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác về nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, thủy đạc, kết nối hàng hải và bảo tồn các vùng biển quốc tế. Hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, sự an toàn, phúc lợi, quyền bình đẳng và nhân phẩm của thuyền viên.
Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền rà soát và cải thiện các chính sách và cơ chế về thị thực cho thuyền viên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh vào mỗi nước, phù hợp với luật pháp trong nước và các khuôn khổ ASEAN liên quan. Hai nhà lãnh đạo cam kết bảo đảm triển khai các cơ chế bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước.
12. Hai bên nhấn mạnh hợp tác an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc là một trong những trụ cột chính của khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí:
a. Duy trì các cuộc trao đổi cấp cao giữa ngành quốc phòng và an ninh hai nước, tăng cường đối thoại chiến lược và chính sách, chia sẻ thông tin, mở rộng hợp tác giáo dục và đào tạo, tiếp tục thể chế hóa và duy trì các cơ chế đối thoại, giao lưu giữa quân nhân các binh chủng và cơ quan hàng hải, thúc đẩy các hoạt động thăm viếng tàu và các hoạt động chung ứng phó với các vấn đề an ninh trên biển;
b. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, quân y, hậu cần quân sự, thương mại quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR), an ninh hàng hải và hàng không, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình;
c. Tăng cường trao đổi và hợp tác trong việc thúc đẩy và đề cao luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).
13. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm lừa đảo trên mạng, các hoạt động lừa đảo trực tuyến, đưa người di cư trái phép và buôn người, đánh bạc bất hợp pháp, các hoạt động tài chính bất hợp pháp, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp và xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích các cơ quan liên quan hai bên tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm của nhau trong các lĩnh vực này và thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trong các khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên cam kết phối hợp chặt chẽ để không cho phép bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để thực hiện các hoạt động tội phạm chống phá nước kia, phù hợp với luật pháp và quy định của mỗi nước.
14. Hai bên nhất trí triển khai các biện pháp sau nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
a. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên để giải quyết tình trạng di cư trái phép, buôn người và lừa đảo trực tuyến ảnh hưởng đến người dân Philippines và Việt Nam;
b. Thông qua các hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực để trao đổi thông tin và thực tiễn tốt về cơ chế phòng chống và kinh nghiệm truy tố tội phạm buôn người của mỗi bên, trong đó có thể tận dụng hợp tác với các cơ quan ASEAN liên quan như AMMTC/SOMTC và ASEANAPOL;
c. Cụ thể hóa cam kết thành các quy trình thông báo, điều tra và truy tố các băng nhóm lừa đảo và buôn người lôi kéo nạn nhân ở cả hai nước;
d. Mở rộng hợp tác về an ninh mạng và đấu tranh chống tội phạm trên không gian mạng.
15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác pháp lý và tư pháp, đồng thời tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước.
16. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân thực chất, là nền tảng vững chắc để củng cố tình hữu nghị bền vững và đoàn kết giữa nhân dân Philippines và Việt Nam, thông qua các tổ chức hữu nghị, nhóm nghị sĩ hữu nghị và hợp tác giữa các chính quyền địa phương. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch; tăng cường kết nối hàng không và hàng hải, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa phụ nữ, thanh niên và giới học giả.
17. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chương trình, hoạt động trao đổi và sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Văn hóa 2024 - 2029, nhằm thúc đẩy hợp tác và trao đổi trong các lĩnh vực như bản quyền, thư viện, phát triển hồ sơ lưu trữ, văn học, bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng, các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và liên ngành, điện ảnh và nội dung nghe nhìn...
18. Hai bên tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tại Philippines và người Philippines tại Việt Nam được sinh sống, làm việc và học tập trên cơ sở luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác lao động nhằm thúc đẩy phúc lợi và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động di cư Philippines và Việt Nam.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ thúc đẩy các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, thông qua việc triển khai đầy đủ và hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và văn kiện "ASEAN 2045: Tương lai chung của chúng ta". Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một cộng đồng tự cường và bền vững hơn. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, trong đó có Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN Brunei Darussalam - Indonesia - Malaysia - Philippines (BIMP - EAGA) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 sắp tới tại Hà Nội là diễn đàn đóng góp cho đối thoại và hợp tác khu vực trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Philippines và việc ký kết và thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về Hợp tác Hàng hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu.
20. Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ, tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong các ứng cử tại các tổ chức quốc tế và khu vực và các khuôn khổ đa phương, đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc.
21. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế. Hai bên tái khẳng định lập trường nhất quán của ASEAN về Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thúc đẩy tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định lập trường của mỗi nước về phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc các bên tự kiềm chế trong triển khai các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho đàm phán và sớm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982.
22. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận cuộc trao đổi thực chất, mang định hướng dài hạn giữa hai nước đã tạo đà tích cực cho quan hệ song phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn Tổng thống Marcos và nhân dân Philippines về sự tiếp đón nồng hậu và tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tiếp tục củng cố quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Việt Nam vào thời điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 17.6, tại Hà Nội, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khai mạc với sự tham dự của 456 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 3 triệu hội viên cựu chiến binh cả nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo đại hội. Cùng dự có nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cùng các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; anh hùng lao động thời kỳ đổi mới...
Tại đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, đã có công lao to lớn, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, nhiệm kỳ qua, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục khẳng định vị trí là tổ chức chính trị - xã hội có uy tín, là thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thẳng thắn nhìn nhận một số hạn chế, bất cập như: hoạt động của một số tổ chức hội chưa thật đồng đều; mô hình tổ chức, cơ chế phối hợp và đội ngũ cán bộ ở một số nơi còn lúng túng; công tác nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời; chất lượng giám sát, phản biện xã hội chưa đồng đều; chuyển đổi số còn chậm; việc thu hút, tập hợp cựu quân nhân, nhất là lực lượng trẻ, cần phương thức mới, thiết thực hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đại hội cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, để bước vào nhiệm kỳ mới với tư duy mới, cách làm mới và hiệu quả mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng lớn, mục tiêu cao và yêu cầu rất khẩn trương. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với Hội Cựu chiến binh Việt Nam không chỉ là làm tốt nhiệm vụ truyền thống, mà phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao chất lượng tổ chức hội; thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sự sắp xếp của MTTQ và các đoàn thể; đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội hiện đại, chuyển đổi số và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, các cấp hội phải kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, giữ vững bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy truyền thống “trung thành - đoàn kết - gương mẫu - đổi mới”; xây dựng tổ chức hội tinh gọn, thống nhất, thông suốt, hoạt động thực chất, hiệu quả, nhất là ở cơ sở.
Mỗi cán bộ, hội viên phải là tấm gương về lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; nói đi đôi với làm, sống mẫu mực, nghĩa tình, kỷ luật; tăng cường phối hợp thực chất giữa Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Cựu công an nhân dân trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từ cơ sở, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của cựu chiến binh trong xây dựng Đảng, chính quyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội từ cơ sở.
Hội cần tham gia sâu hơn, thực chất hơn vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; góp ý xây dựng chủ trương, chính sách; giám sát cán bộ, đảng viên; đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện dân chủ ở cơ sở...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cựu chiến binh, cựu quân nhân; đồng thời phát huy cựu chiến binh như một nguồn lực phát triển của đất nước.
Cạnh đó, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của hội, lấy cơ sở làm địa bàn trọng tâm, lấy chuyển đổi số làm khâu đột phá. Các cấp hội cần giảm hành chính hóa, giảm hình thức, giảm hội họp không cần thiết; tăng đối thoại, tăng nắm bắt tình hình, tăng giải quyết việc cụ thể, tăng hiệu quả thực chất.
Làm tốt hơn nữa công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; đổi mới phương thức tập hợp cựu quân nhân, nhất là lực lượng trẻ; phát huy đối ngoại nhân dân của cựu chiến binh trong củng cố hòa bình, hữu nghị, hợp tác, giải quyết hậu quả chiến tranh; chủ động tham gia tổng kết thực tiễn, hoàn thiện chính sách đối với cựu chiến binh, cựu quân nhân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ và các ban, bộ, ngành tiếp tục chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh hoạt động đúng tính chất chính trị - xã hội đặc thù, hiệu quả, thiết thực; hoàn thiện chính sách, pháp luật, nghiên cứu xây dựng luật Cựu chiến binh phù hợp yêu cầu mới; giải quyết kịp thời chế độ, chính sách, đời sống và quyền lợi chính đáng của cựu chiến binh, cựu quân nhân.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Không để thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá

Chiều 21.5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cùng một số bộ, ban, ngành liên quan về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu ở Việt Nam.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, nhìn tổng thể Việt Nam không thiếu tài nguyên, không thiếu nhu cầu.
Song, thiếu lớn nhất là công nghệ lõi, năng lực chế biến sâu, doanh nghiệp đầu đàn, hệ sinh thái nghiên cứu - thử nghiệm - kiểm định - thương mại hóa và một chiến lược tích hợp đủ mạnh để tổ chức chuỗi giá trị vật liệu quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh 5 quan điểm lớn gồm xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, chiến lược trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, cần tổ chức theo 3 tầng (vật liệu nền cần giữ vững, nâng cấp, vật liệu chiến lược cần tập trung đột phá, vật liệu tương lai cần chuẩn bị từ sớm).
Thứ ba, chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng trong nước.
Thứ tư, lấy khoa học - công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp Việt Nam làm trụ cột phát triển.
Thứ năm, phát triển công nghiệp vật liệu theo hướng xanh, bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, phù hợp cam kết quốc tế nhưng bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045, ban hành trong thời gian sớm nhất.
Chiến lược phải thể hiện tư duy dài hạn, số liệu chắc, mục tiêu rõ, lộ trình khả thi, phân công trách nhiệm rõ; phải trả lời được: phát triển nhóm vật liệu nào, vì sao lựa chọn, làm chủ đến mức nào, ở khâu nào, cơ quan nào chủ trì, doanh nghiệp nào dẫn dắt, nguồn lực ở đâu, chính sách gì cần ban hành, tiêu chí nào đánh giá kết quả.
Trên cơ sở đó, xây dựng danh mục vật liệu chiến lược quốc gia, bản đồ phụ thuộc nhập khẩu, bản đồ năng lực trong nước và danh mục nhiệm vụ, dự án trọng điểm...
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trước mắt có thể lựa chọn 5 nhóm ưu tiên gồm vật liệu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, vật liệu xây dựng thế hệ mới. Đây là những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng và cần được đánh giá kỹ trong chiến lược để lựa chọn đúng trọng tâm, đúng lộ trình, đúng cơ chế hỗ trợ.
Phải phát triển bền vững, tự chủ, có năng lực cạnh tranh quốc tế, tăng sử dụng vật liệu xanh, sạch, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, vật liệu thay thế, vật liệu tái chế, giảm phát thải.
Phải bảo đảm nguồn cung cát, đá, vật liệu san lấp, xi măng, thép cho đầu tư công, giao thông, đô thị, năng lượng và nhà ở, công bố giá kịp thời, minh bạch...
Các cấp ủy, tổ chức đảng phải lãnh đạo rà soát tiềm năng, trữ lượng, hiện trạng khai thác, công nghệ chế biến, rủi ro môi trường và khả năng hình thành chuỗi giá trị với đất hiếm, bauxite, titan, vonfram, graphit, cát trắng, đá vôi và các khoáng sản quan trọng khác.
Mục tiêu là không thất thoát tài nguyên, không xuất thô, không khai thác bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường, đồng thời không để nguồn lực nằm im vì thiếu chính sách, công nghệ hoặc phối hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, kiên trì chuyển từ khai thác tài nguyên sang chế biến sâu, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng trong nước..
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tiếp thu, hoàn thiện báo cáo trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Từ đó, tạo cơ sở để Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam.
Tin Gốc: Thanh Niên

