Đại lý vé số Nhã Linh ở TP.HCM (Bình Dương cũ) cho biết đã đổi thưởng 14 tờ vé số trúng độc đắc. Theo đó, 14 tờ có dãy số 898582 thuộc đài Tiền Giang mở thưởng xổ số miền Nam ngày 12 tháng 7 trúng độc đắc trị giá 28 tỉ đồng (chưa trừ thuế).
“14 tờ vé số may mắn nằm trong cọc vé gồm 16 tờ trúng độc đắc do chính đại lý bán ra. Trong 14 tờ chúng tôi trực tiếp đổi thưởng, có 1 người trúng 1 tờ, 1 người trúng 3 tờ và người còn lại trúng 10 tờ. Cả 3 người trúng số đều là khách quen, người mua 10 tờ trúng độc đắc cả 10 tờ, nhận thưởng bằng cả tiền mặt lẫn chuyển khoản. 2 người còn lại mua ngẫu nhiên nhiều tờ vé số có dãy khác nhau, trong đó có 4 vé trúng độc đắc”, đại lý vé số Nhã Linh chia sẻ.
Hình ảnh những tờ vé số trúng độc đắc sau khi đăng tải lên mạng xã hội thu hút sự quan tâm của mọi người. Ai nấy đều gửi lời chúc mừng đến chủ nhân, không quên “xin vía” trúng số.
Gần đây, anh Phước Danh, chủ đại lý vé số Phước Danh ở phường Trà Vinh, Vĩnh Long cho biết đã đổi thưởng 5 tờ vé số trúng độc đắc cho khách. Theo đó, 5 tờ có dãy số 913490 thuộc xổ số Kiên Giang ngày 12 tháng 7 trúng độc đắc trị giá 10 tỉ đồng (chưa trừ thuế).
“Chủ nhân của 5 tờ vé số may mắn là 3 người phụ nữ ở cùng xóm, mua từ người bán dạo gần nhà. Sau khi biết tin trúng độc đắc, họ cùng đến đại lý lãnh thường, 1 người trúng 1 vé, 2 người còn lại mỗi người trúng 2 vé. Cả xóm biết tin còn đến nhà chúc mừng, mọi người nhận tiền trúng số bằng tiền mặt”, anh Phước Danh chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cô Ba chủ trọ hay càu nhàu về cái đồng hồ điện quay tít mù. Đám sinh viên, công nhân mướn phòng thì xót xa từng ngàn bạc lẻ.
Tháng 4 năm 2009, Sài Gòn - TP.HCM đón chuyến công tác xa nhà đầu tiên của tôi bằng cái nóng hầm hập.
Giữa chảo lửa ban trưa ấy, tiếng lách cách của móng trèo sắt va vào trụ bê tông vang lên. Anh thợ điện áo cam đu mình trên cột. Nắng 39 độ C táp thẳng vào gáy, dội xuống lớp mũ bảo hộ. Mồ hôi vạch thành dòng trên mặt, ướt sũng mảng lưng áo. Anh bám lấy bó dây, cặm cụi gỡ từng mối nối. Mùi mồ hôi chua nồng quyện mùi nhựa đường. Ngoài đầu hẻm, nhịp đô thị vẫn cuồn cuộn trôi. Mặc kệ người thợ điện vắt vẻo trên cao cùng mớ dây nhợ chằng chịt.
5 năm sau, tôi trở lại. Mùi cà phê sữa đá lanh canh góc vỉa hè. Ngước lên, khung trời bỗng nhẹ bẫng. Những búi tơ vò đen kịt bốc hơi đâu mất. Chú Tư xe ôm cười khà khà: "Mấy chả điện lực dạo này mần ăn ngọt xớt. Đứt chì, chớp tắt gì, a lô tiếng là xe trờ tới. Rẹt rẹt năm mười phút lại sáng trưng".
Cuối năm 2022, tôi tham gia sự kiện trao giải cuộc thi của một tờ báo. Sài Gòn gượng dậy sau bạo bệnh. Mùi thuốc sát trùng vẫn lẩn khuất đâu đó dưới lớp khẩu trang. Đêm lạnh. Tô hủ tiếu gõ bốc khói. Chị bán hàng khơi bếp than. Ánh lửa hắt lên khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn. Chị kể về những đêm thành phố nín thở. Tiếng còi cấp cứu xé tai. Màu áo cam bị nuốt chửng dưới lớp đồ bảo hộ trắng toát, kín bưng. Thợ điện ướt sũng. Mồ hôi ứ đầy trong ủng cao su. Họ kéo lê cuộn cáp nặng trịch, rạp người trên nền đất, cắn răng làm xuyên đêm để kéo điện vào bệnh viện dã chiến.
Cuối năm 2024. Phố xá rực rỡ. Đô thị thông minh cựa mình. Đi ngang xóm trọ năm xưa, tôi khựng lại. Cô Ba giờ lụ khụ. Tay run run rà ngón tay trên màn hình điện thoại, chìa ra cái biên lai điện tử. Tiền điện nay tính đúng giá nhà nước, rót thẳng vào app sinh viên mướn phòng.
Câu chuyện cái biên lai kéo tôi lách mình sâu hơn vào một xóm trọ ở Bình Tân. Gặp chị quét rác thâm quầng mắt. Gặp anh thợ hồ quê miền Tây, tay nứt nẻ cáu bẩn nhào vữa. Chút tiền còm cõi chắt bóp hằng tháng từng bị bóp nghẹt bởi một thứ ám ảnh vô hình: Đồng hồ điện. Bốn ngàn, năm ngàn một ký điện. Dân ngụ cư chỉ biết cắn răng chịu đựng.
Rồi màu áo cam xuất hiện. Không chỉ bám trụ trên cột cao, họ luồn lách vào từng con hẻm. Gõ cửa từng nhà trọ. Kiên nhẫn hướng dẫn chủ nhà làm thủ tục, yêu cầu thu đúng giá điện nhà nước cho người nghèo. Bằng cái lý, cái tình, họ dần gỡ bỏ đi thứ định mức bóc lột tồn tại bao năm ròng rã.
Sự tận tâm của những chiến sĩ áo cam không chỉ duy trì nguồn điện thắp sáng cho phố phường, mà còn nâng đỡ và chia sẻ với bao phận người nghèo khó. Từ những chuyến xe rong bán đồ ăn đêm, đến những công tơ điện được tính đúng giá của nhà nước trong những căn phòng trọ lợp mái tôn chật hẹp.
Rời Bình Tân, tôi tấp vô quán cà phê lề đường. Góc bàn xộc xệch, ba người thợ áo cam ùa vào. Tôi chủ động bắt chuyện. Sau dăm câu làm quen, biết tôi là người làm báo, một anh thợ trạc tứ tuần tâm sự: "Làm cái nghề này, tai phải điếc một nửa chú em à. Vừa xong, cúp điện đột xuất để cắt con diều xẹt lửa trên đường dây. Dưới xóm trọ, thiên hạ ùa ra. Đù má đù cha chửi văng miểng. Nóng mà. Trẻ con khóc óe óe. Mình lơ lửng trên cao, nghe réo tên ba đời nhà mình ra chửi, ruột gan xót xa!".
Anh ngừng lại. Cầm ly đen đá tu cái ực. Yết hầu chạy lên chạy xuống.
"Rồi sao anh?" - tôi chồm người hỏi.
"Rồi điện sáng chớ sao!" - cậu trẻ tuổi ngồi cạnh cười phá lên. "Bụp một phát. Nguyên xóm sáng trưng. Tiếng quạt máy vù vù, tiếng tivi réo lên. Tiếng chửi tắt ngấm. Lúc đang thu đồ nghề, mồ hôi mẹ, mồ hôi con nhỏ ròng ròng ướt nhẹp cái lai quần. Cái bà hồi nãy chửi hăng nhất xóm bưng ra ba ly nước cam đá lạnh. Một sự bù trừ ngang phè, sòng phẳng, ngọt lịm của đất phương Nam".
Tôi ngước nhìn về phía trạm biến áp chéo góc ngã tư. Rè rè... Tiếng cánh quạt xé gió. Hình ảnh người thợ điện lấm lem đu cột năm nào không còn. Thay vào đó là màu áo cam đứng dưới đất, dán mắt vào màn hình điều khiển. Chiếc flycam gắn camera ảnh nhiệt bay vút lên, dò từng điểm nóng trên lưới điện. Chính xác. Lạnh lùng. Ánh sáng xanh hắt lên khuôn mặt người kỹ sư. Nhưng ánh mắt thì vẫn rặt một vẻ chân chất. Bắt gặp cái nhìn của tôi, anh nhoẻn miệng cười. Cái cười sảng khoái, không lẫn đi đâu được của dân lục tỉnh.
"Lớp vỏ" thành phố thay màu. Công nghệ trùm lên những trụ điện vô tri. Mạng lưới ngầm chạy tít tắp dưới lớp bê tông rải nhựa. Nói về ngành điện TP.HCM, không phải nhắc đến những thuật toán với băng tần. Ánh sáng của TP.HCM không đo bằng kilowatt giờ. Cũng chẳng có máy móc tân tiến nào đọc được vệt mồ hôi rớt xuống hẻm sâu...
Bởi ánh sáng ấy vẫn thoảng mùi mồ hôi của những người thợ mặc áo cam. Mạch máu thắp sáng thành phố này vẫn chảy bằng một nhịp đập duy nhất: sự tận hiến vô hình.
Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
27 năm mưu sinh dưới dòng rạch đen: Chuyện người đàn ông đãi bùn tìm trùn chỉ

Dưới cái nắng gay gắt của trưa hè TP.HCM, tôi đứng trên bờ rạch cạnh chân cầu Bà Lớn nhìn xuống dòng nước xám xịt. Nếu không nhìn kỹ, khó ai phát hiện ra có người đang lặn lội dưới lòng rạch sâu. Đó là anh Phạm Công Tú (45 tuổi, quê Thái Bình, hiện ở tại quận 8 cũ, TP.HCM), một người có thâm niên 27 năm trong nghề đãi bùn tìm trùn chỉ - công việc mưu sinh bằng cách lấy "lộc trời" từ sình bùn nuôi sống cả gia đình.
Quan sát anh Tú thực tế giữa dòng nước, tôi mới cảm nhận hết sự tinh tế và cả sự khốc liệt của cái nghề này. Toàn bộ cơ thể anh chìm nghỉm trong dòng nước đen, chỉ riêng phần đầu từ cổ trở lên là nhô lên khỏi mặt nước. Chiếc thau nhựa thả nổi bên cạnh được cột chặt vào người bằng một sợi dây thừng nhỏ.
Cứ vài phút, anh Tú lại cố gắng lấy một hơi thật mạnh, dùng hết lực ghì chiếc vợt chuyên dụng xuống lớp sình đặc quánh dưới đáy rạch, xúc lên lớp đất bùn lẫn lộn những con trùn chỉ đỏ tựa chân nhang. Do mực nước sâu, có những lúc sóng nước dập dềnh ngấp nghé đến vùng miệng, anh phải ngậm thật chặt môi, nén chặt hơi để nước bẩn và bùn non không tràn vào miệng. Bản năng sinh tồn và kinh nghiệm gần ba mươi năm giúp anh có những nhịp thở chuẩn xác đến nao lòng giữa dòng nước.
Nghề này, ranh giới giữa mưu sinh và tai nạn đôi khi chỉ cách nhau một lớp sình bùn. Anh Tú tâm sự, dòng rạch đô thị bây giờ ô nhiễm nặng nề, sình bẩn chôn giấu đủ thứ "bẫy ngầm". Nếu đi bãi lạ chưa kịp khảo sát, chuyện đạp phải mảnh chai, miểng sành, hay cây cọc nhọn là chuyện như cơm bữa.
Đặc biệt nguy hiểm là những khu vực gần nhà dân, nơi rác thủy tinh và xà bần bị đổ xuống vô tội vạ. Để bảo vệ mình, thợ dìm mình dưới rạch bắt buộc phải mang tất vải dày và đi giày loại bít ngón để tránh rách lòng bàn chân.
Thế nhưng, đôi bàn tay trần cào sình thì không cách nào bảo hộ được. Anh Tú giơ bàn tay chai sần, đầy những vết sẹo nhỏ chằng chịt kể về một kỷ niệm nhớ đời. Anh kể: "Có lần cào dưới sông, bị cái lưỡi câu ba ngạnh của mấy người câu cá lạc mất bám sâu vào tay. Cái giống lưỡi câu đó có ngạnh ngược, lúc đó đang hăng máu lôi kiểu gì cũng không ra, càng lôi càng rách thịt. Cuối cùng chịu không thấu, hai anh em phải dắt nhau vô bệnh viện, bác sĩ rạch thuốc tê, khoét một đường sâu hoắm mới gắp cái lưỡi câu đó ra được. Nghĩ lại tới giờ vẫn còn thốn".
Chưa kể, tai nạn nghề nghiệp đâu chỉ có sành sứ hay lưỡi câu. Ngâm mình dưới dòng nước thải độc hại ròng rã hàng chục năm, những căn bệnh về da, nấm tóc, viêm nhiễm tai mũi họng là "bạn đồng hành" bất đắc dĩ của những người thợ. Những ngày mưa gió, nước sông lạnh ngắt thấm vào da thịt, thợ đãi bùn tìm trùn chỉ phải cắn răng chịu đựng những cơn chuột rút co rút cả cơ thể giữa dòng nước sâu, nếu không bình tĩnh xử lý thì nguy cơ đuối nước luôn cận kề.
Hỏi anh Tú về những ký ức đáng nhớ nhất trong suốt 27 năm lặn ngụp, ánh mắt người đàn ông chợt chùng xuống, thoáng chút rùng mình. Anh bảo, dân làm nghề sông nước ban đêm sợ nhất là đụng phải... xác chết trôi sông.
Thời kỳ anh còn dong ghe ra mưu sinh ngoài mạn sông Sài Gòn, khu vực Lái Thiêu (Bình Dương) hay Hiệp Phước (Nhà Bè), việc chạm mặt những thi thể không toàn vẹn trôi dạt vào bãi lục bình là nỗi ám ảnh dai dẳng. "Ban ngày gặp thì còn đỡ, mình truy hô cho người dân xung quanh biết rồi báo chính quyền đến vớt. Đáng sợ nhất là những đêm đi làm con nước khuya, rạch vắng tanh không một bóng người, xung quanh tối đen như mực. Mình đang run sình, quơ tay một cái đụng trúng... xác người lạnh ngắt. Lúc đó nói thiệt là hồn xiêu phách lạc, chỉ biết cắm đầu lội lên ghe, bỏ cả bãi, bỏ cả đồ nghề mà chạy. Mấy lần đầu như vậy về mất ngủ cả tuần, bỏ ăn, ám ảnh đến mức tính bỏ nghề luôn", anh Tú bùi ngùi nhớ lại.
Nhưng rồi, áp lực mưu sinh lại kéo anh trở lại dòng nước. Riết rồi thành quen, anh bảo giờ gặp thì thương nhiều hơn sợ, trang nghiêm hỗ trợ đưa họ lên bờ để người thân tìm kiếm.
Sau hơn 2 tiếng đồng hồ lặn lội, con nước bắt đầu dâng cao, anh Tú mới chịu kết thúc buổi làm việc. Khi người đàn ông đứng lên đi ra khỏi dòng nước, đập vào mắt tôi là một cơ thể bám đầy bùn sình đen từ đầu đến chân. Anh lội bộ đến một khúc rạch có dòng chảy xiết hơn, ngâm mình xuống đó để dòng nước gột rửa đi lớp sình dơ bám chặt trên da thịt, giặt lại bộ đồ nghề, thay áo khác khô ráo rồi lững thững bước lên bờ.
Ngồi bệt xuống bãi cỏ ven chân cầu Bà Lớn, xã Bình Hưng anh Tú lôi từ trong chiếc túi chống nước ra bao thuốc. Anh châm lửa, kéo vài hơi thuốc lào thật sâu. Tiếng điếu cày rít lên sòng sọc, làn khói thuốc đặc quánh bay bảng lảng rồi tan nhanh trong gió nắng trưa hè, xua đi phần nào cái lạnh buốt của dòng nước sâu vừa thấm vào da thịt.
"Nghề này nhìn vô thấy dơ nhớp, cực khổ, người ta né tránh chứ tôi thấy bình thường. Mình làm ăn chân chính, tự đổ mồ hôi công sức để mưu sinh kiếm sống, nuôi vợ nuôi con học hành đàng hoàng chứ có xin xỏ hay làm gì phạm pháp đâu mà phải mặc cảm với đời", anh Tú quẹt ngang giọt mồ hôi trên trán, cười chất phác.
Anh Tú kể, năm 1999, anh rời quê hương Thái Bình vào Nam lập nghiệp. Ban đầu anh đi làm ghe đất, ghe cát, rồi tình cờ thấy người ta đi đãi bùn bắt trùn chỉ về cho cá cảnh ăn nên học theo. Không ngờ cái nghề "lặn ngụp trong bùn dơ" này lại gắn bó với anh suốt 27 năm qua.
Theo anh Tú, nghề đãi bùn tìm trùn chỉ không có giờ giấc cố định mà hoàn toàn phụ thuộc vào con nước. Nước cạn giờ nào thì người làm nghề phải ra rạch giờ đó, bất kể ngày hay đêm, nắng hay mưa. Dù nhọc nhằn là vậy, nhưng chính dòng nước sình bùn ấy đã nuôi sống cả gia đình anh.
Từ 2 bàn tay trắng và chiếc ghe nhỏ, anh Tú cùng vợ chắt bóp, chi tiêu tiết kiệm để nuôi hai con ăn học trưởng thành. Đến nay, con gái lớn của anh đã đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, con trai út đang học năm cuối đại học, ngành công nghệ thông tin và chuẩn bị tốt nghiệp ra trường. Cách đây 2 năm, anh chị cũng đã gom góp mua được một căn nhà nhỏ tại quận 8 cũ, TP.HCM, kết thúc những năm tháng dài đằng đẵng phải thắt lưng buộc bụng thuê phòng trọ ẩm thấp.
Mỗi ngày, anh Tú đãi được khoảng mười mấy ký trùn chỉ, thu nhập sau khi trừ chi phí còn được trên dưới 10 triệu đồng/tháng. Đối với anh, đó là thành quả của sự kiên trì, chịu thương chịu khó.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ít ai biết rằng, trong khuôn viên Thảo Cầm Viên hiện có gần 100 con mèo hoang đang sinh sống. Mèo không sống tập trung mà chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm tự thiết lập một địa phận riêng và hiếm khi xâm phạm lẫn nhau. Từ khu vực bên ngoài chuồng voi, chuồng vọc đến chuồng hươu cao cổ, gấu, đâu đâu cũng có thể bắt gặp bóng dáng của những con mèo.
Chị Nguyễn Ngọc Bích Toàn, chuyên viên Trung tâm giáo dục vườn thú cho biết dù không nằm trong danh sách các loài vật được nuôi dưỡng chính thức, đàn mèo hoang vẫn nhận được sự chăm sóc tận tình từ các nhân viên Thảo Cầm Viên. Mỗi ngày, ngoài giờ chăm sóc thú, nhân viên ở đây tự bỏ tiền túi hoặc đi xin đồ ăn từ căn tin của Thảo Cầm Viên để nuôi mèo.
Kể từ đó, đàn mèo hoang sinh sôi ngày một nhiều nên một nhóm tình nguyện gồm các nhân viên và quản lý đã được thành lập để chăm sóc sức khỏe cho đàn mèo. Khi phát hiện mèo nào bị bệnh, sổ mũi, các bác sĩ thú y sẽ kiểm tra và điều trị kịp thời, thậm chí còn triệt sản để ngăn chặn tình trạng mèo sinh sôi không kiểm soát. Những chú mèo đã triệt sản sẽ được đánh dấu bằng cách cắt tai hoặc đeo vòng cổ riêng. Điều này cũng làm giảm bớt nguy cơ lây lan dịch bệnh cho các loài thú quý hiếm.
Chị Toàn không biết chính xác mèo hoang ở Thảo Cầm Viên có từ khi nào nhưng cách đây gần 10 năm, khi chị vào làm việc đã thấy mèo sinh sống. Những chú mèo hoang ở đây rất thông minh, thích nghi tốt với môi trường sở thú.
"Mèo hoang này thường xuyên ghé thăm các chuồng voi hay linh dương để xin cỏ ăn nhằm kích thích tiêu hóa búi lông. Đặc biệt nhất là trường hợp của chú mèo cam nổi tiếng có tên Mika sống trong chuồng gấu. Chú mèo này lớn tuổi, có cả nhà riêng và biển tên ở trong chuồng gấu. Dù sống gần các loài thú dữ, đàn mèo ở đây rất hiền, không tranh giành thức ăn hay gây ảnh hưởng xấu đến các loài động vật đang được nuôi và bảo tồn", chị Toàn chia sẻ.
Một số mèo sống tại khu vực căn tin của Thảo Cầm Viên và được triệt sản
ẢNH: DẠ THẢO
Chị Toàn nói rằng giống như các động vật khác, mèo hoang ở đây cũng được các nhân viên đặt nhiều tên khác nhau để nhận dạng. Cụ thể như mèo tên: Xoài, Quýt, Phúc, Bi, Bi Béo, Bi Già, Bi Súng… Từ đó, sự có mặt của đàn mèo hoang cũng tạo nên một nét đẹp, thiện cảm thu hút du khách. Thậm chí nhiều người còn quay lại Thảo Cầm Viên chỉ để thăm và mang cho mèo những loại thực phẩm chất lượng. Một số người khác còn gửi tặng cát vệ sinh, hạt và pate để hỗ trợ công tác chăm sóc.
Tuy nhiên, số lượng mèo tại đây đang có dấu hiệu tăng nhanh do tình trạng bỏ rơi vật nuôi của nhiều người. Nếu trước đây trung bình mỗi tháng chỉ có từ 1 - 2 mèo con bị bỏ lại, thì nay con số này đã tăng tới gần 10 con mỗi tháng. Đôi lúc đơn vị chỉ ghi nhận một vài trường hợp như mèo con còn rất nhỏ, sức khỏe yếu, hoặc một chú chó con bị bỏ trong bụi cỏ, nếu không phải các anh chị công nhân viên nghe tiếng rên và đi kiếm thì có khi chúng đã không qua khỏi.
Phần lớn các trường hợp được phát hiện đều không ở trạng thái khỏe mạnh. Theo ghi nhận thực tế, khoảng 2/3 số trường hợp là các cá thể đang có dấu hiệu bệnh lý, bị thương hoặc cần được chăm sóc y tế. 1/3 còn lại chủ yếu là mới sinh chưa lâu, còn yếu và cần được chăm sóc đặc biệt.
Điều này khiến việc xử lý không chỉ dừng ở chuyện phát hiện và đưa đi nơi khác, mà còn liên quan đến yếu tố an toàn, nguy cơ lây bệnh cho các cá thể động vật quý hiếm trong công viên và áp lực chăm sóc ban đầu cho các bé.
Theo chị Toàn, việc nhiều người lén lút bỏ mèo vào Thảo Cầm Viên, thường là vào lúc đêm tối hoặc rạng sáng, khi nhân viên tan hoặc chưa vào ca làm việc. Đây không chỉ gây áp lực lên đội ngũ nhân viên vườn thú mà còn tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh cho các loài động vật quý hiếm khi mèo lạ từ nơi khác bỏ lại tại đây.
Về chức năng, Thảo Cầm Viên không phải là đơn vị tiếp nhận vật nuôi bị bỏ rơi và cũng không có chức năng chuyên trách trong công tác cứu hộ chó mèo.
Điều Thảo Cầm Viên Sài Gòn mong muốn nhất vẫn là nâng cao ý thức cộng đồng, để người dân hiểu rằng việc tự ý mang vật nuôi đến bỏ lại tại đây sẽ gây ảnh hưởng đến công tác chăm sóc các cá thể động vật quý hiếm, tiềm ẩn nhiều rủi ro dịch bệnh. Thảo Cầm Viên rất mong nhận được sự chia sẻ và đồng hành từ cộng đồng, để khuôn viên bảo tồn là nơi an toàn cho các loài động vật đang được chăm sóc tại đây.

