Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố chung giữa Philippines và Việt Nam:
1. Nhận lời mời của Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr., Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Philippines từ ngày 31.5 đến ngày 1.6.2026.
2. Ngày 1.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón và hội đàm chính thức với Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. và cùng chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác song phương. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã chủ trì buổi chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Philippines và tham dự diễn đàn doanh nghiệp.
3. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh ý nghĩa chuyến thăm, diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm triển khai hiệu quả quan hệ Đối tác chiến lược giữa Philippines và Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn và nhất trí nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược hiện nay lên Đối tác chiến lược tăng cường.
4. Trên cơ sở khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam – Philippines, hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tình hữu nghị lâu bền và hợp tác chặt chẽ giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và hợp tác quốc tế, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế và thượng tôn các nguyên tắc và nghĩa vụ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến chương ASEAN.
5. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quyết tâm phát huy những thành quả hợp tác về chính trị – an ninh, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển, mở rộng thương mại và đầu tư, hợp tác nông nghiệp, giáo dục, du lịch, giao lưu văn hóa và giao lưu nhân dân… đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy kết quả hợp tác thực chất vì lợi ích hai nước và của khu vực. Các cuộc thảo luận giữa hai lãnh đạo đã đặt nền tảng cho khuôn khổ quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường năng động, bền chặt và cùng có lợi, vì an ninh, thịnh vượng và ấm no của nhân dân hai nước.
6. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định các cuộc trao đổi cấp cao giữa Philippines và Việt Nam thể hiện tin cậy giữa hai nước và cam kết tăng cường quan hệ song phương, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo khẳng định tiếp tục triển khai các chuyến thăm và tiếp xúc thường xuyên trên tất cả các kênh và các cấp, giao lưu nhân dân và kết nối doanh nghiệp, góp phần duy trì tham vấn về các vấn đề chiến lược của khu vực và toàn cầu, và tăng cường tiềm năng bổ trợ giữa định hướng phát triển của mỗi nước. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ chế hợp tác mới giữa cơ quan lập pháp và chính quyền địa phương hai nước thông qua duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc song phương và tại các diễn đàn đa phương, chia sẻ thông tin và các thực tiễn tốt.
7. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ và triển khai thường xuyên các cơ chế đối thoại và hợp tác song phương đã được thể chế hóa ở các cấp, bao gồm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương (JCBC), Tiểu ban Thương mại Việt Nam – Philippines (JTC), các đối thoại quốc phòng và an ninh và tham vấn về các vấn đề biển và đại dương, nhằm xác định và thúc đẩy các tiềm năng bổ trợ giữa hai nước. Hai nhà lãnh đạo giao Bộ Ngoại giao hai nước phối hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch hành động mới triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường.
8. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tầm hợp tác kinh tế giữa Philippines và Việt Nam, là hai nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới, góp phần tăng cường năng lực và khả năng tự cường của mỗi quốc gia. Cả hai nhà lãnh đạo bày tỏ mong muốn vượt mục tiêu thương mại song phương 10 tỉ USD theo hướng cân bằng thông qua mở rộng cơ hội thương mại hai chiều, cải thiện tiếp cận thị trường và giảm thiểu các rào cản thương mại và đầu tư.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường các trao đổi cấp cao và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các khu vực công và tư nhân của hai nước, đồng thời hoan nghênh nỗ lực khai phá những lĩnh vực hợp tác mới như khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số/bao trùm về số, quản trị số, các công nghệ mới, năng lượng, đầu tư hai chiều trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế sáng tạo và các sáng kiến kinh tế xanh. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường liên kết và hợp tác kinh tế khu vực trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nỗ lực xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN bao trùm, tự cường và bền vững.
9. Nhận thức rõ vai trò thiết yếu của nông nghiệp đối với sự phát triển và nền kinh tế của mỗi nước, hai nhà lãnh đạo cam kết thúc đẩy hợp tác nông nghiệp chặt chẽ hơn thông qua nghiên cứu và phát triển chung, nâng cao năng lực, trao đổi chuyên gia và thực tiễn tốt, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, và nghiên cứu các lĩnh vực hợp tác tiềm năng trong thương mại và đầu tư, nông nghiệp, đặc biệt về gạo, thủy sản, phát triển kinh tế biển xanh bền vững, nông nghiệp bền vững, nông nghiệp thông minh, quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thương mại nông nghiệp và giải quyết các thách thức liên quan đến lương thực và nông nghiệp, với mục tiêu chuyển đổi các ngành nông nghiệp và thủy sản thành những động lực tăng trưởng mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nông thôn và tạo động lực cho các cộng đồng dân cư.
Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng lực chế biến thực phẩm và tăng cường chuỗi cung ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững trước những thách thức toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi tăng cường hợp tác song phương để phòng chống các hoạt động khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) thông qua chia sẻ thông tin, nâng cao năng lực và hợp tác quản lý nghề cá và thực thi pháp luật.
10. Hai nhà lãnh đạo nhận thức rõ vai trò quan trọng của du lịch là một động lực tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hiểu biết văn hóa và kết nối nhân dân; cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác phát triển du lịch thông qua chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy các sáng kiến du lịch bền vững và bao trùm, và tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi và hợp tác du lịch giữa hai nước.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường các cơ chế hợp tác biển hiện có, bao gồm Ủy ban Hỗn hợp về các vấn đề biển và đại dương cấp Thứ trưởng, Nhóm công tác chung về các vấn đề biển và đại dương (JPWG-MOC), việc thực hiện Bản ghi nhớ về phòng ngừa và quản lý sự cố tại Biển Đông và Bản ghi nhớ về hợp tác biển giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines, đường dây nóng giữa cơ quan cảnh sát biển hai nước.
Hai bên cam kết xử lý các vấn đề trên biển bằng các biện pháp hòa bình, hữu nghị, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác về nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, thủy đạc, kết nối hàng hải và bảo tồn các vùng biển quốc tế. Hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, sự an toàn, phúc lợi, quyền bình đẳng và nhân phẩm của thuyền viên.
Hai nhà lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền rà soát và cải thiện các chính sách và cơ chế về thị thực cho thuyền viên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập cảnh vào mỗi nước, phù hợp với luật pháp trong nước và các khuôn khổ ASEAN liên quan. Hai nhà lãnh đạo cam kết bảo đảm triển khai các cơ chế bảo đảm an toàn và an ninh cho ngư dân hai nước.
12. Hai bên nhấn mạnh hợp tác an ninh và quốc phòng ngày càng vững chắc là một trong những trụ cột chính của khuôn khổ Đối tác chiến lược tăng cường. Trên cơ sở đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí:
a. Duy trì các cuộc trao đổi cấp cao giữa ngành quốc phòng và an ninh hai nước, tăng cường đối thoại chiến lược và chính sách, chia sẻ thông tin, mở rộng hợp tác giáo dục và đào tạo, tiếp tục thể chế hóa và duy trì các cơ chế đối thoại, giao lưu giữa quân nhân các binh chủng và cơ quan hàng hải, thúc đẩy các hoạt động thăm viếng tàu và các hoạt động chung ứng phó với các vấn đề an ninh trên biển;
b. Mở rộng hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, quân y, hậu cần quân sự, thương mại quốc phòng, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR), an ninh hàng hải và hàng không, chống khủng bố và gìn giữ hòa bình;
c. Tăng cường trao đổi và hợp tác trong việc thúc đẩy và đề cao luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS).
13. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác thực thi pháp luật nhằm phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, bao gồm lừa đảo trên mạng, các hoạt động lừa đảo trực tuyến, đưa người di cư trái phép và buôn người, đánh bạc bất hợp pháp, các hoạt động tài chính bất hợp pháp, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp và xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Hai nhà lãnh đạo khuyến khích các cơ quan liên quan hai bên tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm của nhau trong các lĩnh vực này và thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trong các khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên cam kết phối hợp chặt chẽ để không cho phép bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này để thực hiện các hoạt động tội phạm chống phá nước kia, phù hợp với luật pháp và quy định của mỗi nước.
14. Hai bên nhất trí triển khai các biện pháp sau nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia:
a. Thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên để giải quyết tình trạng di cư trái phép, buôn người và lừa đảo trực tuyến ảnh hưởng đến người dân Philippines và Việt Nam;
b. Thông qua các hoạt động đào tạo và nâng cao năng lực để trao đổi thông tin và thực tiễn tốt về cơ chế phòng chống và kinh nghiệm truy tố tội phạm buôn người của mỗi bên, trong đó có thể tận dụng hợp tác với các cơ quan ASEAN liên quan như AMMTC/SOMTC và ASEANAPOL;
c. Cụ thể hóa cam kết thành các quy trình thông báo, điều tra và truy tố các băng nhóm lừa đảo và buôn người lôi kéo nạn nhân ở cả hai nước;
d. Mở rộng hợp tác về an ninh mạng và đấu tranh chống tội phạm trên không gian mạng.
15. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác pháp lý và tư pháp, đồng thời tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong quá trình đàm phán Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa hai nước.
16. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu nhân dân thực chất, là nền tảng vững chắc để củng cố tình hữu nghị bền vững và đoàn kết giữa nhân dân Philippines và Việt Nam, thông qua các tổ chức hữu nghị, nhóm nghị sĩ hữu nghị và hợp tác giữa các chính quyền địa phương. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, thể thao và du lịch; tăng cường kết nối hàng không và hàng hải, góp phần thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau và gắn kết giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa phụ nữ, thanh niên và giới học giả.
17. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì các chương trình, hoạt động trao đổi và sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Văn hóa 2024 – 2029, nhằm thúc đẩy hợp tác và trao đổi trong các lĩnh vực như bản quyền, thư viện, phát triển hồ sơ lưu trữ, văn học, bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng, các ngành công nghiệp sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn và liên ngành, điện ảnh và nội dung nghe nhìn…
18. Hai bên tái khẳng định cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam tại Philippines và người Philippines tại Việt Nam được sinh sống, làm việc và học tập trên cơ sở luật pháp của mỗi nước và thông lệ quốc tế. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác lao động nhằm thúc đẩy phúc lợi và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động di cư Philippines và Việt Nam.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ thúc đẩy các nỗ lực xây dựng Cộng đồng ASEAN, đặc biệt trong năm Philippines đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN 2026, thông qua việc triển khai đầy đủ và hiệu quả Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và văn kiện “ASEAN 2045: Tương lai chung của chúng ta”. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN và xây dựng một cộng đồng tự cường và bền vững hơn. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự kết nối giữa các cơ chế hợp tác tiểu vùng, trong đó có Khu vực Tăng trưởng Đông ASEAN Brunei Darussalam – Indonesia – Malaysia – Philippines (BIMP – EAGA) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 sắp tới tại Hà Nội là diễn đàn đóng góp cho đối thoại và hợp tác khu vực trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Philippines và việc ký kết và thông qua Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về Hợp tác Hàng hải tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu.
20. Hai nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ, tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong các ứng cử tại các tổ chức quốc tế và khu vực và các khuôn khổ đa phương, đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc.
21. Hai nhà lãnh đạo trao đổi về tình hình khu vực và quốc tế. Hai bên tái khẳng định lập trường nhất quán của ASEAN về Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thúc đẩy tôn trọng đầy đủ các tiến trình pháp lý và ngoại giao, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định lập trường của mỗi nước về phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về Biển Đông. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc các bên tự kiềm chế trong triển khai các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc, duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho đàm phán và sớm đạt được một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982.
22. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận cuộc trao đổi thực chất, mang định hướng dài hạn giữa hai nước đã tạo đà tích cực cho quan hệ song phương. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chân thành cảm ơn Tổng thống Marcos và nhân dân Philippines về sự tiếp đón nồng hậu và tái khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc tiếp tục củng cố quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường với Philippines. Tổng thống Ferdinand R. Marcos Jr. đã nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Việt Nam vào thời điểm thuận tiện cho cả hai bên.
Phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố, ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng đầy xúc động của tình cảm mà nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì." Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Chia sẻ về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới. Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ, với những kết quả đã đạt được Việt Nam không tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển: kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh; phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển, đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế; lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống nhân dân; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ, khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn. Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka. Điều Việt Nam mong muốn chia sẻ là hành trình đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, Việt Nam mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn. Vui mừng thông báo với Quốc hội và nhân dân Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Đề xuất một số hướng hợp tác lớn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tới tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện. Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của đảng, nhà nước, chính phủ, quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương. Việt Nam mong muốn hai quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Hai nước cần tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương; khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại. Các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hoá các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ cần đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn; phát triển các động lực hợp tác mới gồm kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh; tăng cường giáo dục, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình do đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập vì đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển bởi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng rằng, với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, Việt Nam và Sri Lanka có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Tại cuộc hội kiến, Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn đánh giá cao vai trò, vị thế ngày càng tăng của Thổ Nhĩ Kỳ tại các diễn đàn đa phương, trong trung gian hòa giải tại khu vực; khẳng định VN coi trọng thúc đẩy quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ. Nhân dịp này, Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn trân trọng chuyển lời thăm hỏi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tới Tổng thống Recep Tayyip Erdogan, Chủ tịch QH Numan Kurtulmus và các nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ.
Chủ tịch QH Thổ Nhĩ Kỳ chúc mừng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các lãnh đạo VN vừa được QH VN bầu giữ các vị trí quan trọng. Đánh giá cao kết quả cuộc hội kiến của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ với Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn và nhắc lại kết quả chuyến thăm của Phó chủ tịch QH Nguyễn Đức Hải tới Thổ Nhĩ Kỳ, Chủ tịch QH Thổ Nhĩ Kỳ khẳng định VN là đối tác quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ tại Đông Nam Á, mong muốn thúc đẩy đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới.
Chủ tịch QH Numan Kurtulmus cảm ơn sự tham dự của Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn tại IPU-152, bày tỏ ấn tượng với phát biểu của Trưởng đoàn VN tại hội nghị, thể hiện sự chủ động, trách nhiệm, vai trò của VN đối với các vấn đề quốc tế, đóng góp quan trọng vào thành công chung của hội nghị.
Đánh giá hợp tác kinh tế VN - Thổ Nhĩ Kỳ là điểm sáng trong quan hệ hai nước, Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn thông tin về kết quả tích cực của cuộc hội kiến Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ và Tọa đàm doanh nghiệp hai nước. Chủ tịch QH đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường mở cửa thị trường, xem xét sớm ký kết hiệp định thương mại tự do theo hướng bền vững và cân bằng, tạo điều kiện cho hàng hóa thế mạnh hai nước, đồng thời hạn chế các rào cản thương mại.
Hai Chủ tịch QH nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai QH, tăng cường trao đổi đoàn các cấp; thường xuyên giao lưu, tiếp xúc giữa nhóm nghị sĩ hữu nghị hai nước; chia sẻ kinh nghiệm lập pháp và giám sát, xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi cho hợp tác song phương, qua đó góp phần củng cố, làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa VN - Thổ Nhĩ Kỳ.
Về hợp tác đa phương, hai Chủ tịch QH nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn nghị viện cũng như các diễn đàn/tổ chức đa phương mà cả hai là thành viên, tăng cường chia sẻ quan điểm, ủng hộ các ứng cử của nhau, đặc biệt tại LHQ và các diễn đàn, tổ chức liên quan.
Nhân dịp này, Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn trân trọng mời Chủ tịch QH Thổ Nhĩ Kỳ thăm VN. Chủ tịch QH Thổ Nhĩ Kỳ vui vẻ nhận lời và cho biết sẽ thu xếp vào thời gian thích hợp.
Cũng trong sáng 17.4 (giờ địa phương), Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn đã có cuộc gặp với Tổng thư ký IPU Martin Chungong. Tại cuộc gặp, Chủ tịch QH đánh giá cao vai trò của IPU và những đóng góp quan trọng của Tổng thư ký trong việc thúc đẩy hợp tác giữa các nghị viện trên thế giới, qua đó góp phần tăng cường quan hệ hợp tác giữa IPU và QH VN. Chủ tịch QH đề nghị IPU tiếp tục hỗ trợ QH VN nâng cao năng lực lập pháp và giám sát; tạo điều kiện để QH VN tham gia sâu hơn vào các cơ chế, diễn đàn chuyên môn của IPU cũng như đăng cai các sự kiện quốc tế và khu vực của IPU trong tương lai.
Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn cũng có các cuộc hội kiến với Chủ tịch Thượng viện Bỉ Vincent Blondel, hội kiến Chủ tịch Hội đồng Liên bang Nga Valentina Matviyenko, tiếp Phó chủ tịch Quốc hội Lào Sounthone Xayachack trong sáng 17.4. Trước đó, chiều 16.4 (giờ địa phương), Chủ tịch QH Trần Thanh Mẫn đã gặp Chủ tịch Hạ viện Kazakhstan Yerlan Koshanov và Chủ tịch QH Bờ Biển Ngà Patrick Achi.
Thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc lại, cách đây đúng 5 năm, ngày 5.4.2021, ông được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ và ngày 6.4.2021, Chính phủ được kiện toàn.
Trong 5 năm qua, tình hình có thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng nhìn chung thách thức, khó khăn nhiều hơn là thời cơ và thuận lợi. Theo Thủ tướng, dù phải vượt qua nhiều "cơn gió ngược", nhưng con thuyền kinh tế - xã hội của đất nước chúng ta đã cập bến an toàn, cơ bản đạt được các mục tiêu đã đề ra như đánh giá của Trung ương, Quốc hội và các cơ quan.
Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất đến Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, các lãnh đạo chủ chốt, các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, đơn vị, địa phương và toàn thể nhân dân; các cơ quan báo chí, nhà báo, phóng viên luôn sát cánh, chia sẻ ngọt bùi cùng với Chính phủ, các thành viên Chính phủ trong những lúc khó khăn, gian khổ và thách thức.
Thủ tướng gửi lời tri ân đến cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đồng hành cùng với Chính phủ trong những năm vừa qua; cảm ơn bạn bè, đối tác quốc tế về sự giúp đỡ rất hiệu quả đối với Việt Nam trong những lúc khó khăn về vắc xin, xăng dầu…
Đặc biệt, Thủ tướng gửi lời tri ân, cảm ơn đến tất cả nhân dân cả nước đã chia sẻ, giúp đỡ, ủng hộ Chính phủ trong suốt 5 năm vừa qua và trong suốt quá trình trưởng thành, lớn mạnh của Chính phủ trong hơn 80 năm từ khi thành lập đến nay.
Thủ tướng cũng cảm ơn những đóng góp và chúc mừng 5 cơ quan trước đây thuộc Chính phủ vừa được chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mong muốn và tin tưởng các cơ quan sẽ tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Thủ tướng tin tưởng và hy vọng, Chính phủ mới của nhiệm kỳ tới sẽ tiếp tục kế thừa, tôn trọng, phát huy truyền thống tốt đẹp của Chính phủ qua các thời kỳ, khắc phục những hạn chế, bất cập để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, với tinh thần kết quả của năm sau, của nhiệm kỳ sau phải cao hơn năm trước, nhiệm kỳ trước.
Về các nhiệm vụ thời gian tới, người đứng đầu Chính phủ cũng khẳng định kiên định mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo thế, tạo lực, tạo đà cho cả năm 2026 và những năm tiếp theo.
Theo đó, thúc đẩy quyết liệt đầu tư công, bảo đảm giải ngân 100%. Khẩn trương phê duyệt, triển khai các chương trình, dự án khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; kiên quyết không để tình trạng đã bố trí vốn mà không triển khai thực hiện.
Đẩy nhanh khởi công, xây dựng các dự án thành phần 2, 3 các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc. Tập trung giải quyết vướng mắc pháp lý các dự án tồn đọng kéo dài, góp phần giải phóng nguồn lực, không để tiếp tục lãng phí.
Về quản lý thị trường, giá cả, Bộ Tài chính, Bộ Công thương và các bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện nghiêm các quy định về kê khai, niêm yết giá; xử lý nghiêm vi phạm; đẩy mạnh đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh khó khăn, thách thức là cơ hội để chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tái cấu trúc nền kinh tế bền vững, tiết kiệm xăng dầu, năng lượng, thúc đẩy triển khai điện mặt trời áp mái, xử lý các dự án tồn đọng kéo dài, dự án điện hạt nhân…
Tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cả trước mắt và lâu dài, nhất là bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt. Hoàn thành hồ sơ trình Chính phủ trong ngày 5.4 để trình Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định liên Chính phủ Việt Nam - Liên bang Nga về xây dựng nhà máy điện hạt nhân.