Sáng 3/7, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức họp báo công bố số liệu kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026. Theo đó, sản xuất công nghiệp trong quý II/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,3% và ngành khai khoáng tăng 7,0%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%).
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.
Trong đó, chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 21,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 17,7%; Sản xuất đồ uống tăng 15,4%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,9%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 14,8%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,9%…
Xét về địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Cụ thể, Quảng Ninh tăng 37,8%; Hà Tĩnh tăng 30,7%; Ninh Bình tăng 27,7%; Phú Thọ tăng 25,8%; Nghệ An tăng 25%; Thái Nguyên tăng 20,3%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hà Tĩnh tăng 48,3%; Phú Thọ tăng 18,3%; Điện Biên tăng 15,6%.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm. Cụ thể, Lạng Sơn tăng 1%; Lai Châu giảm 1,7%.
Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện 6 tháng đầu năm 2026 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Đà Nẵng tăng 4%; Cần Thơ giảm 1,3%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm: Đà Nẵng giảm 54,5%; Cần Thơ giảm 49,1%; Tuyên Quang giảm 10,8%; Gia Lai giảm 2,2%.
Trong quý II, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 32,9%; ô tô tăng 26,9%; thép cán tăng 23,3%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; đường kính tăng 16,8%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14%; dầu mỏ thô khai thác tăng 13,1%.
Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).
Cùng với đó, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2026 ước tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỉ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).
Tại báo cáo, Cục Thống kê cũng cho biết số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/6/2026 tăng 1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không đổi và tăng 1,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,5% và tăng 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,3% và tăng 3,1%.
Theo Nghị định 252/2026 của Chính phủ vừa ban hành quy định chi tiết một số điều hướng dẫn thi hành luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1.7, cơ quan quản lý thuế công khai thông tin về người nộp thuế thuộc một số trường hợp.
Cụ thể, khi người nộp thuế thực hiện các hành vi như trốn thuế, khoản thu khác, chây ì không nộp thuế, khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt đúng thời hạn; quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế và các khoản thu khác, tiền chậm nộp, tiền phạt hoặc hết thời hạn chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành; người nộp thuế thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân khác.
Các trường hợp khác sẽ bị công khai thông tin là người nộp thuế không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định như từ chối không cung cấp thông tin tài liệu cho cơ quan quản lý thuế; không chấp hành quyết định kiểm tra và các yêu cầu khác của cơ quan quản lý thuế theo quy định; không thực hiện yêu cầu giải trình của cơ quan thuế về rủi ro hóa đơn theo cảnh báo từ hệ thống ứng dụng hóa đơn điện tử của cơ quan thuế; chống, ngăn cản công chức thuế, công chức hải quan thi hành công vụ ; cá nhân, tổ chức không chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà có hành vi phát tán tài sản; Người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; người nộp thuế ngừng hoạt động, chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; người nộp thuế tạm ngừng kinh doanh; Các thông tin khác được công khai theo quy định của pháp luật.
Nghị định cũng nêu rõ, cơ quan thuế sẽ công khai mã số thuế, tên người nộp thuế, địa chỉ, lý do công khai. Tùy theo từng trường hợp cụ thể cơ quan quản lý thuế có thể công khai chi tiết thêm một số thông tin có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ thuế hoặc trực tiếp đến người nộp thuế để phục vụ công tác quản lý thuế. Trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, căn cứ dữ liệu quản lý thuế và thông tin do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, cơ quan quản lý thuế được công khai thông tin về chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh bao gồm: họ và tên và 4 ký tự cuối của số định danh cá nhân (số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu) và che, mã hóa các ký tự còn lại;
Việc công khai thông tin được thực hiện bắt buộc trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thuế các cấp. Đối với trường hợp công khai thông tin của người nộp thuế không thực hiện yêu cầu giải trình của cơ quan thuế về rủi ro hóa đơn theo cảnh báo từ hệ thống ứng dụng hóa đơn điện tử của cơ quan thuế, hệ thống thông tin quản lý thuế tự động gửi thông tin cảnh báo đến người mua.
Song song, căn cứ vào điều kiện thực tế, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế hoặc cơ quan quản lý thuế nơi quản lý khoản thu ngân sách nhà nước quyết định áp dụng bổ sung một hoặc một số hình thức sau: công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết tại trụ sở cơ quan quản lý thuế; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan quản lý thuế các cấp theo quy định; các hình thức công khai khác theo các quy định có liên quan.
Trước khi công khai thông tin người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế phải thực hiện rà soát, đối chiếu để đảm bảo tính chính xác thông tin công khai. Thủ trường cơ quan quản lý thuế chịu trách nhiệm tính chính xác của thông tin công khai. Trường hợp thông tin công khai không chính xác, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế thực hiện đính chính thông tin và phải công khai nội dung đã đính chính theo hình thức công khai quy định...
CTCP Lương thực A An (HoSE: AAN) vừa có văn bản giải trình về diễn biến tăng giá mạnh của cổ phiếu AAN sau khi mã này ghi nhận 5 phiên tăng trần liên tiếp kể từ ngày niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HoSE).
Theo doanh nghiệp, cổ phiếu AAN chính thức giao dịch trên HoSE từ ngày 22/5/2026 và nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư. Trong những phiên vừa qua, khối lượng dư mua thường xuyên ở mức cao, vượt đáng kể lượng dư bán, qua đó tác động đến diễn biến tăng trần của cổ phiếu từ ngày 22/5 đến 28/5.
Lương thực A An cho biết biến động giá cổ phiếu là kết quả từ diễn biến cung cầu khách quan trên thị trường và nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp. Công ty khẳng định không có bất kỳ tác động nào ảnh hưởng trực tiếp đến giá giao dịch cổ phiếu AAN.
Doanh nghiệp đồng thời cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh hiện vẫn diễn ra bình thường theo kế hoạch đã được thông qua. Công ty không phát sinh sự kiện bất thường nào có ảnh hưởng trọng yếu đến hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính hoặc giá cổ phiếu mà chưa được công bố theo quy định.
Lương thực A An cho biết luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin và sẽ tiếp tục cập nhật kịp thời các thông tin có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cũng như quyền lợi cổ đông.
Động thái giải trình diễn ra sau khi HoSE có công văn yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin bất thường liên quan đến việc cổ phiếu AAN tăng trần liên tiếp trong 5 phiên giao dịch từ ngày 22/5 đến 28/5/2026.
Theo dữ liệu từ HoSE, sau chuỗi tăng kịch biên độ, thị giá AAN đã tăng hơn 56%, từ mức tham chiếu 15.000 đồng/cổ phiếu lên 23.450 đồng/cổ phiếu.
Riêng trong phiên chào sàn ngày 22/5, mã này tăng hết biên độ 20% lên 18.000 đồng/cổ phiếu. Đà tăng liên tiếp đã đưa vốn hóa thị trường của doanh nghiệp vượt mốc 1.500 tỷ đồng.
Tuy nhiên, ngay sau khi xuất hiện yêu cầu giải trình từ HoSE, cổ phiếu AAN đã chấm dứt chuỗi tăng trần. Kết phiên 29/5, mã này tăng nhẹ 0,21% lên 23.500 đồng/cổ phiếu với khối lượng giao dịch hơn 629.000 đơn vị.
CTCP Lương thực A An được thành lập vào tháng 1/2021, phát triển từ mảng kinh doanh cốt lõi của Tập đoàn Tân Long.
Sau đợt chào bán 30 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu cuối năm 2025, doanh nghiệp nâng vốn điều lệ lên 650 tỷ đồng.
Hiện CTCP Siba Holding là cổ đông lớn nhất, nắm giữ 52,14% vốn điều lệ, trong khi ông Trương Mạnh Linh - Phó Chủ tịch HĐQT thường trực điều hành sở hữu 2,14% vốn.
Doanh nghiệp đang vận hành 3 nhà máy chế biến gạo tại An Giang và Tiền Giang với tổng công suất sấy hơn 4.000 tấn/ngày. Sản phẩm được phân phối trong nước dưới thương hiệu gạo A An và xuất khẩu sang hơn 10 quốc gia.
Thực tế những năm qua cho thấy, việc di dời nhà trên và ven kênh rạch chậm dần theo thời gian. Cụ thể, giai đoạn 1993 - 2000 TP di dời được 9.266 căn, giai đoạn 2001 - 2005 di dời 15.548 căn, giai đoạn 2006 - 2010 di dời 7.542 căn, giai đoạn 2011 - 2015 di dời 3.350 căn và giai đoạn 2016 - 2020 di dời được 2.479 căn. Nổi bật nhất là dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, Tân Hóa - Lò Gốm, rạch Xuyên Tâm, kênh Đôi… Song những năm gần đây, số lượng nhà di dời được cũng rất ít ỏi. Sở dĩ có tình trạng này bởi trước đây các dự án di dời, cải tạo nhà ở trên và ven kênh rạch được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách, sau đó sử dụng hình thức hợp tác công - tư (PPP). Tuy nhiên, hiện nay vốn ngân sách hạn chế, doanh nghiệp cũng không mặn mà tham gia khiến chương trình loay hoay mãi nhưng vẫn chưa tìm được lối ra.
Mới đây Chủ tịch UBND TP.HCM đã ký Chỉ thị số 45 khẩn trương triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, trọng tâm để thực hiện các kết luận của Trung ương, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2026. Trong đó có thực hiện cụ thể theo ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là đẩy mạnh các giải pháp giảm ùn tắc giao thông, tổ chức lại giao thông, phát triển vận tải hành khách công cộng, thực hiện chính sách miễn phí xe buýt để giảm phương tiện cá nhân; xử lý các điểm ngập trọng điểm, hoàn thiện hệ thống thoát nước, kiểm soát triều. Đồng thời khẩn trương rà soát, xây dựng lộ trình di dời nhà trên và ven kênh rạch, điều chỉnh chỉ tiêu di dời từ 20.000 lên 40.000 căn, gắn với chỉnh trang đô thị và cải thiện môi trường.
Để thực hiện mục tiêu trên, hiện Sở Xây dựng đã tổng hợp danh mục 349 tuyến sông, kênh, rạch cần tiếp tục thực hiện công tác di dời nhà ở trên và ven kênh rạch trên địa bàn TP.HCM trước khi sáp nhập hành chính. Các tuyến này trải rộng tại nhiều khu vực nội thành và vùng ven là nơi vẫn còn tồn tại dày đặc các cụm nhà ở tự phát ven kênh, ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi trường và hệ thống tiêu thoát nước đô thị.
Các địa phương được yêu cầu rà soát toàn bộ danh mục 349 tuyến kênh rạch, cập nhật phương án tuyến dự án trên hệ thống bản đồ số, đồng thời đề xuất danh mục dự án cải tạo, chỉnh trang và di dời nhà ở. Cùng với đó lập dự kiến tổng mức đầu tư, chi phí bồi thường, tái định cư, chi phí xây lắp và sắp xếp dự án theo thứ tự ưu tiên đầu tư. Mục tiêu lần này không chỉ hướng đến xử lý các khu nhà ven kênh xuống cấp mà còn gắn với mục tiêu tái cấu trúc không gian đô thị. Bởi những năm qua, tình trạng nhà ở lấn chiếm ven sông, kênh rạch đã trở thành một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và cản trở khả năng tiêu thoát nước của TP.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện kinh tế Tài nguyên và môi trường TP.HCM, nhận xét đa số là nhà không giấy tờ và là nhà nhỏ nên việc di dời, giải tỏa rất khó khăn. Đây là nguyên nhân chính khiến đề án ngày càng chậm. Do đó, để hoàn thành mục tiêu TP đề ra, cần phân loại nhà có giấy tờ, nhà không có giấy tờ, nhà có số nhà, có tạm trú tạm vắng để có chính sách bồi thường hay hỗ trợ phù hợp. Đối với trường hợp nhà không có giấy tờ, cần có chính sách hỗ trợ bằng 70% giá bồi thường mới khuyến khích được người dân di dời.
Về nguồn vốn, theo ông Thuận, hiện nay ngân sách đang khó vì phải tập trung cho nhiều dự án trọng điểm khác nhau. Dù vậy TP.HCM đang có thuận lợi là Nghị quyết số 260/2025 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 98/2023 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM đã được ban hành. TP có thể tận dụng cơ chế này để đề xuất nguồn vốn thực hiện dự án. Đây là hướng đi mới nhằm mở rộng khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa cho các chương trình chỉnh trang đô thị quy mô lớn. Trong đó TP đã có kế hoạch triển khai 40 dự án bằng vốn ngân sách và 4 dự án vốn xã hội hóa, với số lượng di dời trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 khoảng 23.429 căn nhà. Trong đó Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM thực hiện 38/44 dự án.
"Nghị quyết của Quốc hội cho phép HĐND TP.HCM quyết định sử dụng ngân sách địa phương để triển khai dự án đầu tư công độc lập nhằm thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. TP cũng được phép tạo quỹ đất để đấu giá để thu hồi vốn thực hiện các dự án đầu tư phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ. Đối với các dự án cải tạo, di dời nhà trên sông, nhà ven sông, nhà trên và ven kênh rạch có quy mô vốn đầu tư từ 6.000 tỉ đồng trở lên sẽ được đưa vào danh mục ưu tiên và chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược. Đây là cơ hội rất lớn để TP.HCM bứt tốc kế hoạch di dời nhà trên và ven kênh rạch", TS Phạm Viết Thuận kỳ vọng.
Trong khi đó theo bà Châu Mỹ Anh (Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM), trong hơn 300 năm hình thành và phát triển, hình ảnh các ngôi nhà ven, trên bờ sông, kênh rạch đã trở thành ký ức quen thuộc trong người dân TP. Hình ảnh trên bến dưới thuyền với các con thuyền chở hàng hóa từ khắp nơi về buôn bán tấp nập cũng in sâu vào hồn cốt đô thị.
Chính vì vậy bà Châu Mỹ Anh đề xuất áp dụng mô hình từ Thái Lan là không tiến hành cưỡng chế, giải phóng mặt bằng mà quy hoạch thành các khu chợ nổi. Điều này vừa giúp chỉnh trang đô thị vừa tạo được sinh kế cho người dân cũng như thu hút được du khách quốc tế. Trước mắt do chưa có nguồn lực thì cần tập trung vào từng dự án, địa bàn trọng tâm, tránh đầu tư dàn trải. Đồng thời có đánh giá từng tiêu chí phù hợp về nguồn lực tài chính và con người; hoàn thiện các chính sách, cơ chế đặc thù khuyến khích xã hội hóa nguồn vốn; tăng cường tiếp cận các nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng, các định chế tài chính quốc tế như vốn ODA, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Hiệp hội Phát triển quốc tế (IDA)...