Nhiều người vẫn cho rằng có vài căn nhà cho thuê là có thể sống nhàn, mỗi tháng chỉ việc ngồi nhận tiền. Nhưng thực tế, tài sản chỉ mang lại sự thảnh thơi khi dòng tiền vẫn đều đặn. Một khi dòng tiền bị gãy, khách trả mặt bằng, áp lực cũng sẽ xuất hiện như đi làm công ăn lương.
Cách đây gần chục năm, tôi và một người bạn có hai lựa chọn rất khác nhau.
Tôi tiếp tục đi làm, tích cóp từng đồng rồi vay ngân hàng mua nhà sống riêng. Cuộc sống khi đó khá áp lực khi mỗi ngày đối mặt với tiền nhà, tiền nuôi con, tiền trả nợ khiến hai vợ chồng lúc nào cũng phải tính toán. Có thời điểm tôi làm thêm ngoài giờ chỉ để không bị chậm kỳ trả ngân hàng.
Bạn tôi thì khác, gia đình có sẵn vài căn nhà mặt tiền ở ngoại ô. Sau khi lập gia đình, bạn không còn đi làm công ty mà chủ yếu quản lý việc cho thuê mặt bằng. Hai căn nhà cho thuê mang về khoản thu nhập đủ để cả gia đình chi tiêu, chưa kể một mặt bằng hai mặt tiền cho thuê làm quán cà phê sân vườn.
Thời gian còn lại, bạn cà phê với bạn bè, chăm vườn cây, đi rong chơi bằng môtô. Cuộc sống càng sung túc hơn khi đô thị hóa lan rộng ra ngoại ô, với cơn khát thuê mặt bằng lúc ấy, giá bao nhiêu cũng có người hỏi thuê.
Mọi thứ bắt đầu thay đổi khi kinh tế thay đổi. Hai người thuê lần lượt trả mặt bằng vì không đủ doanh thu để duy trì cửa hàng. Suốt nhiều tháng, hai căn nhà vẫn treo biển cho thuê nhưng rất ít người hỏi.
Khoản thu nhập vốn là nguồn sống chính của gia đình gần như biến mất. Trong khi đó, chi phí thì không giảm. Hai con ngày một lớn, học thêm, học phí, sinh hoạt đều tăng.
Bạn tôi buộc phải tìm thêm việc để có thu nhập. Người từng có rất nhiều thời gian rảnh giờ cũng tất bật từ sáng đến tối nhưng bận đầu óc suy nghĩ nên làm gì.
Khi còn trẻ, tôi cũng từng nghĩ người có nhà cho thuê là sướng, còn mình thì khổ vì tháng nào cũng còng lưng trả nợ. Nhưng sau nhiều năm, mỗi người lại có một nỗi lo khác nhau.
Người đi làm phụ thuộc vào công việc. Người kinh doanh phụ thuộc vào khách hàng. Người có tài sản cho thuê lại phụ thuộc vào thị trường. Chỉ cần có biến động thì ai cũng áp lực như ai.
Ông bạn tôi thú nhận sai lầm khi sống nhờ tài sản cho thuê ngần ấy năm qua. Lẽ ra, đó phải là kênh để phòng thủ, điều quan trọng đi kèm là nguồn thu có đủ đa dạng hay không. Nếu chỉ dựa vào một nguồn thu nhập, không tốn công sức nhiều nên ăn xài cũng nhiều, khi bị tách khỏi điều kiện ấy, cuộc sống trở nên rất hoang mang.
Gia đình tôi vừa trở về từ chuyến du lịch với nhiều kỷ niệm đẹp. Nhưng câu chuyện "5 kg cua gạch" mua về làm quà lại khiến chúng tôi băn khoăn mãi đến giờ.
Trước khi kết thúc chuyến đi, chúng tôi ghé một cửa hàng hải sản khá đông khách để mua quà cho người thân ở nhà. Người bán giới thiệu cua gạch loại ngon, giá 800.000 đồng một kg. Thấy hợp lý, lại tin tưởng vì cửa hàng có vẻ uy tín, tôi quyết định mua 5 kg với giá 4 triệu đồng và nhờ họ đóng gói, gửi về tận nhà.
Một ngày sau, thùng hàng được giao đến. Cả nhà háo hức mở ra, nhưng niềm vui nhanh chóng giảm đi khi tôi thử cân lại. Trong tổng số 5 kg đó, có tới 1,2 kg là dây buộc. Tính ra, số tiền dành cho phần dây này lên tới gần một triệu đồng.
Tôi lập tức liên hệ lại với người bán, nhưng câu trả lời nhận được từ họ chỉ là: "Mua cua biển bao giờ cũng phải kèm theo dây buộc, trước giờ đều thế". Họ còn giải thích rằng dây được làm ẩm để giúp cua sống lâu trong quá trình vận chuyển, nên không thể tháo ra hay giảm bớt.
>> Cò mồi nói khách 'đừng mua vé tham quan Ngọ Môn Huế'
Tôi hiểu việc buộc dây là cần thiết. Nhưng điều khiến tôi khó chấp nhận là cách tính giá không hề được nói trước. Với người mua như tôi, "5 kg cua" đương nhiên là 5 kg cua, chứ không nghĩ rằng một phần đáng kể lại là dây buộc. Nếu biết trước, có lẽ tôi đã cân nhắc lại hoặc yêu cầu cân riêng.
Liệu có phải chỉ mình tôi rơi vào tình huống này, hay đây là chuyện nhiều người từng gặp nhưng đành chấp nhận? Nếu việc cân cả dây buộc đã trở thành thông lệ trong mua bán hải sản, thì người tiêu dùng như tôi có nên mặc nhiên đồng ý, hay vẫn có quyền đòi hỏi quyền lợi?
Du lịch không chỉ là cảnh đẹp hay món ăn ngon, mà còn là cảm giác tin tưởng khi mua sắm, sử dụng dịch vụ. Chỉ một trải nghiệm thiếu rõ ràng cũng có thể khiến niềm vui bị ảnh hưởng. Tôi nghĩ, nếu người bán minh bạch, rõ ràng hơn ngay từ đầu, có lẽ những khó chịu, bức xúc của người mua như của tôi đã không xảy ra.
Theo tôi, vấn đề chia tiền khi đi chơi với nhóm bạn, đồng nghiệp phức tạp hơn nhiều người nghĩ. Đây là một ví dụ đang gây tranh luận mạnh mẽ trên mạng xã hội mấy hôm nay: Một nhóm bạn 4 người đi ăn và chơi chung, tổng chi phí hơn 3 triệu đồng và chia đều cho 4 người.
Vấn đề gây tranh cãi là một người trong nhóm dẫn theo người yêu, nhưng khi tính tiền vẫn chia đều cho 4.
Nếu nhìn ở góc độ con số, mỗi người thêm vài trăm nghìn không phải là vấn đề quá lớn. Nhưng trong các mối quan hệ, đặc biệt là bạn bè, cảm giác "phải tính tiền thay phần của người khác" lại là một vấn đề để lại nhiều lấn cấn.
Người ta có thể thoải mái chi tiền cho một bữa ăn, một cuộc vui mà họ tham gia. Nhưng ít ai cảm thấy dễ chịu khi phải trả thay cho một người mà họ không chủ động mời. Ở đây, vấn đề không nằm ở việc có nên chia đều hay không, mà ai là người có trách nhiệm cho phần phát sinh đó?
Khi bạn chủ động dẫn thêm một người vào một cuộc hẹn vốn dĩ chỉ có 4 người - hoặc số lượng người đã chốt trước, bạn đã làm thay đổi nhiều "biến" của một bài toán.
Tôi vẫn thường nhất quán với quan điểm: Ai mời thêm người, người đó chịu phần phát sinh.
Bạn bè dù hiếm ai bắt buộc bạn phải khao toàn bộ chi phí cho người yêu nhưng ít nhất, bạn nên là người chủ động đứng ra thanh toán luôn, thay vì mặc định chia đều.
Bạn có thể vô tư, nhưng đừng để sự vô tư đó khiến người khác phải khó xử. Trong những tình huống như vậy, sự im lặng của người còn lại không đồng nghĩa với việc họ đồng ý, mà có thể chỉ là họ không muốn làm mất lòng và để lại sự khó chịu âm ỉ. Nhưng những chuyện nhỏ như vậy, tích tụ nhiều lần, rất dễ làm rạn nứt mối quan hệ.
Tôi tự đúc kết lại những kinh nghiệm "chia bill" như sau:
1. Mời thêm người (bạn bè, người yêu...) thì phải thanh toán luôn phần của người được mời.
2. Không sợ chia ít nhiều mà chỉ sợ không công bằng.
3. Nếu đi du lịch chung, hãy chịu khó note lại chi phí và chia cho công bằng (ai tham gia những gì thì thanh toán đúng như vậy, không cào bằng.
Có lần tôi được mời đến một bữa nhậu mà chủ nhà hồ hởi giới thiệu: "Hôm nay có thịt thú rừng xịn, không phải lúc nào cũng có đâu".
Cả bàn lập tức xôn xao. Người thì hỏi là nai hay lợn rừng, người lại đoán là dúi, cầy hay một loài gì đó "đặc biệt" hơn. Không khí bỗng trở nên hào hứng chỉ vì món ăn được gắn hai chữ "thú rừng".
Tôi chợt nhận ra, với không ít người, giá trị của bữa nhậu không nằm ở việc món ăn ngon đến đâu mà ở chỗ nó hiếm và đắt "vài triệu đồng một kg". Càng khó kiếm, càng được xem là "đẳng cấp". Có người còn coi việc mời được bạn bè ăn thịt thú rừng là một cách thể hiện mối quan hệ rộng, chịu chơi và có điều kiện.
Nhưng điều khiến tôi băn khoăn là, rất ít người trong những bữa nhậu ấy thực sự biết nguồn gốc của món ăn. Đó là động vật được nuôi hợp pháp hay bị săn bắt trái phép? Có thuộc danh mục được phép kinh doanh hay không? Chỉ cần nghe người bán nói "hàng rừng chính hiệu" là nhiều người đã yên tâm xuống tiền.
Thực tế, không ít vụ việc cho thấy nhiều loài động vật hoang dã bị săn bắt và buôn bán trái phép chỉ để phục vụ nhu cầu ăn uống. Khi có người mua, sẽ có người tìm cách cung cấp. Mỗi lời khoe "đặc sản rừng" đôi khi lại vô tình tiếp tay cho một chuỗi khai thác bất hợp pháp phía sau.
Điều đáng nói là không phải cứ gắn mác "thịt rừng" thì sẽ ngon hơn. Nhiều người từng ăn cũng thừa nhận hương vị không khác biệt quá nhiều so với các loại thịt quen thuộc. Giá trị của món ăn phần lớn đến từ sự hiếm có và tâm lý muốn trải nghiệm cái lạ hơn là chất lượng thực sự.
Nếu đã muốn thưởng thức đặc sản, hãy lựa chọn những sản phẩm có nguồn gốc hợp pháp, minh bạch. Còn nếu chỉ để có vài câu khoe rằng mình vừa được ăn thịt thú rừng, có lẽ cái giá phải trả cho môi trường và đa dạng sinh học là quá lớn so với giá trị của một bữa nhậu kéo dài vài tiếng, đó chính là những bữa nhậu vô tri.