Theo báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại kỳ họp thường kỳ HĐND tỉnh, công tác kiểm sát án hình sự và kiểm sát hoạt động tư pháp trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Mặc dù tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp vẫn bám sát nhiệm vụ chính trị, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát án hình sự, bảo đảm việc xử lý các vụ án đúng quy định pháp luật.
Theo báo cáo, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh khởi tố mới 1.498 vụ với 2.761 bị can, giảm 274 vụ và 172 bị can so với cùng kỳ năm 2025. Tội phạm về ma túy, kinh tế, môi trường và tham nhũng đều giảm, trong khi tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội có xu hướng gia tăng, đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh, xử lý.
Đối với công tác kiểm sát giải quyết nguồn tin về tội phạm, Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp đã kiểm sát gần 3.000 tin báo, tố giác tội phạm. Tỷ lệ giải quyết đạt 68,2%, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ khởi tố đạt 70%, tăng 6,3%.
Thông qua hoạt động kiểm sát, ngành kiểm sát đã ban hành nhiều kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra và lực lượng công an cấp xã khắc phục những hạn chế trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Ở giai đoạn điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp kiểm sát hơn 2.600 vụ án với trên 4.650 bị can. Tỷ lệ giải quyết án của cơ quan điều tra đạt gần 59%, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước. Qua hoạt động kiểm sát, ngành kiểm sát ban hành 58 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm và 15 kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm.
Trong giai đoạn truy tố, Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp thụ lý 1.340 vụ án với gần 2.700 bị can và đã giải quyết hơn 93% số vụ. Đáng chú ý, tỷ lệ truy tố đúng thời hạn và đúng tội danh đạt 100%.
Ở lĩnh vực kiểm sát xét xử, các kiểm sát viên đã phối hợp tòa án tổ chức nhiều phiên tòa trọng điểm, phiên tòa trực tuyến và phiên tòa rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng. Trong 6 tháng, 2 cấp kiểm sát phối hợp tổ chức 67 vụ án trọng điểm, 148 phiên tòa rút kinh nghiệm, 23 phiên tòa trực tuyến và 16 phiên tòa trình chiếu chứng cứ.
Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự cũng được tăng cường. Hai cấp kiểm sát đã trực tiếp kiểm sát 52 cuộc tại các cơ sở giam giữ và 52 cuộc tại UBND cấp xã về thi hành án hình sự; ban hành 141 kiến nghị yêu cầu khắc phục thiếu sót, vi phạm và đều được các đơn vị liên quan tiếp thu, thực hiện.
Theo đánh giá của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, nhiều chỉ tiêu nghiệp vụ quan trọng đều đạt và vượt yêu cầu của ngành. Tỷ lệ bắt giữ chuyển xử lý hình sự đạt 99,6%; không có trường hợp hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội; không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp cũng đã ban hành 336 kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm và 53 kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng chỉ ra một số khó khăn, hạn chế cần tiếp tục khắc phục. Theo đó, nhiều quy định pháp luật chưa được hướng dẫn, giải thích thống nhất, dẫn đến việc áp dụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa đồng nhất.
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, địa bàn quản lý của nhiều đơn vị kiểm sát được mở rộng, trong khi biên chế và số lượng kiểm sát viên vẫn còn thiếu. Khối lượng án hình sự, dân sự lớn khiến nhiều cán bộ phải đảm nhận nhiều phần việc cùng lúc, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ và chất lượng công việc…
Trong 6 tháng cuối năm 2026, Viện Kiểm sát nhân dân 2 cấp tỉnh Lâm Đồng xác định tiếp tục hoàn thành các chỉ tiêu công tác; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát án hình sự, tăng cường thanh tra, kiểm tra nội bộ, chủ động phòng ngừa vi phạm, đồng thời triển khai hiệu quả các nghị quyết của Đảng và chỉ đạo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2026.
Ngày 12.7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam nhân dịp 10 năm Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 ra phán quyết trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ, lập trường rõ ràng và nhất quán của Việt Nam là các tranh chấp trên biển phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) .
Người phát ngôn khẳng định, Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về giải thích và áp dụng Công ước theo các quy định của UNCLOS 1982.
Việt Nam tái khẳng định rằng UNCLOS 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển.
"Với tư cách là quốc gia ven Biển Đông và là một thành viên tích cực của UNCLOS 1982, Việt Nam luôn thiện chí tuân thủ Công ước và yêu cầu tất cả các bên liên quan thực thi đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình được quy định trong Công ước, bao gồm trong việc xác định các yêu sách biển và thực thi quyền trên biển của mình, tôn trọng quyền các quốc giả khác được hưởng theo Công ước, cùng hợp tác, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không và trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế", bà Hằng nhấn mạnh.
Ngày 30.6, Sở Y tế cho biết HĐND TP.HCM khóa XI đã thông qua nghị quyết số 74 về việc bãi bỏ một số nghị quyết trong lĩnh vực y tế.
Theo đó, 6 nghị quyết của HĐND TP.HCM và 1 nghị quyết của HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trước khi sắp xếp đơn vị hành chính) chính thức bị bãi bỏ toàn bộ. Các nghị quyết này được ban hành trong nhiều giai đoạn khác nhau, liên quan đến chính sách dân số, an sinh xã hội, hỗ trợ nhân viên y tế và lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19.
Cụ thể, 6 nghị quyết của HĐND TP.HCM bãi bỏ gồm:
Nghị quyết số 03 năm 2007 về điều chỉnh, bổ sung một số chế độ, chính sách xã hội; Nghị quyết số 09 năm 2009 về công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2009 - 2010; Nghị quyết số 16 năm 2010 về chế độ đối với đối tượng bảo trợ xã hội và một số lực lượng liên quan; Nghị quyết số 28 năm 2017 về chính sách hỗ trợ nhân viên y tế công tác tại Trung tâm y tế H.Cần Giờ; Nghị quyết số 12 năm 2021 về chính sách đặc thù hỗ trợ lực lượng tuyến đầu tham gia phòng, chống Covid-19; Nghị quyết số 06 năm 2022 về chính sách đặc thù hỗ trợ tình nguyện viên tham gia phòng, chống dịch Covid-19.
Ngoài ra, HĐND TP.HCM cũng bãi bỏ Nghị quyết số 50 năm 2017 của HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trước khi sắp xếp đơn vị hành chính) về chính sách hỗ trợ tiền ăn cho bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú.
Theo Sở Y tế TP.HCM, các nghị quyết trên được ban hành để đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, đến nay nhiều nội dung đã không còn phù hợp hoặc hết hiệu lực trên thực tế, nhất là khi nhiều quy định mới đã được ban hành ở cấp Trung ương.
Việc bãi bỏ các nghị quyết không còn phù hợp sẽ giúp cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng pháp luật, hạn chế tình trạng chồng chéo giữa các quy định. Đồng thời tạo cơ sở xây dựng các chính sách mới phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế.
Đối với người dân và tổ chức, việc bãi bỏ các nghị quyết này giúp tránh nhầm lẫn khi xác định quyền lợi từ những chính sách đã hết hiệu lực. Tạo điều kiện tiếp cận các quy định hiện hành một cách rõ ràng, minh bạch hơn, bảo đảm quyền lợi được thực hiện đúng theo quy định.
Sáng 4.4, UBND TP.HCM phối hợp Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức hội thảo tham vấn luật Đô thị đặc biệt, với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý.
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ tịch UBND TP.HCM, đánh giá hội thảo diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi thành phố đang triển khai tổng kết Nghị quyết 31 năm 2022 của Bộ Chính trị, đồng thời xây dựng nghị quyết mới và nghiên cứu đề xuất luật Đô thị đặc biệt, một công cụ pháp lý có tính nền tảng, lâu dài.
"TP.HCM sẽ xây dựng dự thảo nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 31 với yêu cầu trong kỷ nguyên mới, tầm nhìn năm 2030 - 2045 và đề xuất tầm nhìn đến năm 2075, mốc kỷ niệm 100 năm thống nhất đất nước", ông Cường nói thêm.
TP.HCM là đầu tàu kinh tế của cả nước, đóng góp hơn 23% GDP và khoảng 30% ngân sách quốc gia; đồng thời là trung tâm lớn về tài chính, thương mại, khoa học công nghệ, giáo dục và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, quy mô và vai trò ngày càng lớn cũng đặt ra những thách thức mới, trong khi thể chế quản trị hiện hành chưa theo kịp yêu cầu phát triển của một siêu đô thị.
Trong bối cảnh đó, TP.HCM đang đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm: tổng kết thực tiễn phát triển, xây dựng nghị quyết mới của Trung ương, chuẩn bị hồ sơ đề xuất luật Đô thị đặc biệt. Mục tiêu là chuyển từ cơ chế thí điểm sang khung pháp lý ổn định, từ quản lý hành chính sang quản trị đô thị hiện đại, qua đó giải phóng nguồn lực và tạo động lực tăng trưởng mới.
Dự thảo các văn bản nên trên sẽ được TP.HCM trình Bộ Chính trị trong tháng 4.2026.
Ông Cường cho biết TP.HCM xác định 3 nguyên tắc lớn trong quá trình xây dựng luật. Thứ nhất, bảo đảm trao quyền tự chủ thực sự và toàn diện với phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".
Thứ hai, luật phải tháo gỡ các điểm nghẽn thực tiễn, nhất là không gian ngầm, quản lý tài sản công, dự án đường sắt đô thị, thu hút nhân tài, trung tâm tài chính quốc tế. Thứ ba, tiếp tục kế thừa và phát huy các cơ chế đặc thù đã được kiểm nghiệm, đồng thời mạnh dạn đề xuất các chính sách mới mang tính đột phá.
Lãnh đạo TP.HCM mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp có tính đột phá, kể cả những quan điểm mới, khác biệt, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước.