Nữ nhân viên marketing 25 tuổi ở Hà Nội kéo xuống phần bình luận. Hàng loạt người lạ viết những câu na ná nhau. “Đọc xong mới biết mình cũng bị”. “Giống mình 100%, bác sĩ nói rối loạn lo âu”. “Mình từng tưởng chỉ là stress”.
Từ hôm đó, trang Threads của Mai Anh gần như chỉ còn nội dung về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày cô ngốn vài chục bài: “Hay suy nghĩ ban đêm là dấu hiệu rối loạn lo âu”, “Có 5 dấu hiệu này, chắc chắn bạn trầm cảm”, “Mất ngủ quá ba hôm, đừng chủ quan”. Càng đọc, nữ nhân viên càng thấy mình trong đó. Cô nhớ lại những buổi họp với sếp khiến bụng cồn cào, tay lạnh ngắt, ngực đập thình thịch. Tối về, đầu óc cứ tua lại cảnh bị góp ý, mắt mở trân trân.
Rồi cô làm một bài trắc nghiệm lan truyền trên mạng. Màn hình hiện dòng chữ: “Bạn có nguy cơ cao mắc rối loạn lo âu”. Đêm ấy Mai Anh gần như thức trắng, gõ Google tìm hiểu về bệnh. Thuật toán lập tức đẩy tới những video kể về cơn hoảng loạn, những người bỏ việc vì bệnh tâm lý. Đọc xong, cô thấy tim mình đập nhanh hơn, bồn chồn vài phút rồi lắng xuống.
Cô bỏ cà phê vì sợ kích thích thần kinh, tránh đi xe đường xa vì sợ “lên cơn”. Một hôm trời oi, cô thấy hơi khó thở và tin rằng mình đang lên cơn lo âu nghiêm trọng. Cô đến Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương khám, kết quả không tìm thấy bất thường nào.
Sự bùng nổ của các nội dung về sức khỏe tinh thần trên Threads, TikTok hay Instagram đang tạo ra một xu hướng đáng lo ngại trong giới trẻ: Tự chẩn đoán (self-diagnosis). Chỉ cần tìm kiếm các từ khóa như “overthinking”, “trầm cảm” hay “rối loạn lo âu”, người dùng có thể dễ dàng tiếp cận hàng nghìn nội dung chia sẻ trải nghiệm cá nhân hoặc diễn giải triệu chứng theo cách cực kỳ đơn giản, dễ hiểu.
“Không thể phủ nhận, mạng xã hội đã có đóng góp tích cực trong việc xóa bỏ định kiến, giúp thế hệ trẻ cởi mở hơn khi nói về những tổn thương tinh thần, điều mà các thế hệ trước thường né tránh. Thế nhưng, ranh giới giữa việc ‘nâng cao nhận thức’ và ‘tự dán nhãn’ đang trở nên mong manh hơn bao giờ hết”, bác sĩ Nguyễn Khắc Dũng, giảng viên Khoa Tâm lý và Khoa học Giáo dục, Đại học Đại Nam, kiêm Phó Trưởng khoa Lâm sàng, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cho biết.
Ông Dũng thêm rằng nhiều bạn trẻ chỉ dựa vào vài biểu hiện phổ biến như suy nghĩ nhiều, mất ngủ tạm thời hay khó tập trung để vội vã kết luận mình đã mắc bệnh lý tâm thần nghiêm trọng mà không qua bất kỳ buổi thăm khám chuyên môn nào.
Vấn đề nằm ở chính định dạng nội dung. Bác sĩ Dũng giải thích rằng bài viết ngắn và video ngắn lan truyền cực nhanh nhờ tính giật gân. Để kéo lượt xem, người sản xuất nội dung chọn đúng những biểu hiện ai cũng từng gặp, ở cả người khỏe lẫn người bệnh.
“Khi bạn đọc một bài viết nói rằng bạn hay nghĩ ngợi ban đêm là overthinking hay trầm cảm, đó là một sự đơn giản hóa nguy hiểm”, ông nói.
Theo bác sĩ Dũng, trong y khoa, để chẩn đoán một rối loạn tâm lý, các bác sĩ và chuyên gia phải sử dụng các bộ tiêu chuẩn lâm sàng quốc tế nghiêm ngặt (như DSM-5 hoặc ICD-11), kết hợp với phỏng vấn sâu, khai thác bệnh sử, quá trình phát triển cá nhân, và tiến hành các xét nghiệm loại trừ nguyên nhân thực thể (như bệnh lý tuyến giáp hay thiếu hụt vi chất). Một bài test nhanh 10 câu hỏi trên mạng xã hội hoàn toàn không có giá trị thay thế quy trình này.
Ông Dũng lưu ý một điểm dễ bị hiểu sai. Mạng xã hội thường làm trầm trọng thêm nỗi lo sẵn có chứ ít khi sinh ra bệnh từ con số không. Một người vốn chịu áp lực công việc nặng nề hoặc mang nền tảng tâm lý mong manh sẽ dễ bị nội dung “dán nhãn” kéo sự chú ý vào từng nhịp tim, từng hơi thở của mình, rồi phóng đại chúng. Cơ chế tự ám thị bám rễ từ đó. Người tự nhủ mình mang bệnh sẽ soi cơ thể kỹ hơn, đọc một phản ứng sinh lý bình thường như tim đập nhanh khi trời nóng thành triệu chứng. Kéo dài, những biểu hiện tâm thể ấy có thể trở thành rối loạn thật.
Mặt khác, tại Việt Nam, dù các loại thuốc hướng thần nhóm nặng được kiểm soát khá chặt chẽ, người trẻ vẫn dễ dàng tìm mua các loại thực phẩm chức năng gắn mác “bổ não”, “giảm lo âu”, các loại trà thảo dược hỗ trợ giấc ngủ không rõ nguồn gốc, hoặc tự áp dụng các liệu pháp “tự chữa lành” truyền tai nhau trên mạng. Việc tự ý can thiệp này có thể làm lu mờ các triệu chứng thực tế, khiến bệnh tình kéo dài và bỏ lỡ “giai đoạn vàng” để can thiệp chuyên môn nếu thực sự có bệnh.
Đằng sau xu hướng còn nằm một khoảng trống thật. Nhiều người trẻ chạy lên mạng tự chẩn đoán vì đường đến dịch vụ chính thống quá xa. Phí trị liệu tâm lý tư nhân cao, có thể lên tới hàng chục triệu đồng cho một liệu trình. Trường học và công sở thiếu hệ thống hỗ trợ, gia đình lại gạt đi với câu quen thuộc rằng con “nghĩ ngợi vẩn vơ” chứ có bệnh tật gì. “Những rào cản đó đẩy họ về phía nguồn tin dễ chạm tay nhất, cũng là nguồn kém tin cậy nhất” chuyên gia nói.
Vậy đâu là lằn ranh giữa nỗi buồn thường tình và một rối loạn thật sự? Ai rồi cũng nếm áp lực, buồn bã, lo lắng trước thi cử, chia tay hay công việc, đó là phản ứng lành mạnh. Theo ông Dũng, cảm xúc ấy chỉ vượt ngưỡng thành bệnh khi hội đủ ba dấu hiệu.
Thứ nhất, mức độ nặng nề và đi kèm nhiều biểu hiện khác. Thứ hai, kéo dài dai dẳng, với trầm cảm là liên tục từ hai tuần trở lên, với lo âu thường tính bằng nhiều tháng, chứ không phải cơn buồn thoáng qua vài hôm. Cuối cùng, chúng bào mòn chức năng sống người bệnh mất khả năng tập trung học hành, làm việc, tự thu mình, mất ngủ triền miên, bỏ bê vệ sinh cá nhân, hoặc nảy ý nghĩ tự hại.
Chuyên gia khuyên bạn trẻ khi nhận thấy mình có các dấu hiệu tương đồng với các bài viết trên mạng và cảm thấy bất an, hãy coi đó là tín hiệu nhắc nhở mình đi khám, tuyệt đối không phải căn cứ để kết luận mắc bệnh. Nếu cảm xúc tiêu cực chỉ xuất hiện trong một giai đoạn căng thẳng và giảm dần theo thời gian, đó nhiều khả năng là phản ứng bình thường của cơ thể chứ chưa phải bệnh lý.
Chủ động “không quan tâm” hoặc ẩn những nội dung mang tính giật tít, chẩn đoán một chiều. Giới hạn thời gian sử dụng mạng xã hội mỗi ngày, thay thế bằng các nguồn thông tin từ bệnh viện, trường học hoặc chuyên gia có chuyên môn, không làm các bài test lan truyền để tự kết luận
Ngoài ra, nên chấp nhận rằng buồn, lo, căng thẳng hay hồi hộp là những cảm xúc bình thường của con người, tránh “bệnh lý hóa” mọi cảm xúc tiêu cực. Tìm kiếm hỗ trợ đúng chuyên môn khi các dấu hiệu kéo dài và ảnh hưởng đến cuộc sống.
“Nhận biết sớm là điều tốt, nhưng nhận biết khác với tự chẩn đoán và tự điều trị”, bác sĩ nhấn mạnh. “Điều người trẻ cần là sự tỉnh táo để biến mối lo thành hành động đi khám đúng chỗ, thay vì tự dán cho mình một cái nhãn”.
Ban đầu bệnh nhân chỉ thấy mắt cộm nhẹ như có dị vật. Các triệu chứng nhanh chóng nặng dần với cảm giác xốn, đau nhức, chảy nước mắt liên tục, thị lực giảm và vùng mắt sưng phù.
Khi nhập Bệnh viện Mắt VISI, thị lực mắt trái của bệnh nhân chỉ còn 3/10, trong khi mắt phải vẫn 10/10. Khám cho thấy đồng tử mắt trái giãn 7 mm, mống mắt teo, mất sắc tố và có dấu hiệu viêm sau giác mạc. Kết quả chẩn đoán xác định ngòi ong dài khoảng 2 mm đã xuyên giác mạc và cắm sâu vào tiền phòng mắt.
BS.CK2 Trần Bá Kiền, Chủ tịch Hội đồng chuyên môn cấp cao Tập đoàn Y khoa VISI, cho biết đây là trường hợp hiếm và nguy hiểm do dị vật nằm ở vị trí nhạy cảm, dễ gây biến chứng nặng. Bệnh nhân được phẫu thuật khẩn để lấy toàn bộ ngòi ong, đồng thời bảo tồn thể thủy tinh và các cấu trúc quan trọng trong mắt.
Theo bác sĩ, côn trùng bay vào mắt không chỉ gây tổn thương xuyên thấu mà còn tiềm ẩn nguy cơ từ độc tố. Nọc ong có thể gây viêm nội nhãn, tổn thương giác mạc và mống mắt, thậm chí dẫn đến suy giảm thị lực vĩnh viễn nếu không xử trí kịp thời.
Chuyên gia khuyến cáo khi bị ong hoặc côn trùng bay vào mắt, không nên dụi mắt, nặn ép hay tự lấy dị vật tại nhà vì có thể khiến ngòi đâm sâu hơn hoặc làm vỡ túi nọc. Nếu xuất hiện các dấu hiệu như đau nhức kéo dài, nhìn mờ, chảy nước mắt nhiều hoặc sưng đỏ, cần đến cơ sở chuyên khoa mắt để được thăm khám sớm.
Ung thư phổi từ lâu được xem là bệnh liên quan chặt chẽ đến thuốc lá, song nhiều trường hợp xảy ra cả ở người chưa từng hút thuốc. Ô nhiễm không khí, khói thuốc thụ động, hóa chất nơi làm việc hay yếu tố di truyền đều có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Song, nhiều triệu chứng ban đầu khá mơ hồ nên dễ bị bỏ qua.
Ho kéo dài không dứt
Ho là triệu chứng phổ biến nhất của các bệnh hô hấp. Nếu ho kéo dài hơn vài tuần, tái đi tái lại hoặc thay đổi tính chất, người bệnh nên đi kiểm tra.
Ho kéo dài, khàn tiếng, nhiều đờm hoặc kèm máu đều cần được chú ý. Ho ra máu, dù chỉ một lượng nhỏ, không phải dấu hiệu bình thường và cần được khám sớm.
Hụt hơi khi vận động nhẹ
Khó thở hoặc nhanh hụt hơi khi thực hiện các hoạt động vốn trước đây vẫn làm bình thường có thể là tín hiệu cảnh báo. Theo các chuyên gia, khối u ở phổi có thể làm hẹp đường thở hoặc gây tích tụ dịch quanh phổi, khiến hô hấp khó khăn hơn. Một số người nhận thấy họ mệt rõ khi leo cầu thang, đi bộ quãng ngắn hoặc vận động nhẹ. Ngoài khó thở, tiếng thở khò khè hoặc cảm giác tức ngực kéo dài cũng không nên bỏ qua.
Đau ngực, vai hoặc lưng âm ỉ
Ung thư phổi đôi khi gây đau ở ngực, vai hoặc lưng do khối u chèn ép dây thần kinh hoặc lan tới các mô xung quanh. Cơn đau có thể âm ỉ, kéo dài hoặc tăng lên khi ho, hít sâu hay cười lớn. Nhiều người nhầm lẫn triệu chứng này với đau cơ do làm việc quá sức hoặc ngồi sai tư thế. Nếu đau kéo dài không rõ nguyên nhân hoặc kèm khó thở, ho dai dẳng, người bệnh nên đi khám.
Giọng nói thay đổi kéo dài
Khàn tiếng thường liên quan cảm lạnh hoặc viêm họng, song nếu tình trạng này kéo dài nhiều tuần, nguyên nhân có thể nghiêm trọng hơn. Khối u ở phổi đôi khi ảnh hưởng đến dây thần kinh kiểm soát thanh quản, làm giọng nói trở nên khàn, rè hoặc trầm hơn bình thường.
Mệt mỏi, sụt cân không rõ nguyên nhân
Sụt cân, chán ăn, mệt mỏi kéo dài hoặc sốt nhẹ dai dẳng là những dấu hiệu có thể xuất hiện ở nhiều loại ung thư, trong đó có ung thư phổi. Một số người cho rằng đây chỉ là hệ quả của stress, làm việc quá sức hoặc thời tiết thay đổi nên trì hoãn đi khám. Tuy nhiên, nếu cơ thể giảm cân dù không ăn kiêng hay tập luyện, cảm giác kiệt sức kéo dài hoặc đổ mồ hôi đêm thường xuyên, cần được kiểm tra sức khỏe.
Ung thư phổi thường khó phát hiện ở giai đoạn đầu vì triệu chứng dễ nhầm với các bệnh hô hấp thông thường. Nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán khi bệnh đã tiến triển. Các bác sĩ khuyến cáo nên đi khám nếu các triệu chứng hô hấp kéo dài hơn hai tuần, đặc biệt ở người trên 40 tuổi, người hút thuốc hoặc từng hút thuốc.
Những người có nguy cơ cao có thể được chỉ định chụp CT liều thấp để tầm soát sớm ung thư phổi. Đây là phương pháp giúp tăng khả năng phát hiện bệnh ở giai đoạn còn điều trị hiệu quả.
Ghi nhận của Tuổi Trẻ ngày cuối tháng 6, tại khoa thận nhân tạo, Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM), các phòng luôn kín bệnh nhân, hệ thống máy thận nhân tạo hoạt động gần như hết công suất.
Sau mỗi ca chạy thận nhân tạo dài khoảng 4 tiếng đồng hồ, các giường bệnh và máy lọc máu lại nhanh chóng được chuẩn bị để tiếp nhận bệnh nhân mới. Trong số những người phải lọc máu định kỳ để duy trì sự sống, không ít người còn rất trẻ, chỉ mới 23 - 24 tuổi.
Điển hình là sinh viên V.Q.T. (23 tuổi, ngụ phường Bình Đông, TP.HCM), hiện phải lọc máu định kỳ 3 buổi/tuần, mỗi buổi kéo dài khoảng 4 tiếng tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau khi được chẩn đoán suy thận mạn giai đoạn 5, kèm suy tim.
Trước đó, T. nhập viện cấp cứu trong tình trạng bụng chướng, khó thở kéo dài. T. thừa nhận, nhiều năm liền, bản thân duy trì thói quen thức đến 2-3h sáng, thường xuyên uống nước tăng lực đêm khuya, ăn uống thất thường, chủ yếu dùng đồ ăn bên ngoài.
TS.BS Nguyễn Minh Tuấn - Trưởng khoa thận nhân tạo, Bệnh viện Chợ Rẫy - cho hay hệ thống máy chạy thận nhân tạo của bệnh viện đang hoạt động gần như hết công suất, để đáp ứng nhu cầu điều trị và cấp cứu ngày càng tăng.
Đáng chú ý, số lượng bệnh nhân trẻ tuổi bị suy thận mạn, phải lọc máu định kỳ đang có xu hướng tăng từng năm.
Ca nhỏ nhất từng ghi nhận là 13 tuổi, đến khi người bệnh đủ 16 tuổi được Bệnh viện Chợ Rẫy tiếp nhận tiếp tục điều trị. Đến nay người bệnh đã trải qua 30 năm chạy thận, và là người có thời gian chạy thận dài nhất tại bệnh viện.
BS Tuấn cho biết thêm, vào năm 2024, khoa được bổ sung 25 máy nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu thực tế người bệnh suy thận ngày càng tăng, nhất là từ khi năm 2025 khoa tiếp nhận 113 bệnh nhân mới.
Tính đến nay, khoa quản lý 427 bệnh nhân lọc máu định kỳ, với 74 máy thận nhân tạo đang hoạt động.
Trung bình mỗi ngày, khoa thực hiện khoảng 220 lượt chạy thận định kỳ. Ngoài ra, còn có 50 - 75 ca lọc máu cấp cứu mỗi ngày, nâng tổng số lượt lọc máu lên khoảng 275 - 295 ca/ngày.
Hiện hệ thống máy thận nhân tạo tại khoa luôn hoạt động gần như tối đa công suất. Trung bình mỗi máy thận nhân tạo thực hiện khoảng 4 lượt lọc máu/ngày. Một số máy phục vụ cấp cứu có thể vận hành tới 5 lượt/ngày.
Để giảm áp lực, bệnh viện đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ như chuyển bệnh nhân ổn định về các cơ sở vệ tinh, tăng cường đào tạo và chỉ đạo tuyến cho các địa phương.
Đồng thời ứng dụng các kỹ thuật mới như lọc máu tăng tiến và lọc máu chậm ban đêm nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và tối ưu công suất hệ thống máy móc.
Hệ thống máy thận nhân tạo tại khoa thận nhân tạo của Bệnh viện Chợ Rẫy luôn hoạt động gần như tối đa công suất, với mỗi máy thực hiện khoảng 4 lượt lọc máu/ngày, một số máy phục vụ cấp cứu có thể chạy tới 5 lượt/ngày - Ảnh: XUÂN MAI