Một chiến dịch của Mỹ và Israel vốn nhằm làm giảm bớt năng lực hạt nhân của Iran và làm suy yếu các mạng lưới lực lượng ủy nhiệm toàn cầu của nước này đã biến thành một cuộc chiến nhằm giành quyền kiểm soát đối với eo biển Hormuz, một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất thế giới.
Nếu cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz rơi vào sự kiểm soát vĩnh viễn của Iran hoặc Mỹ, điều đó có thể báo hiệu sự khởi đầu cho sự kết thúc của quyền tự do qua lại trên các vùng biển mở, một khái niệm vốn là nền tảng cho thương mại toàn cầu trong nhiều thế kỷ.
“Điều này có thể tạo ra một tiền lệ khiến thương mại hàng hải quốc tế trở nên đắt đỏ hơn nhiều, một chi phí mà cuối cùng sẽ được chuyển sang cho người dùng cuối cùng”, Erik Grundt, một nhà phân tích cấp cao tại công ty tư vấn Rystad Energy, nhận định.
Vũ khí năng lượng mới của Iran
Sau khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel bắt đầu vào ngày 28/2, Iran gần như ngay lập tức tuyên bố đóng cửa eo biển Hormuz, tạo ra cú sốc cung cấp dầu mỏ lớn nhất trong lịch sử.
Sau khi có được một nguồn đòn bẩy mới đối với nền kinh tế toàn cầu, Tehran đang chiến đấu quyết liệt để giữ lấy nó.
Các tàu thuyền muốn đi qua eo biển này phải phối hợp với Cơ quan Quản lý Eo biển vịnh Ba Tư mới được thành lập của Iran, điều này có thể dẫn đến việc các chủ tàu phải thanh toán các khoản khổng lồ, hoặc tàu đối mặt với nguy cơ bị ngăn chặn.
Mặc dù các khoản phí đã tạm thời được tạm dừng khi Iran ký Bản ghi nhớ hiểu biết có thời hạn 60 ngày với Mỹ vào ngày 18/6, nhưng sự kiểm soát của Iran đối với việc di chuyển qua eo biển vẫn không dừng lại.
Ngược lại, Iran đã bám vào một điều khoản cụ thể trong bản ghi nhớ, kêu gọi Tehran “thực hiện các thỏa thuận… vì sự di chuyển an toàn của các tàu thương mại”, để hợp pháp hóa và củng cố quyền kiểm soát của mình đối với eo biển này. Hôm 14/7, Iran tuyên bố có hơn 200 tàu nước ngoài đã phối hợp với Cơ quan Quản lý Eo biển Vịnh Ba Tư của nước này trong vòng 3 tuần sau khi bản ghi nhớ được ký kết.
Trong khi đó, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump diễn giải điều khoản này có nghĩa là các tàu thuyền sẽ được tự do đi qua eo biển mà không gặp hạn chế nào trong suốt thời gian 60 ngày.
Kết quả là súng vẫn nổ ở eo biển Hormuz, Mỹ và Iran tấn công đáp trả lẫn nhau, lệnh ngừng bắn ban đầu đổ vỡ.
Tổng thống Donald Trump đã có lúc tuyên bố Mỹ sẽ thu của các tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz một khoản phí tương đương 20% giá trị hàng hóa cho những nỗ lực bảo vệ tàu qua eo biển. Tuy nhiên, ông đã rút lại tuyên bố sau chưa đầy 24 giờ.
Theo hiệp hội vận tải biển BIMCO, con số này sẽ tương đương với khoảng 27 triệu USD cho mỗi chuyến đi đối với một siêu tàu chở dầu.
Về phần mình, Iran đã nói rằng mức phí của ông Trump là quá cao và hứa hẹn một mức “công bằng”.
Thương mại toàn cầu có thể bị ảnh hưởng
Rob Thummel, giám đốc danh mục đầu tư cấp cao tại Tortoise Capital, lưu ý nếu các khoản phí tại eo biển Hormuz trở thành thông lệ trên biển, chi phí vận chuyển có thể sẽ tăng lên.
Tuy nhiên, ngay cả khi các công ty vận tải sẵn sàng chi trả, các nhà bảo hiểm cũng sẽ từ chối bảo hiểm cho các tàu thực hiện thanh toán cho các thực thể bị trừng phạt, bao gồm cả một số tổ chức quan trọng của Iran.
“Hãy quên đi các tranh luận pháp lý, các nhà bảo hiểm sẽ giải quyết việc này trước tiên. Chỉ cần một khoản phí có liên quan đến rủi ro trừng phạt, các nhà bảo hiểm có thể đơn giản là ngừng cung cấp bảo hiểm”, Nigel Green, Giám đốc điều hành của tập đoàn tư vấn tài chính khổng lồ deVere Group, cho biết.
Ngay cả khi một bên thứ ba như Oman thu các khoản phí này, các khoản phí cầu đường có thể vẫn vi phạm luật hàng hải quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), cho phép các nhà bảo hiểm từ chối các chuyến đi hoặc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài ra còn có một mối lo ngại rộng lớn hơn: việc thương mại hóa eo biển Hormuz có thể tạo tiền lệ cho các điểm nghẽn toàn cầu khác, khuyến khích các quốc gia từ Indonesia và Singapore cho đến Trung Quốc, Vương quốc Anh vũ khí hóa vị trí địa lý của mình.
Theo ước tính của các nhà phân tích cấp cao của Rystad Energy là Michelle Brouhard và Emmanuel Belostrino, trên khắp 10 điểm nghẽn lớn trên toàn cầu, trong đó có Hormuz, Gibraltar, Dover và Malacca, doanh thu tiềm năng hàng năm từ việc đi qua có thể trị giá hơn 136 tỷ USD mỗi năm, tạo ra một cơ hội doanh thu chủ quyền khổng lồ “chưa được khai phá”.
“Một thế giới mà các điểm nghẽn bị thương mại hóa có khả năng sẽ lạm phát hơn, phân mảnh hơn và quân sự hóa nhiều hơn”, họ nói.
Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Hà Nội. Trước Việt Nam, Qatar là nước đầu tiên phê chuẩn.
Theo Bộ Ngoại giao, việc nhanh chóng phê chuẩn Công ước thể hiện cam kết mạnh mẽ và nhất quán của Việt Nam trong việc đề cao luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc và chủ nghĩa đa phương. Với tư cách thành viên chính thức, Việt Nam có thể đóng góp thực chất hơn vào tiến trình xây dựng và phát triển khuôn khổ pháp lý quốc tế trên không gian mạng.
Công ước Hà Nội là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng để Việt Nam tăng cường hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đây cũng là động lực quan trọng cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, bảo đảm sự tương thích với các tiêu chuẩn và nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực thể chế, kỹ thuật và nguồn nhân lực trong phòng, chống tội phạm mạng.
Việc một công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc lần đầu được đặt tên theo một địa danh của Việt Nam là dấu mốc lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, cho thấy năng lực và vị thế của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.
Công ước Hà Nội được mở ký lần đầu tiên tại Hà Nội vào tháng 10/2025 và đến nay đã có 75 quốc gia ký kết. Công ước sẽ có hiệu lực sau khi có 40 nước trở thành thành viên.
Công ước gồm 9 Chương, 68 điều khoản, thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mạng.
Công ước có nhiều nội dung quan trọng như: xác định các hành vi được coi là tội phạm mạng, từ truy cập bất hợp pháp, can thiệp hệ thống đến lạm dụng trẻ em trực tuyến, rửa tiền có được từ các hoạt động phạm tội; xác định thẩm quyền và các biện pháp điều tra, cho phép các nước có thể thu thập chứng cứ và truy tố hiệu quả các vụ án liên quan đến tội phạm mạng; các biện pháp thủ tục và thực thi pháp luật; hợp tác quốc tế trong điều tra, truy tố các đối tượng phạm tội mạng; các biện pháp phòng ngừa, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức về an ninh mạng; hỗ trợ kỹ thuật và trao đổi thông tin.
Ngày 10-4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố báo cáo Triển vọng phát triển châu Á tháng 4-2026. Ấn phẩm kinh tế thường niên chủ chốt của ADB tiếp tục duy trì triển vọng tích cực cho Việt Nam trong ngắn hạn.
Kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 7,2% trong năm 2026, và 7,0% trong năm 2027 so với mức 8,0% năm 2025.
Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty, đánh giá dự báo của ADB với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn nằm trong tốp tích cực và cao nhất ở Đông Nam Á, cho thấy rõ khả năng phục hồi của nền kinh tế, bất chấp những thách thức chung mà nhiều nước đang phải đối mặt.
Chính phủ Việt Nam, theo nhận định của ông Chakraborty, đã phản ứng nhanh chóng trước tình trạng gián đoạn nguồn cung năng lượng do xung đột tại Trung Đông gây ra.
Các biện pháp tài khóa có thời hạn, bao gồm giảm thuế, sử dụng quỹ bình ổn, kết hợp với điều hành giá linh hoạt và tăng cường phối hợp đảm bảo nguồn cung, đã góp phần kìm chế áp lực lạm phát trong ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng.
Mặc dù vậy, rủi ro suy giảm vẫn ở mức đáng kể, theo ADB. Cuộc xung đột kéo dài tại Trung Đông có thể làm gián đoạn dòng chảy dầu, khí và phân bón qua eo biển Hormuz, làm tăng chi phí vận chuyển và gây chậm trễ. Cùng với xung đột tại Ukraine, các diễn biến này làm gia tăng biến động giá hàng hóa và tiếp tục gây áp lực lên chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tăng trưởng chậm lại tại các đối tác thương mại lớn cũng có thể thu hẹp thặng dư thương mại và làm giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, giám đốc quốc gia ADB khuyến nghị Việt Nam cần tập trung vào việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, tăng cường thị trường tài chính và vốn để đảm bảo các nhà đầu tư tiếp cận được vốn dài hạn.
"Cuối cùng, điều quan trọng nhất và đã được nêu bật bởi cuộc khủng hoảng gần đây, là tập trung vào an ninh năng lượng, chuyển đổi sang năng lượng xanh và sạch, tự chủ năng lượng để giảm thiểu tác động của bất kỳ yếu tố ngoại lai nào trong tương lai", ông Chakraborty nêu khuyến nghị.
Theo giám đốc quốc gia ADB, năm 2025 chứng kiến sự thay đổi đáng kể trong cải cách môi trường kinh doanh tại Việt Nam, với Nghị quyết 68 đặt khu vực tư nhân làm trọng tâm tăng trưởng của đất nước.
Nghị định 242 về cơ bản đã đơn giản hóa quy trình vay vốn ODA, do đó sự chồng chéo các thủ tục phê duyệt, nhu cầu xin phê duyệt từ nhiều nguồn khác nhau và cách tiếp cận theo từng giai đoạn trong việc chuẩn bị dự án đã được cải thiện đáng kể.
Thêm vào đó, việc phân cấp, phân quyền cho các tỉnh, thành cũng được thực hiện ở mức tốt hơn trước và vẫn còn rất nhiều dư địa để nâng cao hiệu quả và năng suất của cơ cấu quản trị. Các tỉnh, theo ông Chakraborty, cần được trang bị kỹ năng tốt hơn nữa để các dự án chất lượng cao có thể thu hút các nhà cho vay, tài trợ quốc tế, đặc biệt trong tiến độ chuẩn bị dự án.
"Với bộ máy lãnh đạo mới hiện nay và các mục tiêu tăng trưởng GDP rất tham vọng, tôi nghĩ rằng trọng tâm thực sự nên là rút ngắn khoảng thời gian từ khi bắt đầu chuẩn bị dự án đến khi sẵn sàng triển khai để vốn có thể chảy vào. ADB sẵn sàng hỗ trợ bằng mọi cách có thể để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị dự án", ông Chakraborty nhấn mạnh.
Gagik Tsarukyan, 69 tuổi, bắt đầu dự án xây tượng Chúa Jesus lớn nhất thế giới từ năm 2022. Sau 4 năm, phần thân trên khổng lồ của bức tượng đã hiện ra sừng sững giữa khung cảnh trống trải xung quanh.
Sau khi hoàn thành, bức tượng cao 101 mét sẽ tọa lạc trên đỉnh Hatis, ngọn núi cách thủ đô Yerevan khoảng 25 km về phía đông, giúp người dân ở thủ đô có thể nhìn thấy tượng từ mọi hướng. Tsarukyan tin rằng bức tượng này sẽ làm lu mờ tượng Chúa Cứu thế ở Brazil và cao hơn một chút so với tượng Nữ thần Tự do của New York.
Là một vận động viên chuyển sang làm doanh nhân và chính trị gia, Tsarukyan làm giàu trong nhiều lĩnh vực và được coi là người giàu thứ ba Armenia, dù không rõ ông sở hữu bao nhiêu tài sản.
Tsarukyan cho biết dự án xây tượng Chúa Jesus nhằm tạo tiếng vang với một phong trào đang phát triển kết hợp niềm tin tôn giáo với chủ nghĩa dân tộc và văn hóa bảo thủ. Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong phong trào MAGA của Tổng thống Mỹ Donald Trump và trong các đảng cực hữu trên khắp châu Âu.
Trong khuôn viên dinh thự của ông ở ngoại ô Yerevan có 6 con hổ, ba con sư tử và cả chuồng cá sấu. Phòng ăn được trang trí bằng bộ sưu tập những con thú mà tài phiệt này từng săn được, như hổ trắng, đại bàng, gấu...
Khung cảnh này phần nào thể hiện thị hiếu của Tsarukyan, người sáng lập đảng Armenia Thịnh vượng. Ông nổi tiếng từ lâu với sở thích phô trương sự giàu có hào nhoáng.
Tsarukyan chỉ giành được chưa đầy 4% phiếu bầu trong cuộc bầu cử quốc hội vừa qua, nhưng ông vẫn quyết tâm để lại dấu ấn của mình tại quốc gia này bằng bức tượng Chúa Jesus lớn nhất thế giới.
"Đây sẽ là tấm danh thiếp của Armenia", Tsarukyan nói trong cuộc phỏng vấn tại nhà riêng ở làng Arinj, nơi ông sinh ra. "Kitô giáo sẽ trở thành thương hiệu mới của Armenia."
"Chúng tôi là quốc gia Kitô giáo lâu đời nhất trên thế giới", Tsarukyan nói. "Vì vậy, việc chúng tôi sở hữu tượng Chúa Jesus lớn nhất thế giới là hoàn toàn hợp lý".
Nằm giữa những quốc gia mà đa phần dân số theo đạo Hồi, Armenia được công nhận là quốc gia theo Kitô giáo lâu đời nhất thế giới, khi cải đạo từ năm 301.
Tuy nhiên, Giáo hội Tông tòa Armenia liên tục phản đối dự án này. Họ lập luận rằng quy mô khổng lồ và phong cách của nó không phù hợp với các truyền thống tôn giáo và kiến trúc của Armenia.
Các lãnh đạo Giáo hội cho biết Kitô giáo Armenia trong lịch sử thường được thể hiện qua các tu viện, nhà thờ và khachkar, tên gọi của những cây thánh giá bằng đá được chạm khắc tinh xảo đặc trưng của Armenia, chứ không phải qua những bức tượng khổng lồ mô phỏng công trình kiến trúc ở những nơi khác trên thế giới.
Dự án của Tsarukyan cũng vấp phải sự chỉ trích từ các nhà bảo vệ môi trường, những người cảnh báo rằng quá trình xây dựng bức tượng có thể gây thiệt hại lâu dài cho cảnh quan thiên nhiên của núi Hatis.
Tsarukyan bác bỏ những lo ngại trên, cho rằng bức tượng được thiết kế để thu hút tín đồ từ khắp nơi trên thế giới, chứ không chỉ riêng ở Armenia. Ông dự báo mỗi năm sẽ có 10 triệu du khách tới thăm địa điểm này.
"Không nơi nào khác trên thế giới giống như vậy. Mọi người từ khắp nơi sẽ đều nói về nó", ông khẳng định.
Ông cho hay thách thức trước mắt là làm thế nào đưa được tượng Chúa Jesus lên núi. Kế hoạch ban đầu là vận chuyển từng phần bằng trực thăng, nhưng cuối cùng bị hủy để nhường chỗ cho giải pháp truyền thống là dùng xe tải đưa lên đỉnh núi rồi lắp ráp tại chỗ.
Tsarukyan nói rằng tượng Chúa Jesus chỉ là khởi đầu. Ông hy vọng sẽ mời được Tổng thống Mỹ Donald Trump tới thăm bức tượng, đồng thời tiết lộ một phái đoàn của đại sứ quán Mỹ đã tới tham quan nơi dựng tượng.
Dù tượng chưa xây xong, Tsarukyan đã bắt đầu một dự án khác để thu hút khách du lịch, là một con tàu Noah khổng lồ dài 134 m, rộng 24 m, cao 18 m, với tầng trệt là bảo tàng, tầng giữa là khách sạn và tầng trên là quán cà phê.
"Những dự án này mang tính linh thiêng", ông nói. "Đây là cách tôi sẽ khắc ghi tên mình vào lịch sử".