Chiều 16.7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (NN-MT). Thứ trưởng Bộ NN-MT Nguyễn Hoàng Hiệp, thừa ủy quyền của Chính phủ, trình bày tờ trình.
Đáng chú ý, điều 6 dự án luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật Tài nguyên nước quy định liên quan tới vận hành hồ chứa, liên hồ chứa (sửa đổi, bổ sung điều 38, ở điểm a khoản 7 và điểm a khoản 8).
Theo đó, quy định bổ sung việc cần hoặc phải cần “gửi Bộ NN-MT để xem xét, tổng hợp, lấy ý kiến Bộ Công thương, Bộ Xây dựng và bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh có liên quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
Trước đó, quy định này chỉ yêu cầu gửi Bộ TT-MT (nay là Bộ NN-MT) thẩm định, trình Thủ tướng.
Cho ý kiến về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh đánh giá, việc sửa đổi quy định vận hành liên hồ chứa rất hợp lý, có sự trao đổi giữa các cơ quan.
Ông cho rằng, mỗi lần có bão lũ, bài toán đau đầu nhất là vận hành điều tiết rủi ro, phải không để vượt quá mức ảnh hưởng đến người dân nhưng vẫn phải đảm bảo đủ nước cho điện và thủy lợi. Đây là vấn đề kỹ thuật, chuyên môn, rất quan trọng.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị có chính sách đầu tư hơn nữa về mặt kỹ thuật, chuyển đổi số và trang thiết bị để nắm bắt tình trạng thực tế của nguồn nước.
Ông Nguyễn Đắc Vinh cũng bày tỏ trăn trở về vấn đề làm thế nào cảnh báo hiệu quả cho người dân khi xả lũ. “Hiện nay chúng ta có biện pháp thông báo bằng văn bản, liên lạc báo tin nhưng nhiều trường hợp không báo kịp, không có thông tin kịp”, ông Vinh cho biết.
Từ đó, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị nghiên cứu phương thức cảnh báo, có thể như còi báo động khi bắt buộc phải xả lũ để người dân chủ động ứng phó.
Trong bối cảnh mưa lũ cực đoan thời gian qua, câu chuyện vận hành hồ chứa, đặc biệt là các hồ thủy điện luôn là vấn đề nóng, nhận nhiều quan tâm.
Trả lời Thanh Niên hồi năm ngoái, GS-TS Nguyễn Quốc Dũng, Phó chủ tịch thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, cho rằng cần phải xem lại quy trình thông tin cảnh báo, chủ động ứng phó trong những tình huống khẩn cấp.
“Vấn đề đáng quan tâm là vì sao người dân không nhận được hoặc chậm nhận được thông tin cảnh báo khi thủy điện xả lũ nên nhiều người không kịp sơ tán, không thể đưa tài sản lên chỗ cao, sau một đêm là nhà bị ngập lụt, cô lập”, ông Dũng nêu ý kiến.
Tin Gốc: Thanh Niên

Mỗi luật sư hành nghề về đất đai đều từng tiếp một loại khách hàng giống nhau. Họ cầm trên tay một cuốn sổ hồng hợp lệ, mua một nền đất trong khu dân cư được quảng cáo là đầy đủ hạ tầng. Vậy mà vài năm sau, khu vực ấy vẫn không có trường học gần nhà, hệ thống thoát nước tê liệt mỗi mùa mưa, con đường nội bộ trước cửa trở thành tranh chấp lối đi chung vì không cơ quan nào đứng ra nhận quản lý.
Giấy tờ của họ không sai một dấu phẩy. Cái sai nằm ở chỗ thứ họ mua chưa bao giờ là một phần của đô thị, mà chỉ là một ô đất được cắt ra để bán, kiểu phân lô bán nền.
Tình huống ấy lặp lại đủ nhiều để tôi tin rằng phân lô bán nền không đơn thuần là một phương thức kinh doanh bất động sản gây tranh cãi.
Nó là biểu hiện của một tư duy quản trị đã ăn sâu, xem đất đô thị như một loại hàng hóa có thể chia nhỏ tới mức tối đa rồi bán đi, tách rời khỏi hạ tầng, dân cư và dịch vụ công lẽ ra phải đi cùng.
Cái giá của tư duy ngắn hạn ấy không trả bằng tiền của nhà đầu tư, mà trả bằng chất lượng sống của cả một thế hệ cư dân đô thị về sau.
Pháp luật Việt Nam thực ra đã đặt nền móng cho một cách hiểu khác về đất. Luật Đất đai năm 2024 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, là nguồn lực đặc biệt của quốc gia.
Đáng chú ý hơn, khoản 11 điều 13 của luật này trao cho Nhà nước quyền điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Nguyên tắc đó có nghĩa là khi một thửa đất tăng giá nhờ con đường mới, nhờ một tuyến metro, nhờ quy hoạch của chính quyền thì phần giá trị tăng thêm ấy không phải do người chủ đất tạo ra. Nó được tạo ra bởi cộng đồng và bằng tiền ngân sách, nên lẽ ra phải được chia sẻ lại cho chính cộng đồng đó.
Mô hình phân lô bán nền vận hành theo logic ngược lại hoàn toàn. Người gom đất chờ hạ tầng công đi qua, chia nhỏ, bán nền và bỏ túi gần như trọn vẹn phần chênh lệch, trong khi nghĩa vụ làm trường học, công viên, hệ thống thoát nước thì để lại cho ngân sách và cho chính những người mua nền gánh chịu.
Đây là một sự dịch chuyển lợi ích rất kín đáo nhưng rất lớn, từ khu vực công sang một số ít chủ thể tư nhân, mà nhiều năm qua pháp luật chưa chặn được.
Nhận thức được hệ lụy đó, điều 31 luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 đã siết mạnh. Theo khoản 6 điều này, đất trong dự án thuộc khu vực phường, quận, thành phố của đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III không được chuyển nhượng cho cá nhân tự xây nhà ở, tức không được phân lô bán nền.
So với quy định cũ vốn chỉ chặn ở đô thị loại đặc biệt và loại I, phạm vi cấm đã mở rộng ra hơn một trăm thành phố, thị xã trên cả nước. Tại TP.HCM, Quyết định 83/2024 của UBND thành phố đã cụ thể hóa lệnh cấm này.
Nhưng đây chính là nghịch lý đầu tiên. Lệnh cấm chỉ điều chỉnh các dự án có chủ đầu tư, có quy hoạch được duyệt, có nghĩa vụ tài chính rõ ràng và có địa chỉ chịu trách nhiệm.
Trong khi đó, dòng chảy phân lô thực sự làm méo mó đô thị lại đi qua một cách khác mà luật chưa quy định cụ thể, đó là việc cá nhân và hộ gia đình tách thửa.
Bằng các chiêu hiến đất làm đường rồi tách thửa liên tục, một khu đất vài trăm mét vuông có thể biến thành một dự án thu nhỏ với hàng chục lô nền mà không một bản quy hoạch chi tiết nào ràng buộc, không một nghĩa vụ hạ tầng nào được đặt ra.
Pháp luật siết chặt nơi vốn dễ kiểm soát và để hở nơi khó kiểm soát nhất. Hệ quả là một chính sách đúng về định hướng nhưng có thể lệch về điểm tác động, giống như khóa cửa chính trong khi cửa sau vẫn mở.
Đáng nói hơn, kênh bị siết là kênh có thể buộc gánh nghĩa vụ công, còn kênh bị bỏ ngỏ lại là kênh né được mọi nghĩa vụ. Vô hình trung, cách thiết kế hiện nay đẩy thị trường về phía phương thức phát triển kém trách nhiệm hơn.
Một nghịch lý thứ hai đến từ chính cấu trúc của giao dịch nền đất. Khi một nền được bán đi như đất trống, nghĩa vụ kèm theo về hạ tầng và dịch vụ bị cắt rời khỏi hợp đồng. Người mua nhận quyền sử dụng đất, nhưng không ai nhận trách nhiệm bảo đảm rằng nơi đó sẽ có điện, nước, đường, trường, trạm đúng nghĩa một khu dân cư.
Đất được sang tay nhiều lần, còn đô thị thì không lớn lên cùng nó. Ở chiều ngược lại là tình trạng quy hoạch treo, đất bị giữ nhưng không được đưa vào sử dụng.
Hai hiện tượng tưởng trái ngược ấy thực ra cùng một gốc, đó là đất bị nhìn như một tài sản để nắm giữ và sinh lời, chứ không phải một tài nguyên phải được khai thác cho mục tiêu phát triển chung.
Với từng cá nhân, giữ đất chờ giá là lựa chọn hợp lý. Cộng lại trên quy mô một thành phố, nó tạo ra nghịch cảnh đất thì khan mà nơi đáng sống thì hiếm.
Từ thực tiễn hành nghề, tôi cho rằng vấn đề không thể giải quyết chỉ bằng cách mở rộng thêm danh mục khu vực bị cấm. Cấm là cần thiết nhưng chưa đủ, bởi cấm chỉ ngăn cái xấu mà không tạo ra cái thay thế và một quy định cấm luôn để lại khoảng trống cho người ta đi vòng.
Trước hết, cần đưa nghĩa vụ hạ tầng và dịch vụ công trở thành điều kiện pháp lý gắn liền với quyền được chuyển nhượng đất, chứ không còn là một lời hứa nằm ngoài hợp đồng.
Một khu dân cư chỉ nên được phép hình thành khi quy hoạch chi tiết, hệ thống kỹ thuật và quỹ đất dành cho trường học, cây xanh đã được xác lập cùng trách nhiệm cụ thể của một chủ thể có thể bị truy cứu. Nghĩa vụ ấy phải đi theo thửa đất, không được "bốc hơi" sau lần bán đầu tiên.
Thứ hai, công cụ điều tiết giá trị tăng thêm từ đất mà luật Đất đai 2024 đã ghi nhận cần được cụ thể hóa bằng những sắc thuế và khoản thu thực chất, để phần lợi ích do hạ tầng công tạo ra quay trở lại nuôi chính hạ tầng đó, thay vì chảy trọn vào túi người đầu cơ. Một nguyên tắc đã có trong luật mà thiếu công cụ thực thi thì vẫn chỉ là tuyên ngôn.
Thứ ba, có thể nghiên cứu mô hình tái điều chỉnh đất đai mà Nhật Bản và Hàn Quốc từng áp dụng, theo đó người dân góp đất cùng làm dự án và được nhận lại một phần đất đã có hạ tầng, thay vì bị thu hồi hoặc tự xé lẻ để bán.
Cách làm này giữ người dân ở lại trong quá trình phát triển, biến họ thành chủ thể hưởng lợi từ giá trị tăng thêm chứ không phải người đứng ngoài nhìn đất của mình sinh lời cho kẻ khác.
Suy cho cùng, chuyển từ phân lô bán nền sang phát triển nhà ở cao tầng gắn với hạ tầng và dịch vụ không chỉ là một lựa chọn kỹ thuật về mật độ xây dựng. Đó là sự thay đổi trong cách luật pháp định nghĩa đất đô thị, từ một món hàng được phép chia nhỏ thành một tài nguyên phải được quản trị cho dài hạn.
Câu hỏi đặt ra cho người làm luật và làm quy hoạch không còn là cấm phân lô ở đâu và rộng tới mức nào, mà là làm sao để mỗi mét vuông đất đô thị, khi rời khỏi tay Nhà nước, đều mang theo đầy đủ nghĩa vụ đối với cộng đồng sẽ sống trên đó.
Chừng nào nghĩa vụ ấy còn bị cắt rời khỏi quyền sử dụng thì dù lệnh cấm có mở rộng đến đâu, đô thị của chúng ta vẫn tiếp tục lớn lên theo từng cuốn sổ hồng, mà không lớn lên thành một nơi đáng sống.
Tin Gốc: Thanh Niên

Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ (P.Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) nằm sát biển với diện tích khoảng 105 ha, cách QL1 khoảng 1,5 km về hướng đông. Làng nằm trên địa hình núi đồi nên độ cao không đồng đều, chênh nhau từ 20 - 50 m so với mực nước biển. Đá nơi đây nhiều vô kể, được sử dụng làm vật liệu xây dựng từ thuở xa xưa.
Gò Cỏ có con đường lát đá nối làng với biển. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định đây là con đường có từ khi người Chăm cư trú nơi này. Họ đi bộ từ làng ra bãi cát vàng mịn màng rồi chèo thuyền nhỏ dập dềnh trên sóng nước đánh bắt cá ở vùng biển gần bờ.
Trong làng còn có những con đường đá gập ghềnh bước chân qua. Họ cũng xếp đá tạo thành mương dẫn nước tưới mát ruộng vườn ngày khô hạn. Họ đào sâu xuống cát rồi xếp đá tạo thành những giếng nước ngọt lành qua cả ngàn năm. Địa hình núi đồi nhấp nhô, chen chúc đá lớn nhỏ nên việc lập vườn, dựng nhà làm nơi trú ngụ vô cùng gian khó. Họ xếp từng viên đá lên nhau thành kè ngăn nước mưa trôi đất làm nên khu vườn nhỏ lưng chừng núi. Họ dùng đá xây móng cho căn nhà thêm vững chắc.
Trong hành trình nam tiến, người Việt định cư ở vùng đất này. Dần dà, họ hòa huyết cùng người Chăm và chung tay xây dựng xóm làng yên vui. Người làng cần mẫn cày cấy những thửa ruộng bên chân núi, vun trồng trên mảnh đất gò đồi. Trời yên biển lặng, trai tráng chèo thuyền ra biển buông - kéo lưới đánh bắt cá tôm. Hải sản vớt lên từ biển hiện diện ở chợ quê được nhiều người ưa thích. Họ thừa hưởng các công trình bằng đá từ những bậc tiền nhân nhọc nhằn gầy dựng.
Đồi núi nhấp nhô tựa bức tường thành vững chắc che chắn cuồng phong từ biển thổi vào bờ. Qua bao mùa mưa gió, kè đá vẫn vững chãi khiến cho hậu thế phải nghiêng mình thán phục. "Kè đá vườn nhà tôi từ xưa truyền lại, lâu lắm rồi nhưng chẳng sạt lở gì cả. Và những bờ kè đá trong làng này đều như thế...", bà Bùi Thị Sen (61 tuổi) nói.
Bảy năm trước, Hợp tác xã du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ san ủi mặt bằng trước khi dựng nhà tranh vách đất làm nơi đón khách tham quan. Các tảng đá lớn xếp chồng lên nhau tạo thành bờ kè giữ đất khá vững chắc. Những viên đá nhỏ được xếp thành hình chữ nhật rồi đổ đất vào trong tạo thành nền nhà. Những ngôi nhà tranh vách đất được dựng trên nền đất nâu cùng các vật dụng đơn sơ đậm chất thôn quê dân dã. Những người thợ còn khéo léo dùng đá tạo thành hòn non bộ và lối đi lại trong khuôn viên trung tâm đón tiếp du khách vô cùng đẹp mắt.
Người làng cũng dùng tranh, tre, đất, đá sẵn có dựng những căn nhà xinh xinh làm nơi lưu trú cho du khách tham quan. Nghỉ ngơi trong ngôi nhà đơn sơ, dù thiếu tiện nghi nhưng được hòa mình vào không gian làng quê khiến nhiều người thích thú. Nhiều du khách xuýt xoa khen ngợi khi thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị chế biến từ những sản vật địa phương. Và quan trọng hơn, chính tính cách thật thà của người dân quê chất phác đã thay lời mời gọi du khách quay lại chốn này.
"Nhiều du khách thích thú khi tìm hiểu về kè đá, đường đá, mương đá. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đến đây tìm hiểu các công trình bằng đá liên quan đến 3 nền văn hóa: Sa Huỳnh - Champa và Đại Việt...", chị Trần Thị Thu Thủy, Giám đốc Hợp tác xã du lịch cộng đồng làng Gò Cỏ, cho biết.
Trẻ thơ làng Gò Cỏ lẫm chẫm những bước đi đầu tiên trên con đường đá có từ thuở xa xưa. Mặt đường gồ ghề khiến bé vấp ngã và khóc òa... Rồi khi lớn hơn, trẻ cắp sách tung tăng trên con đường đá đến trường học hỏi bao điều mới lạ.
Sau giờ đến lớp, vài ba đứa trẻ lượm những viên đá nhỏ kiên trì mài thành viên bi tròn vo, nhẵn bóng. Chúng cùng nhau bắn bi trên khoảnh đất bên đường. Chán chê, bọn trẻ lượm những viên sỏi tròn rồi chụm đầu chơi trò đi ô (ô ăn quan), cười vui thích thú. Đôi lúc, chúng cãi nhau chí chóe rồi dàn hòa và lát sau đã cùng cười ngặt nghẽo.
Trai gái bước trên con đường đá gập ghềnh đến tụ họp tại ghềnh đá nằm giữa làng và biển vào đêm trăng sáng vằng vặc. Họ vui vẻ nói cười, trêu ghẹo hay trao nhau những lời tình tứ, và bao đôi lứa đã nên duyên vợ chồng. Cuộc sống yên ả trôi. Khi đói lòng nhưng chưa đến bữa cơm, người làng lượm vài lát củ lang khô phơi trên phiến đá phẳng cạnh nhà ăn lót dạ.
Cá, tôm, mực đánh bắt từ biển ăn không xuể, bán chẳng hết, họ phơi trên đá trong nắng trưa dành để ăn dần hay làm quà cho người thân. Những sản vật ấy chế biến thành món ăn thơm ngon với hương vị đặc trưng, phảng phất hương nắng gió đất trời.
Khi quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh, đá che chở cho dân làng giữa cơn nguy biến. Những khe đá, hầm đá che chắn đạn pháo nã vào làng. Người làng ôm con trẻ chạy trốn vào những hang đá bên biển để tránh các cuộc càn quét. Có hang đá nhiều lần bị đối phương thả hóa chất tạo khói cay vào vì nghi dân làng cùng du kích trú ẩn nên gọi là hang Mù Cay. Những thanh niên bịn rịn chia tay người thân bước trên đường đá rời làng đi cầm súng bảo vệ quê hương.
Đất nước thanh bình, người làng dùng đất, đá, tranh, tre dựng lại mái nhà do bom đạn tàn phá. Họ ra sức làm lụng cho cuộc sống no đủ, cửa nhà yên vui. Những người con làm ăn phương xa luôn hướng về quê nhà, nhớ con đường và kè đá thân thương. "Tui đánh bắt cá trên vùng biển phía bắc, lâu lâu mới về nhà. Đi xa nhớ quê lắm. Nhớ ngày còn nhỏ chơi cùng bạn bè trên đường đá, kè đá và bên giếng Chăm. Vui lắm. Bà con trong làng sống hiền hòa và thân thiện...", anh Trần Văn Công (47 tuổi) tâm sự.
Gò Cỏ, ngôi làng cổ vô vàn đá khiến nhiều người tò mò, thích thú. Con đường đá gập ghềnh được tạo thành từ sự khéo léo của tiền nhân. Kè đá rêu phong sau bao mùa mưa nắng, mang dấu tích cổ xưa, khơi gợi sự tò mò của khách phương xa. Họ sờ nắn từng viên đá, tâm trí như đang mơ màng tìm về thuở xa xưa.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 27.5, Công an TP.Hà Nội cho biết Phòng An ninh chính trị nội bộ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với một đơn vị về hành vi tổ chức cuộc thi người đẹp khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Trước đó, qua công tác nắm tình hình, lực lượng chức năng phát hiện cuộc thi mang tên "Hoa khôi Di sản quốc gia 2026" diễn ra trên địa bàn P.Giảng Võ (Hà Nội), có dấu hiệu tổ chức trái phép.
Sau đó, đến ngày 10.5, Phòng An ninh chính trị nội bộ phối hợp Công an P.Giảng Võ kiểm tra đột xuất địa điểm diễn ra vòng loại cuộc thi hoa khôi này.
Tại thời điểm kiểm tra, đại diện đơn vị tổ chức không xuất trình được văn bản chấp thuận tổ chức biểu diễn nghệ thuật, cuộc thi người đẹp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Lực lượng chức năng đã lập biên bản, yêu cầu ban tổ chức tạm dừng toàn bộ hoạt động của cuộc thi để tiếp tục xác minh, xử lý các vi phạm liên quan.
Căn cứ kết quả xác minh, đến ngày 20.5, Phòng An ninh chính trị nội bộ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với đơn vị tổ chức về hành vi tổ chức thi người đẹp và người mẫu mà không có văn bản chấp thuận.
Đơn vị này bị phạt 55 triệu đồng, theo quy định tại khoản 5 điều 12 Nghị định 38/2021/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 128/2022/NĐ-CP.
Theo Phòng An ninh chính trị nội bộ, hoạt động tổ chức các cuộc thi người đẹp, hoa khôi, người mẫu có dấu hiệu bùng phát, kèm theo nhiều biểu hiện vi phạm pháp luật.
Đáng chú ý, một số đơn vị tổ chức thường tự gắn các danh xưng như "quy mô quốc gia", "có yếu tố pháp lý bảo chứng" hoặc "được cơ quan nhà nước bảo trợ" để đánh vào tâm lý muốn nổi tiếng của thí sinh, đồng thời kêu gọi tài trợ từ doanh nghiệp.
Một số đơn vị còn mời nghệ sĩ, người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tham gia ban giám khảo nhằm tạo dựng "vỏ bọc" uy tín, qua đó trục lợi bất chính.
Do đó, cơ quan công an khuyến cáo các tổ chức, cá nhân cần kiểm tra kỹ tính pháp lý của các sự kiện văn hóa, đặc biệt là văn bản chấp thuận của Bộ VH-TT-DL hoặc UBND cấp tỉnh, thành phố trước khi đăng ký tham gia, tài trợ hoặc hợp tác thương mại.
Người dân cũng cần cảnh giác trước các yêu cầu đóng phí cao bất thường, lời mời gọi "mua danh hiệu", "mua giải thưởng" hoặc ép ký kết hợp đồng tài trợ lớn.
Khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn, lừa đảo hoặc tổ chức sự kiện văn hóa trái phép, tổ chức, cá nhân cần kịp thời phản ánh, cung cấp thông tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc cơ quan thanh tra chuyên ngành về văn hóa để ngăn chặn, xử lý.
Tin Gốc: Thanh Niên

