Chiều 16/7, tại Diễn đàn Khởi nghiệp quốc gia Hòa Khánh 2026, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Quang Bửu nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và cộng đồng doanh nghiệp phải trở thành những động lực tăng trưởng quan trọng của thành phố.
Theo ông Bửu, hiệu quả của các chương trình hợp tác không nên được đo bằng số lượng văn bản ký kết, mà phải thể hiện qua sản phẩm, kết quả cụ thể và đóng góp thực tế cho doanh nghiệp.
“Điều quan trọng nhất sau lễ ký kết không phải là những văn bản hợp tác mà là kết quả”, ông Bửu nói.
Từ thực tế hoạt động khởi nghiệp, TS Đinh Việt Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Khởi nghiệp quốc gia, chỉ ra ba khoảng cách mà nhiều nhà sáng lập đang gặp phải.
Khoảng cách đầu tiên nằm giữa ý tưởng và nhu cầu thị trường. Nhiều người trẻ có năng lực công nghệ, mong muốn tạo ra sản phẩm mới nhưng chưa xác định rõ khách hàng cần gì và sẵn sàng chi trả để giải quyết vấn đề nào.
Theo ông Hòa, sản phẩm chỉ có cơ hội phát triển khi giải quyết được nhu cầu thực tế của thị trường. Nếu bắt đầu từ điều nhà sáng lập muốn làm rồi mới tìm kiếm khách hàng, startup dễ rơi vào tình trạng có sản phẩm nhưng không có người sử dụng.
Khoảng cách thứ hai là sự kết nối giữa tri thức và thực tiễn. Các trường đại học có đội ngũ giảng viên, sinh viên, phòng thí nghiệm và nhiều kết quả nghiên cứu. Trong khi đó, doanh nghiệp cần giải pháp để giảm chi phí, tăng năng suất và cải tiến sản phẩm. Tuy nhiên, nhu cầu của doanh nghiệp và nguồn lực nghiên cứu chưa phải lúc nào cũng gặp nhau.
Khoảng cách cuối cùng nằm giữa khát vọng và nguồn lực. Một dự án dù có ý tưởng tốt vẫn khó tồn tại nếu thiếu vốn, năng lực quản trị, dữ liệu thị trường và hệ thống khách hàng.
Từ ba khoảng cách trên, ông Hòa cho rằng việc phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp cần đi xa hơn các cuộc thi ý tưởng hay mục tiêu tăng số doanh nghiệp đăng ký mới. Startup phải được hỗ trợ tiếp cận thị trường, thử nghiệm sản phẩm và tìm kiếm khách hàng.
PGS.TS Huỳnh Phương Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, cho rằng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cần bắt đầu từ hoạt động nghiên cứu, phát minh và những bài toán thực tế.
Nhà trường đã đưa nội dung khởi nghiệp vào chương trình đào tạo, đồng thời chuyển dần từ các đồ án giả định sang học tập thông qua dự án. Tại một số ngành, sinh viên đến doanh nghiệp tiếp nhận bài toán, sau đó được giảng viên và cán bộ doanh nghiệp cùng hướng dẫn.
Cách làm này giúp sinh viên sớm tiếp cận môi trường sản xuất, đồng thời mở ra khả năng phát triển đồ án thành sản phẩm, giải pháp hoặc dự án khởi nghiệp.
Tuy nhiên, theo ông Nam, sự kết nối chỉ thực sự hiệu quả khi doanh nghiệp đưa ra những đơn đặt hàng cụ thể. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ nguồn lực duy trì bộ phận nghiên cứu riêng, trong khi các trường đại học có đội ngũ chuyên môn, phòng thí nghiệm và sinh viên có thể tham gia giải quyết bài toán.
Khi doanh nghiệp công khai yêu cầu kỹ thuật và kết quả mong muốn, trường đại học có thể lựa chọn nhóm nghiên cứu phù hợp. Các đề tài nhờ đó không chỉ nằm trong phòng thí nghiệm mà có cơ hội được kiểm nghiệm bằng yêu cầu thực tế của thị trường.
Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong quá trình Đà Nẵng hỗ trợ chuyển đổi số cho gần 61.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ông Hồ Quang Bửu lưu ý công nghệ phải giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảm chi phí và mở rộng thị trường, thay vì chỉ dừng ở việc bổ sung phần mềm quản lý.
Ở cấp cơ sở, ông Huỳnh Anh Vũ, Chủ tịch UBND phường Hòa Khánh, cho rằng chính quyền địa phương cần tăng vai trò kết nối giữa trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các chương trình thử nghiệm.
Theo ông Vũ, chính quyền không chỉ giải quyết thủ tục hành chính mà còn cần chủ động tìm kiếm những đề tài có khả năng ứng dụng, kết nối người nghiên cứu với doanh nghiệp, tạo điều kiện thử nghiệm sản phẩm và hỗ trợ dự án tiếp cận nguồn vốn.
Hòa Khánh đặt mục tiêu có khoảng 5.000 doanh nghiệp trong 5 năm tới, tiến tới 10.000 doanh nghiệp ở giai đoạn sau. Tuy nhiên, số doanh nghiệp đăng ký mới chỉ phản ánh một phần của quá trình phát triển.
Hiệu quả cần được đánh giá qua số doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động sau 3 đến 5 năm, số kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, số hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và lượng việc làm mới được tạo ra.
Sau diễn đàn, điều cần được theo dõi không chỉ là số biên bản ghi nhớ đã ký, mà còn là số bài toán doanh nghiệp được chuyển đến trường đại học, số sản phẩm được đưa vào thử nghiệm và số startup tìm được khách hàng đầu tiên.
Năm 2026 được dự báo là giai đoạn phục hồi mạnh mẽ của ngành xây dựng. Thị trường đang đón nhận nhiều động lực tăng trưởng từ làn sóng đầu tư công quy mô lớn với tổng vốn đầu tư công dự kiến vượt 1,1 triệu tỷ đồng, cùng hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm như: sân bay, đường sắt và giao thông liên vùng, nhu cầu về nguồn lực tài chính cho các chủ đầu tư và nhà thầu sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những thách thức về chi phí nguyên vật liệu, áp lực chuyển đổi xanh và yêu cầu quản trị tài chính ngày càng chặt chẽ.
Trong bối cảnh đó, các giải pháp tài chính đồng bộ từ ngân hàng trở thành yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xây dựng tối ưu dòng vốn và nâng cao năng lực triển khai dự án. Nắm bắt xu hướng này, VietinBank đã triển khai gói giải pháp SMART PACK nhằm hỗ trợ chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp tiếp cận nguồn vốn hiệu quả, giảm chi phí và tăng tốc thực hiện các dự án lớn.
SMART PACK tập trung vào hai giá trị cốt lõi: tối ưu dòng vốn và ưu đãi phí toàn diện, mang đến một hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ tài chính đồng bộ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
Cụ thể, để nhỗ trợ doanh nghiệp tối ưu dòng vốn, SMART PACK cung cấp các sản phẩm tài trợ và bảo lãnh chuyên biệt, phù hợp với đặc thù của ngành xây lắp – nơi các dự án thường có chu kỳ vốn dài và yêu cầu nhiều hình thức bảo đảm tài chính khác nhau. Doanh nghiệp được tiếp cận các giải pháp như thanh toán trước hạn BCT, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, UPAS L/C, Standby L/C… Những công cụ này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý dòng tiền, tăng khả năng thanh toán cho đối tác, đồng thời cải thiện uy tín tài chính trong quá trình triển khai dự án.
Bên cạnh đó, khách hàng doanh nghiệp tham gia gói SMART PACK còn có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp bổ sung nguồn lực tài chính phục vụ thi công, mua sắm vật tư, thiết bị hoặc mở rộng quy mô dự án. Việc tối ưu cấu trúc vốn không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực dòng tiền ngắn hạn mà còn tăng khả năng tận dụng các cơ hội đầu tư mới.
Song song với đó, SMART PACK còn mang đến hệ thống ưu đãi phí toàn diện, giúp doanh nghiệp tiết giảm đáng kể chi phí tài chính trong quá trình hoạt động. Đơn cử, doanh nghiệp sẽ được miễn 100% phí bảo lãnh dự thầu, đồng thời hưởng ưu đãi phí đối với nhiều dịch vụ quan trọng như bảo lãnh bậc thang, chuyển tiền ngoại tệ, định danh tài khoản, dịch vụ chi lương, và nền tảng ngân hàng số VietinBank eFAST.
Đặc biệt, chương trình còn dành tặng 200 gói thuê bao bảo lãnh và thuê bao L/C, giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc sử dụng các dịch vụ tài trợ thương mại và bảo lãnh ngân hàng – những công cụ không thể thiếu trong hoạt động đấu thầu và triển khai dự án xây dựng.
Hơn thế nữa, SMART PACK còn mang lại ưu đãi tỷ giá lên tới 250 điểm, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí khi thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ, đặc biệt trong bối cảnh nhiều dự án xây dựng có liên quan đến nhập khẩu máy móc, thiết bị hoặc thanh toán với đối tác quốc tế.
Ông Trần Thanh Dương, đại diện một doanh nghiệp quan tâm đến chương trình cho biết: "Năm nay chúng tôi có trúng thầu cung cấp vật tư cho một số dự án hạ tầng lớn, nhưng có tiến độ triển khai rất sát sao. Các chính sách ưu đãi để tối ưu dòng vốn và phí trong gói SMART PACK thực sự giúp ích chúng tôi rất nhiều, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng nguồn vật tư theo tiến độ dự án khi giá cả liên tục theo thang".
Với sự kết hợp giữa các giải pháp tối ưu dòng vốn, dịch vụ bảo lãnh, ưu đãi phí và nền tảng ngân hàng số hiện đại, SMART PACK được kỳ vọng trở thành trợ lực tài chính hiệu quả cho các chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp. Từ đó, không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí và dòng tiền, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tốc triển khai dự án và phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh ngày càng nhiều biến động.
Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia (NCHMF), trưa nay, nhiệt độ tại trạm Láng (Hà Nội) là 39,6 độ C, cao nhất Bắc bộ.
Trong khi đó, nhiều nơi ở Trung Bộ nhiệt độ cao nhất chạm ngưỡng 40 độ C như Đông Hà (Quảng Trị) là 39,9 độ C, Sầm Sơn (Thanh Hóa) 39,8 độ C, Đồng Hới (Quảng Trị) là 39,6 độ C…
Hôm nay, khu vực vùng núi và trung du Bắc bộ có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ phổ biến 35 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C.
Khu vực đồng bằng Bắc bộ, từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 36 - 39 độ C, có nơi trên 39 độ C.
Lưu ý, nhiệt độ cảm nhận thực tế có thể cao hơn từ 2 - 4 độ C so với các bản tin thời tiết. Người dân cần lưu ý bảo vệ sức khỏe, tránh tiếp xúc trực tiếp trong thời gian dài dưới nắng nóng; lưu ý nguy cơ cháy nổ từ các thiết bị điện.
Cảnh báo nắng nóng từ Thanh Hóa đến Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk còn có khả năng kéo dài trong nhiều ngày tới. Trong ngày 25 - 26.6, khu vực này tiếp tục có nắng nóng đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 40 độ C; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến 45 - 50%.
Khu vực trung du và đồng bằng Bắc bộ có nắng nóng và nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C.
Ngày 7/5, trao đổi bên lề Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Chính sách và Công nghệ nhiên liệu hàng không bền vững - Việt Nam 2026 tổ chức Đà Nẵng, ông Fabrice Espinosa- Tổng Giám đốc Hiệp hội Nhiên liệu hàng không bền vững châu Á, cho biết ngành hàng không toàn cầu hiện tiêu thụ khoảng 280 triệu tấn nhiên liệu mỗi năm.
Để đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, nhiên liệu hàng không bền vững cần đóng góp 60-70% trong toàn bộ nỗ lực giảm phát thải của ngành.
Điều này đồng nghĩa sản lượng nhiên liệu hàng không bền vững toàn cầu phải tăng hơn 100 lần so với hiện nay. Theo ông Espinosa, đây không còn là một thay đổi mang tính kỹ thuật đơn lẻ, mà là "một cuộc cách mạng công nghiệp" với sự tham gia của nhiều quốc gia, nhiều ngành và toàn bộ chuỗi giá trị.
Cuộc đua này đã bắt đầu trên quy mô toàn cầu. Châu Âu và Anh đã ban hành quy định bắt buộc pha trộn nhiên liệu hàng không bền vững trong nhiên liệu hàng không. Mỹ triển khai nhiều chính sách ưu đãi để thúc đẩy sản xuất. Tại châu Á, nhiều quốc gia cũng tăng tốc xây dựng năng lực, từ vùng nguyên liệu, công nghệ chuyển hóa đến logistics và thị trường tiêu thụ.
Thị trường nhiên liệu hàng không bền vững toàn cầu có thể tăng từ 2,72 tỷ USD năm 2025 lên hơn 40 tỷ USD vào năm 2034. Riêng ASEAN, nếu đạt mức sử dụng 5% nhiên liệu hàng không bền vững vào năm 2030, nhu cầu có thể tương đương 8 đến 10 triệu tấn mỗi năm, tạo ra thị trường trị giá khoảng 25 tỷ USD.
Dù vậy, thực tế hiện tại vẫn còn khoảng cách rất lớn khi nhiên liệu hàng không bền vững chỉ chiếm chưa đến 1% tổng tiêu thụ nhiên liệu hàng không toàn cầu. Khoảng cách này phản ánh sự chênh lệch giữa "tham vọng chính sách và khả năng triển khai thực tế".
Ba rào cản lớn nhất hiện nay gồm giá nhiên liệu hàng không bền vững cao gấp 2 đến 5 lần nhiên liệu truyền thống, nguồn cung chưa đáp ứng nhu cầu, và các dự án đòi hỏi vốn lớn nhưng thiếu hợp đồng bao tiêu dài hạn.
Ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và khuyến công, Bộ Công Thương, nhận định dù thách thức lớn, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn vào thị trường nhiên liệu hàng không bền vững.
Về nguyên liệu, Việt Nam có khoảng 45 triệu tấn chất thải nông nghiệp mỗi năm, 15 triệu tấn sinh khối lâm nghiệp, hơn 5 triệu tấn sắn khô, cùng hàng triệu tấn mỡ cá và dầu ăn đã qua sử dụng.
Đặc biệt, là quốc gia xuất khẩu cá tra số một thế giới, Việt Nam có nguồn mỡ cá khoảng một triệu tấn mỗi năm. Đây là một trong những nguyên liệu chất lượng cao để sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững. Vấn đề đặt ra là cần xây dựng hệ thống thu gom, tránh để nguyên liệu tiếp tục bị xuất thô ra nước ngoài.
Về năng lực công nghiệp, Nhà máy Lọc hóa dầu Bình Sơn đã xuất bán thành công lô nhiên liệu hàng không bền vững thương mại đầu tiên vào tháng 6/2025 từ hạ tầng sẵn có, cho thấy việc chuyển đổi sang nhiên liệu xanh không nhất thiết phải xây dựng mới hoàn toàn. Petrolimex Aviation cũng đã nhập khẩu và phối trộn nhiên liệu hàng không bền vững, trong khi Skypec thực hiện tra nạp thực tế tại sân bay Đà Nẵng.
Trong khi đó, ông Đỗ Hồng Cẩm cho biết, về chính sách, Chính phủ Việt Nam đã đặt mục tiêu sử dụng tối thiểu 10% nhiên liệu hàng không bền vững cho các chuyến bay chặng ngắn vào năm 2035 và 100% vào năm 2050.
Luật Hàng không dân dụng sửa đổi, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đã bổ sung các quy định liên quan đến nhiên liệu hàng không bền vững và lộ trình giảm phát thải.
Từ đầu năm 2026, Việt Nam tham gia tự nguyện Corsia, cơ chế bù đắp và giảm carbon trong hàng không quốc tế của ICAO, trước khi chuyển sang giai đoạn tham gia bắt buộc từ năm 2027.
Nếu biết tận dụng thời điểm, Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể trở thành điểm cung ứng nhiên liệu hàng không bền vững cho khu vực.
Nhu cầu nhiên liệu hàng không tại châu Á được dự báo tiếp tục tăng nhanh, trong khi các yêu cầu giảm phát thải ngày càng chặt chẽ hơn.
Các hãng hàng không, sân bay và nhà sản xuất sẽ cần những nguồn cung ổn định, đạt chuẩn và có chi phí cạnh tranh.
Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi thế thực sự, Việt Nam cần sớm tháo gỡ các nút thắt về chính sách, tiêu chuẩn, tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư và hợp đồng bao tiêu. Bên cạnh đó là việc xây dựng cơ chế liên kết vùng nguyên liệu, tránh tình trạng manh mún, đứt gãy hoặc phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu thô.
Ông Fabrice Espinosa cho rằng điều Việt Nam đang thiếu không phải là công nghệ, vốn hay nguyên liệu, mà là "sự kết nối đồng bộ giữa các quốc gia, các ngành công nghiệp và toàn bộ chuỗi giá trị".