Cục Thuế vừa đưa ra hướng dẫn cá nhân kiểm tra thông tin thu nhập và thuế thu nhập cá nhân để tránh những sai sót và xử lý kịp thời. Thời gian qua, cơ quan thuế ghi nhận một số thông tin thu nhập và nghĩa vụ quyết toán thuế thu nhập cá nhân chưa chính xác với thực tế. Đồng thời phát sinh trường hợp thông tin định danh hoặc mã số thuế của cá nhân bị sử dụng để kê khai các khoản thu nhập không thuộc về mình.
Những sai lệch này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, làm phát sinh nghĩa vụ thuế không đúng thực tế, ảnh hưởng đến việc quyết toán thuế, hoàn thuế, xác nhận thu nhập cũng như các giao dịch khác của cá nhân.
Vì vậy, để kịp thời phát hiện, xử lý các sai sót trong thông tin thu nhập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, người nộp thuế chủ động rà soát thông tin thu nhập của mình trên ứng dụng eTax Mobile đối với các năm từ 2021 đến 2025. Trường hợp phát hiện có khoản thu nhập không thuộc về mình hoặc có đơn vị kê khai thu nhập không đúng thực tế, người nộp thuế có thể phản ánh trực tiếp trên eTax Mobile để cơ quan thuế tiếp nhận, xác minh và hỗ trợ xử lý theo quy định. Thông tin phản ánh sẽ được chuyển trực tiếp đến cơ quan quản lý thuế tổ chức chi trả thu nhập có liên quan để kiểm tra, đối chiếu và xác minh.
Cụ thể, cá nhân truy cập vào ứng dụng eTax Mobile, vào mục “Tra cứu thông tin quyết toán”, hệ thống sẽ hiển thị màn hình tra cứu thông tin quyết toán theo các điều kiện tìm kiếm gồm mã số thuế, năm quyết toán. Trong đó, mã số thuế sẽ được tự động hiển thị, không cho sửa. Tại năm quyết toán, cá nhân lựa chọn năm muốn xem thông tin trong danh sách (từ 2021 – 2025) và nhấn tra cứu, hệ thống hiển thị màn hình kết quả gồm các thông tin các nguồn thu nhập của cá nhân theo kê khai của tổ chức chi trả hoặc của cá nhân; Thông tin về việc thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân đến ngày… (ngày tra cứu) và hướng dẫn của cơ quan thuế cho từng trường hợp quyết toán thuế.
Cá nhân sẽ thực hiện theo hướng dẫn này như không thuộc trường hợp được ủy quyền quyết toán thuế hay chưa nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Đối với trường hợp người nộp thuế không ủy quyền quyết toán và tổng số thuế còn phải nộp nhỏ hơn 50.000 đồng cũng sẽ hiển thị thông báo không phải nộp hồ sơ quyết toán thuế…
Trong phần thông tin các nguồn thu nhập của cá nhân theo kê khai của tổ chức chi trả, cá nhân có thể xem chi tiết về thu nhập trong năm, tổng số tiền giảm trừ gia cảnh và thuế thuế đã khấu trừ. Nếu phát hiện kê khai các thông tin này không đúng thực tế, cá nhân bấm ngay vào mục “Gửi thông tin đến cơ quan thuế” để phản ánh và kèm các chứng từ chứng minh…
Đồng thời, Cục Thuế lưu ý người nộp thuế không cung cấp hoặc chia sẻ thông tin định danh cá nhân, mã số thuế, tài khoản giao dịch điện tử, mã OTP hoặc các thông tin xác thực khác cho tổ chức, cá nhân không có thẩm quyền. Thận trọng khi ký kết hồ sơ, chứng từ hoặc cung cấp thông tin cá nhân cho tổ chức, các nhân đề nghị sử dụng với mục đích không rõ ràng. Đồng thời không tiếp tay, cho mượn, cho thuê hoặc cho phép sử dụng thông tin cá nhân để thực hiện các hoạt động kê khai thuế, kê khai thu nhập không đúng thực tế.
Cụ thể, khoản 7, điều 13 của Nghị định 133 quy định, phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Hình thức phạt bổ sung là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 điều 13 nói trên. "Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách nhà nước", Nghị định 133 nêu.
Như vậy, mức phạt mới đối với người cho thuê nhà thu tiền điện người thuê cao 3 lần so với mức phạt hiện tại đang áp dụng theo Nghị định 134/2013. Tại khoản 6 điều 12 của Nghị định 134 (17.10.2013) quy định, phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt; phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Ngoài hành vi thu tiền điện sai giá, Nghị định cũng quy định nhiều mức xử phạt khác trong lĩnh vực điện lực. Chẳng hạn, kê khai sai số người để hưởng định mức bị phạt 3 - 5 triệu đồng; tự ý lắp đặt hoặc can thiệp hệ thống điện bị phạt 5 - 8 triệu đồng; các vi phạm nghiêm trọng khác có thể lên tới 60 - 80 triệu đồng.
Ngoài ra, điều 12 Nghị định 133 cũng quy định về vi phạm các quy định về bán lẻ điện. Cụ thể, phạt tiền tổ chức là đơn vị bán lẻ điện từ 10 - 30 triệu đồng đối với hành vị: Không ký hợp đồng mua bán điện sau 7 ngày làm việc mà không có lý do chính đáng kể từ khi bên mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã bảo đảm các điều kiện theo quy định và thỏa thuận về các nội dung trong dự thảo hợp đồng; sử dụng thiết bị đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng nghề nghiệp để sách nhiễu các tổ chức, cá nhân sử dụng điện nhằm mục đích vụ lợi.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 40 - 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi bán điện mà không có hợp đồng mua bán điện với khách hàng sử dụng điện hoặc bán điện cho khách hàng sử dụng điện khi hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã hết hiệu lực mà chưa được gia hạn.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 50 - 60 triệu đồng đối với các hành vi: Bán sai giá điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; giao kết hợp đồng mua bán điện khi bên mua điện không bảo đảm một trong các điều kiện theo quy định.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 150 - 180 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu điện mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Sau khi tiêu chí được mở rộng theo Nghị định số 54/2026, nhiều người dân quan tâm nếu chỉ sở hữu đất nhưng chưa có nhà ở có được mua nhà ở xã hội hay không?
Một công dân tại Hà Nội cho biết, đã đứng tên đất ở nhưng chưa xây nhà trên đất, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà không có thông tin về nhà ở. Người này đặt câu hỏi liệu trường hợp của mình có đáp ứng điều kiện về nhà ở để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội hay không?.
Trả lời nội dung trên, Bộ Xây dựng cho biết, để được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, người dân phải thuộc nhóm được hưởng chính sách hỗ trợ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhà ở, thu nhập theo quy định pháp luật.
Tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 quy định điều kiện về nhà ở cho đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
"… đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu;…".
Ngoài ra, Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP quy định rõ hai trường hợp được xem xét về điều kiện nhà ở.
Thứ nhất, người chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định là không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội. Trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận đề nghị, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận tình trạng nhà ở.
Thứ hai, trường hợp đã có nhà ở nhưng diện tích sử dụng bình quân dưới 15m2 sàn/người vẫn có thể đủ điều kiện. Diện tích này được tính trên cơ sở số người đăng ký thường trú tại căn nhà, gồm người đứng đơn, vợ hoặc chồng, cha mẹ và con (nếu có). UBND cấp xã sẽ xác nhận thông tin trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận hồ sơ.
Từ các quy định trên, Bộ Xây dựng khẳng định: trường hợp công dân (và vợ hoặc chồng của công dân) không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó thì đáp ứng điều kiện về nhà ở để được mua nhà ở xã hội.
Theo kết luận, Công ty Cổ phần Cà phê Gia Lai tiền thân là doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ năm 1985, sau đó chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Cà phê Gia Lai vào năm 2010 và chính thức cổ phần hóa từ tháng 9/2018. Trong quá trình hoạt động và chuyển đổi mô hình doanh nghiệp, nhiều khiếu kiện kéo dài của người lao động, hộ nhận khoán đã phát sinh liên quan đến việc bồi thường tài sản trên đất, quyền thuê đất và chế độ lao động.
Thanh tra tỉnh Gia Lai xác định quá trình cổ phần hóa cơ bản tuân thủ chủ trương và quy định pháp luật. Tuy nhiên, nhiều vi phạm nghiêm trọng đã xảy ra.
Đáng chú ý, việc xác định giá trị vườn cây cà phê kinh doanh chỉ đạt từ 68,86% đến 79,83% thay vì 100% theo quy định đã làm thất thoát vốn nhà nước hơn 26,7 tỷ đồng. Ngoài ra, 7.153 cây muồng đen có tuổi đời từ 20-35 năm – được xác định là tài sản nhà nước – cũng không được đưa vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa.
Thanh tra tỉnh nhận định vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự và kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai chuyển toàn bộ hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh để điều tra, xử lý theo quy định.
Riêng nội dung liên quan đến 7.153 cây muồng đen, Thanh tra cho biết vụ việc đã được Công an tỉnh Gia Lai thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm từ tháng 6/2025 và hiện các cơ quan tố tụng đang tiếp tục xử lý.
Kết luận thanh tra cũng chỉ ra nhiều vi phạm trong quá trình sử dụng đất sau cổ phần hóa.
Cụ thể, Công ty Cổ phần Cà phê Gia Lai đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng ngay sau khi chuyển sang mô hình công ty cổ phần, không đúng cam kết của nhà đầu tư chiến lược và không phù hợp kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Doanh nghiệp còn cho Công ty Cổ phần Gia súc Lơ Pang thuê lại 140 ha đất tại Chi nhánh Văn phòng 2 (Chư Sê), bị xác định trái với phương án cổ phần hóa và vi phạm quy định của Luật Đất đai.
Thanh tra đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu vực này không hiệu quả, việc cho thuê đất sai quy định đã ảnh hưởng đến đời sống người lao động và hộ nhận khoán, trở thành nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài. Nhiều diện tích đất bị người dân lấn chiếm trong thời gian dài nhưng chưa được xử lý dứt điểm.
Cơ quan thanh tra cũng cho rằng Sở Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương cùng các cơ quan liên quan chưa kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong quản lý đất đai tại khu vực này.
Đối với quyền lợi của các hộ nhận khoán, Thanh tra tỉnh Gia Lai xác định nhiều tài sản như vườn tiêu, cây trồng xen, giếng nước, lán trại, hệ thống tưới… do người dân tự bỏ vốn đầu tư nhưng chưa được tính toán đầy đủ khi xác định giá trị doanh nghiệp. Vì vậy, Công ty Cổ phần Cà phê Gia Lai được yêu cầu phải tính toán, bồi thường theo quy định cho các hộ nhận khoán.
Trong khi đó, yêu cầu đền bù đối với các vườn cà phê do doanh nghiệp nhà nước đầu tư trước đây được xác định là không có cơ sở giải quyết, bởi giá trị vườn cây đã được đưa vào quá trình cổ phần hóa và người nhận khoán đã được hưởng sản phẩm vượt khoán theo hợp đồng giao khoán.
Thanh tra tỉnh cũng yêu cầu Công ty Cổ phần Cà phê Gia Lai rà soát, giải quyết đầy đủ các chế độ ngừng việc, thôi việc cho người lao động; đồng thời sau khi hoàn thành nghĩa vụ với người dân và người lao động phải xây dựng phương án tái canh cà phê, tiếp tục ký hợp đồng giao khoán theo đúng phương án cổ phần hóa đã được phê duyệt.