Bộ GD-ĐT đã có Quyết định về việc phê duyệt Danh mục chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ đặt hàng triển khai Nghị quyết số 57 ngày 22.12.2024 của Bộ Chính trị (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) để tuyển chọn thực hiện từ năm 2027.
Danh sách gồm có 11 chương trình nghiên cứu khoa học. Trong đó, đề tài “Nghiên cứu phát triển nền tảng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ quản lý nông nghiệp và thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long” có mức kinh phí cao nhất, 30 tỉ đồng (20 tỉ đồng ngân sách và 10 tỉ đồng ngoài ngân sách).
Được biết, nghiên cứu này đặt mục tiêu xây dựng bộ dữ liệu số chuẩn hóa và nền tảng dữ liệu tích hợp về sản xuất lúa và nuôi tôm vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hỗ trợ quản lý, chia sẻ dữ liệu và cung cấp hạ tầng dữ liệu cho các hệ thống AI, đáp ứng yêu cầu triển khai các sản phẩm công nghệ phục vụ quản lý và phát triển nông nghiệp, thủy sản.
Ngoài ra, phát triển hệ thống quan trắc và cảnh báo thông minh tích hợp dữ liệu từ IoT, viễn thám, UAV và các nguồn dữ liệu khác nhằm giám sát môi trường và hỗ trợ quản lý sản xuất; triển khai thử nghiệm và đánh giá nền tảng AI tại một số mô hình thực tế (ruộng lúa, ao nuôi tôm) ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long…
Bộ GD-ĐT yêu cầu chương trình nghiên cứu này phải có 5 bài báo thuộc WoS xếp hạng Q1/Q2, 5 bài báo thuộc Scopus xếp hạng Q1/Q2, 5 bài báo thuộc WoS/Scopus xếp hạng Q3/Q4, đào tạo 2 nghiên cứu sinh thực hiện luận án theo hướng của đề tài, 4 thạc sĩ bảo vệ thành công luận văn/đề án theo hướng của đề tài. Đồng thời phải có 1 bằng độc quyền sáng chế.
Chương trình nghiên cứu có mức kinh phí lớn thứ 2 với 26 tỉ đồng (ngân sách nhà nước 20 tỉ đồng và ngân sách ngoài nhà nước 6 tỉ đồng) là “Nghiên cứu, phát triển một số công nghệ chiến lược lõi và sản phẩm UAV thông minh phục vụ phát triển kinh tế tầm thấp và chuyển đổi số quốc gia”.
Mục tiêu của đề tài này là nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ nền tảng và công nghệ lõi cho hệ sinh thái UAV thông minh thế hệ mới, tích hợp thiết kế phương tiện bay, năng lượng, điều khiển tự hành, truyền thông, bảo mật, trí tuệ nhân tạo, điện toán biên và bản sao số, nhằm tạo ra nguyên mẫu và hệ thống UAV có khả năng ứng dụng thực tiễn cao.
Bên cạnh đó, phát triển nguồn nhân lực UAV thông minh chất lượng cao ở bậc ĐH và sau ĐH, hình thành năng lực R&D UAV chất lượng cao và đồng bộ tại Việt Nam, phát triển mạng lưới hợp tác giữa trường ĐH, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, góp phần thúc đẩy kinh tế số, xã hội số và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đề tài này yêu cầu có ít nhất 35 bài báo được đăng (hoặc chấp nhận đăng) trên tạp chí khoa học WoS/SCIE được Scimago xếp hạng, trong đó tối thiểu 20 bài Q1/Q2, 12 sáng chế/giải pháp hữu ích được chấp nhận đơn, 2 sách giáo trình/tham khảo, 20 học viên cao học, 10 nghiên cứu sinh.
Hai đề tài có mức kinh phí lớn thứ 3 với 25 tỉ đồng/đề tài là “Phát triển công nghệ y tế số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu sức khỏe phục vụ chăm sóc sức khỏe thông minh trong sàng lọc, phát triển sớm nguy cơ tim mạch và dự phòng đột quỵ trong cộng đồng tại Việt Nam” và “Nghiên cứu công nghệ lưu trữ CO₂ dạng hydrate, định hướng ứng dụng trong các thành hệ địa chất tại Việt Nam”.
Các đề tài còn lại có mức kinh phí từ 10-23 tỉ đồng như “Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trường học lắp ghép cho các xã biên giới đất liền Việt Nam”; “Phát triển nền tảng công nghệ sinh học số phục vụ thiết kế, thẩm định và tối ưu hóa quy trình chế biến nhiệt thực phẩm dựa trên dữ liệu vi sinh vật và dữ liệu động học nhiệt của Việt Nam”; “Nghiên cứu phát triển vật liệu nano thấp chiều (OD2D) cho cảm biến thông minh và linh kiện bán dẫn”…
Mỗi đề tài thực hiện trong vòng 36 tháng (tháng 1.2027 đến tháng 12.2029). Việc tuyển chọn, xét duyệt hồ sơ của tổ chức/cá nhân được thực hiện theo Thông tư số 9 (năm 2018) ban hành quy định về quản lý chương trình khoa học và công nghệ cấp bộ của Bộ GD-ĐT.
Theo đó, hồ sơ đăng ký tham gia tuyển chọn để thực hiện các chương trình nghiên cứu trên được đánh giá thông qua Hội đồng tư vấn (do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thành lập). Hội đồng này sẽ có trách nhiệm nhận xét bằng văn bản đối với từng hồ sơ; đánh giá trung thực, khách quan và công bằng; chấm điểm độc lập theo các nhóm tiêu chí đánh giá và thang điểm…
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quyết định chọn tổ chức, cá nhân thực hiện chương trình trên cơ sở ý kiến tư vấn của Hội đồng tư vấn. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng GD-ĐT có quyền lấy ý kiến của chuyên gia tư vấn độc lập trước khi quyết định.
Chiều 7.5, tại Trung tâm T-TEP (chương trình đào tạo kỹ thuật viên Toyota), Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức bế giảng, trao chứng chỉ cho học viên các khóa đào tạo kỹ thuật viên Toyota và đồng thời khai giảng các khóa đào tạo tiếp theo.
Tham dự chương trình có đại diện lãnh đạo Toyota Việt Nam, lãnh đạo các đại lý Toyota khu vực phía nam; đại diện Ban giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long, lãnh đạo các đơn vị, giảng viên cùng đông đảo sinh viên Khoa Cơ khí động lực.
Tại buổi lễ, nhà trường đã trao chứng chỉ kỹ thuật viên Toyota cho 40 học viên, trong đó có trên 90% học viên được tuyển dụng vào làm việc tại các đại lý Toyota ngay sau quá trình đào tạo và thực tập. Kết quả này cho thấy hiệu quả rõ nét của mô hình đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, đồng thời khẳng định năng lực đào tạo thực hành của Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long trong lĩnh vực kỹ thuật ô tô.
Chương trình đào tạo kỹ thuật viên Toyota gồm 2 định hướng chuyên sâu, được Công ty ô tô Toyota Việt Nam và Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long triển khai từ năm 2017 với chương trình sửa chữa chung (cơ khí, điện - điện tử ô tô) và năm 2019 với chương trình sửa chữa thân xe - sơn. Mô mô hình đào tạo gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu hình thành đội ngũ kỹ thuật viên có tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu thực tế của thị trường lao động ngành ô tô.
Theo đó, học viên được đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ thuật của Toyota Việt Nam với thời lượng kết hợp giữa học tập chuyên môn tại trường trong thời gian 2 tháng và thực tập thực tế tại các đại lý Toyota từ 3 - 4 tháng. Mô hình này giúp học viên nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường làm việc thực tế.
Việc hợp tác đào tạo giữa Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long và Toyota Việt Nam không chỉ mở rộng cơ hội việc làm cho sinh viên mà còn góp phần cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho khu vực ĐBSCL và cả nước. Đồng thời, đây cũng là minh chứng cho định hướng đào tạo ứng dụng, lấy nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động làm trung tâm mà nhà trường đang thực hiện.
Theo đó, với phương thức xét điểm thi tốt nghiệp THPT, điểm sàn xét tuyển của ngành y khoa và răng hàm mặt cao nhất, 22 điểm. Hai ngành dược học và y học cổ truyền có mức điểm sàn là 20.
Các ngành kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, kỹ thuật hình ảnh y học, điều dưỡng, hộ sinh có mức điểm sàn là 18. Điểm sàn ngành kỹ thuật y sinh, y tế công cộng và dinh dưỡng là 15.
Đối với nhóm ngành pháp luật, hai ngành luật và luật kinh tế có mức điểm sàn là 20. Các ngành còn lại thuộc khối kinh tế - quản trị, ngôn ngữ và văn hóa quốc tế, khoa học xã hội, công nghệ - kỹ thuật là 15 điểm.
Mức điểm sàn được tính theo tổng điểm của 3 môn trong tổ hợp xét tuyển từ kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, không nhân hệ số và chưa bao gồm điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng theo quy định hiện hành.
Cùng với điểm sàn theo phương thức thi tốt nghiệp THPT, Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng cũng đã công bố điểm sàn đối với các phương thức khác. Cụ thể, với phương thức xét tuyển kết hợp giữa điểm thi tốt nghiệp THPT và học bạ lớp 12, điểm sàn là 16.
Tại phương thức xét kết quả học bạ, thí sinh cần đạt tổng điểm trung bình 3 môn theo tổ hợp xét tuyển (6 học kỳ) từ 18 điểm trở lên đối với phần lớn các ngành. Riêng khối ngành sức khỏe có cấp giấy phép hành nghề, ngưỡng học bạ cao hơn tùy ngành. Trong đó ngành y khoa và răng hàm mặt là 22,5 điểm, các ngành còn lại từ 18-21 điểm.
Với phương thức xét tuyển bằng kết quả thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM (thang điểm 1.200), trường nhận hồ sơ từ 650 điểm đối với phần lớn các ngành. Các ngành y khoa, răng hàm mặt, luật và luật kinh tế yêu cầu từ 700 điểm; y học cổ truyền và dược học từ 675 điểm.
Ở các phương thức xét kết hợp, xét học bạ và xét điểm thi đánh giá năng lực, thí sinh cần có tổng điểm 3 môn trong tổ hợp đạt tối thiểu 15 điểm trở lên tại kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Thông tin điểm sàn khối ngành sức khỏe và pháp luật như sau:
Thí sinh đăng ký nguyện vọng vào các trường ĐH trên hệ thống xét tuyển chung của Bộ GD-ĐT từ ngày 2.7 đến 17 giờ ngày 14.7. Trong thời gian này, thí sinh đăng ký, điều chỉnh, bổ sung nguyện vọng xét tuyển không giới hạn số lần trong tổng số nguyện vọng được phép đăng ký xét tuyển.
Bạn đọc có thể xem thông tin điểm sàn xét tuyển các trường khác tại đây.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ "mở ngành đào tạo", sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.