Điện thoại của anh Minh, 48 tuổi, cài vài ứng dụng khám bệnh khác nhau. Cứ mỗi lần đưa bố mẹ đi khám ở một bệnh viện, anh phải cài thêm một app của bệnh viện đó để đặt lịch khám và tái khám, lấy số, xem kết quả chụp chiếu xét nghiệm. Có hôm mẹ anh khám ở bệnh viện tuyến trên còn bố lấy thuốc ở bệnh viện quận, hồ sơ bệnh mạn tính lại ở trạm y tế vẫn ghi bằng sổ giấy. Mỗi nơi lưu một kiểu nên anh thường phải chụp lại toa thuốc, giữ kết quả xét nghiệm trong máy và nhiều lần vào viện loay hoay khai lại bệnh sử cho người thân.
Tình trạng “mỗi nơi một app” này khiến dữ liệu sức khỏe của người bệnh bị chia nhỏ. Bác sĩ khó xem đầy đủ lịch sử khám chữa bệnh, thuốc đang dùng hay kết quả xét nghiệm trước đó, dẫn đến có thể phải chỉ định kiểm tra lại, tốn thời gian và chi phí.
Để khắc phục, ngày 29/4, Sở Y tế TP HCM cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Chuyển đổi số và Công an TP HCM triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử trên Ứng dụng Công dân số TP HCM. Ứng dụng này hướng tới gom toàn bộ dữ liệu y tế của người dân lên một nền tảng chung. Khi dữ liệu được liên thông bằng mã định danh cá nhân, người dân có thể tra cứu lịch sử khám bệnh ngay trên điện thoại, đồng thời bác sĩ ở các cơ sở y tế khác nhau cũng có thể xem thông tin cần thiết để phục vụ điều trị.
Chia sẻ với VnExpress, Giám đốc Sở Y tế TP HCM Tăng Chí Thượng nhìn nhận quá trình này gặp nhiều thách thức. Rào cản lớn không chỉ hạ tầng công nghệ, mà dữ liệu đang phân tán và thói quen lưu trữ bệnh án giấy của cả người dân lẫn nhân viên y tế chưa thể bỏ ngay lập tức.
“Nếu không phân định rõ trách nhiệm từng đơn vị trong chuỗi cung ứng và quản lý, hệ thống dễ rơi vào tình trạng ‘cha chung không ai khóc’, khiến dữ liệu bị gián đoạn, thiếu cập nhật và giảm giá trị sử dụng”, người đứng đầu ngành y tế thành phố nói.
Để giải quyết, ông Thượng cho rằng yếu tố quyết định thành công không chỉ nằm ở công nghệ, mà cốt lõi là quản trị triển khai. Từ kinh nghiệm các quốc gia đi trước, nguyên tắc “rõ người, rõ việc” luôn được đặt lên hàng đầu nhằm đảm bảo mục tiêu nhanh, đủ và chính xác, không chồng chéo, không bỏ trống.
Thành phố đang học hỏi kinh nghiệm “số hóa hồ sơ sức khỏe” từ một số nước. Ví dụ, thực tiễn tại Estonia cho thấy cần sự phối hợp khi cơ quan quản lý dân cư chịu trách nhiệm về dữ liệu nhân thân, còn cơ sở y tế cập nhật thông tin khám chữa bệnh theo mã định danh duy nhất của mỗi người dân. Tại Singapore, hệ thống vận hành theo nguyên tắc dữ liệu phát sinh ở đâu cập nhật tại đó, kèm cơ chế giám sát, truy xuất trách nhiệm rõ ràng. Trong khi đó, ở Đan Mạch, chính quyền địa phương đảm bảo độ bao phủ dữ liệu, còn bác sĩ gia đình quản lý hồ sơ sức khỏe xuyên suốt vòng đời người dân.
“Áp dụng các kinh nghiệm này, TP HCM xác định phân công trách nhiệm rõ ràng là nguyên tắc mang tính sống còn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của nhiều ngành”, ông Thượng nói.
Giải pháp, trước hết, chính quyền địa phương, cụ thể là UBND xã, phường, thị trấn, giữ vai trò nền tảng trong việc lập và rà soát danh sách dân cư, đối chiếu với dữ liệu căn cước công dân và VNeID để tạo đầu vào chính xác, không bỏ sót hay trùng lặp.
Ở tuyến cơ sở, trạm y tế sẽ là nơi theo dõi, cập nhật tình trạng sức khỏe thường xuyên cho người dân, nhất là người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính, giúp hồ sơ sức khỏe được duy trì liên tục thay vì đứt quãng sau mỗi lần đi khám. Điều này càng quan trọng khi TP HCM đặt mục tiêu trong năm 2026 tầm soát bệnh ít nhất một lần cho toàn bộ cư dân, kéo theo lượng dữ liệu y tế rất lớn cần được lưu trữ và liên thông đồng bộ.
Song song đó, ngành công an bảo đảm tính chính xác của dữ liệu định danh, theo ông Thượng. Ngành y tế chịu trách nhiệm chuẩn hóa dữ liệu, ban hành quy chuẩn và hướng dẫn kết nối thông tin. Ở góc độ hạ tầng, Trung tâm Chuyển đổi số và Sở Khoa học Công nghệ bảo đảm nền tảng kỹ thuật vận hành thông suốt, an toàn và tích hợp hiệu quả với ứng dụng.
Dù vậy, ông cho rằng nỗ lực từ cơ quan quản lý khó phát huy tối đa nếu thiếu sự chủ động của người dân. Hệ thống chỉ thực sự đi vào đời sống khi mỗi người cài đặt ứng dụng, đăng ký định danh điện tử và cung cấp thông tin trung thực. Việc sử dụng hồ sơ điện tử khi đi khám giúp bác sĩ có đầy đủ dữ liệu, bảo vệ quyền lợi bảo hiểm y tế cho bệnh nhân.
Với anh Minh, nếu hệ thống “số hóa hồ sơ y tế” vận hành hiệu quả, anh hy vọng sẽ không còn cảnh phải giữ hàng chục tấm hình toa thuốc hay loay hoay chuyển qua lại giữa nhiều ứng dụng mỗi lần đưa bố mẹ đi khám.
“Chỉ cần mở một ứng dụng sức khỏe là bác sĩ biết người bệnh đã khám ở đâu, uống thuốc gì trước đó thì cả bệnh nhân lẫn bác sĩ đỡ cực hơn rất nhiều”, anh nói.
Tối 17-5, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho biết các bác sĩ của bệnh viện đã thực hiện thành công ca ghép tim cho bệnh nhi 15 tuổi, ngụ ở TP.HCM vào rạng sáng 16-5. Hiện sức khỏe của bệnh nhân tiến triển thuận lợi.
Đây là ca ghép tim thứ 11 tại bệnh viện, đồng thời là trường hợp đặc biệt khi toàn bộ quá trình hội chẩn, điều phối, chuẩn bị và phẫu thuật phải được triển khai trong thời gian rất ngắn.
Trước phẫu thuật, bệnh nhi rơi vào tình trạng suy tim giai đoạn cuối, diễn tiến nguy kịch. Kết quả siêu âm cho thấy chức năng co bóp cơ tim suy giảm nghiêm trọng, phân suất tống máu chỉ còn khoảng 5%, nguy cơ tử vong rất cao nếu không được ghép tim kịp thời.
Trước đó, ngày 15-5, bệnh viện tiếp nhận thông tin có nguồn tim hiến phù hợp từ Bệnh viện Việt Đức. Thời điểm này, bệnh viện đang theo dõi hai bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối đều có chỉ định chờ ghép tim. Sau khi hội chẩn, căn cứ tình trạng lâm sàng, mức độ khẩn cấp và sự tương thích của tạng hiến, hội đồng chuyên môn quyết định chỉ định ghép tim cho bệnh nhi 15 tuổi.
Dưới sự chỉ đạo của PGS.TS.BS Nguyễn Hoàng Bắc, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược, quy trình cấp cứu ghép tạng khẩn cấp được kích hoạt.
Ê kíp ghép tim do GS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định, Phó giám đốc bệnh viện, phụ trách, cùng nhiều chuyên khoa và bộ phận hỗ trợ phối hợp triển khai các khâu chuẩn bị.
Khoảng 22h30 ngày 15-5, tim hiến được đưa vào phòng mổ. Đến 23h45 cùng ngày, trái tim mới bắt đầu đập trong lồng ngực bệnh nhi. Sau phẫu thuật, tim ghép hoạt động ổn định và bệnh nhi tiếp tục được theo dõi, chăm sóc tích cực theo quy trình hậu ghép.
Theo GS.TS.BS Nguyễn Hoàng Định, áp lực lớn nhất của ca ghép này là thời gian chuẩn bị gấp rút. Từ lúc xác định có nguồn tim phù hợp đến khi hoàn tất thủ tục và đưa tạng vào phòng mổ, ê kíp chỉ có khoảng 3 giờ để huy động gần 100 nhân sự thuộc nhiều chuyên khoa tham gia.
"Những kinh nghiệm tích lũy từ 10 ca ghép tim trước cùng sự phối hợp ngày càng đồng bộ giữa các ê kíp là nền tảng quan trọng giúp ca ghép thứ 11 được triển khai kịp thời, an toàn", GS Định chia sẻ.
Theo bệnh viện, thành công của ca ghép tiếp tục khẳng định năng lực tổ chức, điều phối và triển khai kỹ thuật ghép tạng chuyên sâu, đặc biệt trong các tình huống cấp cứu khẩn cấp.
Hiện vẫn còn nhiều bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối đang chờ nguồn tạng phù hợp để có cơ hội được điều trị.
Bệnh viện Đại học Y Dược bày tỏ sự tri ân đối với người hiến và gia đình người hiến, đồng thời kỳ vọng nghĩa cử hiến tạng sẽ tiếp tục lan tỏa trong cộng đồng, góp phần cứu sống thêm nhiều người bệnh.
Trường hợp trên được bác sĩ chuyên khoa thận Hồng Vĩnh Tường (Đài Loan) chia sẻ. Bệnh nhân Lý là người vốn có thể trạng khỏe mạnh và đam mê câu cá biển. Ông Lý duy trì thói quen ăn hải sản mỗi ngày trong thời gian dài. Tuy nhiên, trong một lần kiểm tra sức khỏe gần đây, kết quả khiến ông bàng hoàng khi chỉ số thanh thải creatinine giảm xuống còn 46 mL/min (mức độ bệnh thận mạn tính giai đoạn trung bình).
Đáng chú ý, nồng độ kim loại nặng asen trong nước tiểu của ông lên tới 586,9 μg/L, cao gấp 6 lần mức cho phép. Không chỉ vậy, nồng độ chì trong cơ thể cũng vượt ngưỡng. Việc tiếp xúc với đa kim loại nặng đã đẩy các ống thận vào tình trạng bị áp lực oxy hóa nghiêm trọng.
Trong quá trình điều trị, bác sĩ Tường yêu cầu ông Lý dừng ngay việc ăn các loại hải sản tự đánh bắt, đồng thời chuyển sang dùng nước lọc qua hệ thống tinh lọc chất lượng cao. Bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc giải độc đường uống, hoạt động như một "thanh nam châm" để hút các ion kim loại trong máu và đào thải ra ngoài.
Sau nửa năm kiên trì, nồng độ asen trong nước tiểu của ông Lý đã trở về mức bình thường. Chức năng thận (chỉ số thanh thải creatinine) hồi phục từ 46 lên 80 mL/min. Bệnh nhân đã thành công đảo ngược tình trạng từ "suy thận trung bình" về mức "tổn thương nhẹ", thoát khỏi nỗi ám ảnh phải chạy thận trong tương lai.
Dựa trên các tiêu chuẩn vệ sinh mới nhất giai đoạn 2024-2025 của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (TFDA), bác sĩ Hồng Vĩnh Tường liệt kê 5 nhóm thực phẩm người dân cần đặc biệt cảnh giác:
Cá biển sâu kích thước lớn
Cá cờ, cá ngừ, cá mập, cá dầu... là những loài săn mồi đứng đầu chuỗi thức ăn. Qua quá trình tích tụ sinh học, nồng độ methyl thủy ngân trong cơ thể chúng có thể cao gấp hàng chục nghìn lần so với nước biển. Chất này có độc tính cực mạnh, tấn công trực tiếp vào cầu thận. Người dân nên thay thế bằng các loại cá nhỏ như cá thu, cá nục và tránh ăn da, nội tạng cá.
Nội tạng động vật
Quan niệm "ăn gì bổ nấy" là một sai lầm lớn. Thận và gan là cơ quan chuyển hóa độc tố. Khi động vật tiếp xúc với cadmium (Cd) trong môi trường, chất này sẽ tích tụ tại đây. Cadmium có chu kỳ bán rã trong cơ thể người lên đến 30 năm, tiêu thụ lâu dài sẽ gây rối loạn chức năng ống thận gần.
Động vật có vỏ và gạch cua/tôm
Sò điệp, hàu và đặc biệt là gạch cua thường hấp thụ dinh dưỡng bằng cách lọc nước biển, đồng thời cô đặc asen và cadmium trong các tuyến cơ thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hàm lượng kim loại nặng trong gạch cua (tuyến sinh dục và gan tụy) thường cao gấp hàng chục lần so với thịt cua.
Gạo và ngũ cốc không rõ nguồn gốc
Cây lúa có khả năng hấp thụ cadmium rất mạnh. Nếu trồng trên đất bị ô nhiễm nước thải công nghiệp sẽ tạo ra "gạo nhiễm chì/cadmium". Ăn gạo này lâu dài có thể gây bệnh Itai-itai, dẫn đến protein niệu nghiêm trọng và mất xương.
Thực phẩm chế biến màu sắc sặc sỡ
Một số loại phẩm màu công nghiệp bất hợp pháp trong mứt, bánh kẹo giá rẻ có thể chứa hàm lượng chì cao. Chì gây xơ hóa mô kẽ thận mạn tính, đặc biệt nguy hiểm với thận đang phát triển của trẻ em.
Để bảo vệ thận, bác sĩ khuyến nghị bổ sung 4 nhóm thực phẩm giúp hỗ trợ giải độc:
Mộc nhĩ đen và khoai lang: Giàu chất xơ, đóng vai trò như "máy hút bụi" giúp hấp thụ kim loại nặng trong đường ruột.
Bí đỏ và táo: Chứa pectin giúp liên kết các kim loại nặng và đào thải qua phân.
Tỏi, hành tây và rau mùi: Chứa các hợp chất lưu huỳnh, hỗ trợ gan tổng hợp Glutathione - chất giải độc kim loại nặng quan trọng nhất của cơ thể.
Lợi khuẩn (Probiotics): Một số chủng lợi khuẩn có khả năng gắn kết với kim loại nặng trong ruột, làm giảm đáng kể tỷ lệ hấp thụ vào máu.
"Bối cảnh già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và thay đổi lối sống như hút thuốc, thừa cân béo phì, ít vận động được xem là những yếu tố góp phần làm tăng số ca mắc", PGS.TS.BS. Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nói tại Hội thảo khoa học về Ung thư (Oncology Summit) do AstraZeneca Việt Nam phối hợp Hội Ung Thư tổ chức, hôm 11/4.
Hiện, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca ung thư mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư. Tỷ suất mắc - tử vong ở mức 150,8 và 99 trên 100.000 dân, phản ánh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đối với hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Theo dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu đăng trên tạp chí The Lancet, số ca ung thư tại Việt Nam có thể tăng 60-70% trong khoảng 25 năm tới.
Các loại ung thư phổ biến gồm vú, gan, phổi, đại trực tràng và dạ dày. Xu hướng trẻ hóa ở một số bệnh như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đặt ra thách thức mới về tầm soát sớm, chẩn đoán và điều trị.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Ngoài ra, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi.
Dưới áp lực gánh nặng ung thư ngày càng gia tăng và xu hướng trẻ hóa bệnh nhân tại Việt Nam, PGS Diệu cho rằng ứng dụng các tiến bộ y học không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
"Thúc đẩy y học chính xác, với trọng tâm là cá thể hóa phác đồ điều trị, mở ra một kỷ nguyên chăm sóc y tế dựa trên bằng chứng và đặc điểm riêng của từng người bệnh", PGS Diệu nói. Chìa khóa cho kỷ nguyên này nằm ở việc triển khai các kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến. Ví dụ, sinh thiết lỏng trong xét nghiệm sinh học phân tử, kết hợp hạ tầng dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, theo dõi.
Tại hội nghị, TS.BS Jomtana Siripaibun, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chulabhorn (Thái Lan) cho hay thúc đẩy hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) số hóa và sinh thiết lỏng là nền tảng cho cá thể hóa điều trị ung thư bằng y học chính xác. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh nhân ung thư có thể cải thiện thời gian sống thêm hơn 15 tháng nếu áp dụng MDT vào chẩn đoán và điều trị so với không áp dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vận hành MDT chưa được thường quy, trong đó có thiếu hạ tầng số khiến dữ liệu bị phân tán. Giải pháp được các chuyên gia quốc tế chia sẻ nằm ở việc triển khai các nền tảng MDT số hóa, kết nối trực tiếp với hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi kết quả điều trị theo thời gian thực.
MDT là chiến lược sống còn trong điều trị ung thư, và chuyển đổi số là điều kiện bắt buộc để mô hình này vận hành bền vững. "Khi triển khai nền tảng MDT số hóa kết nối dữ liệu lâm sàng, chúng tôi ghi nhận quy trình chuẩn bị ca bệnh hiệu quả hơn và hồ sơ điều trị đầy đủ, nhất quán hơn", bà nói. Điều quan trọng là bắt đầu từ một nhóm bệnh ưu tiên và một quy trình hội chẩn chuẩn, theo dõi đầy đủ, để từng bước xây dựng năng lực hệ thống cho chăm sóc ung thư hiện đại.
Còn TS.BS Chien-Feng Li, Trưởng khoa Giải phẫu bệnh lâm sàng và Xét nghiệm Trung tâm Y tế Chi Mei, Giáo sư Trường Y khoa, Đại học Quốc gia Sun Yat-sen, Đài Loan, đánh giá những tiến bộ trong sinh thiết lỏng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Cách tiếp cận này giúp lựa chọn điều trị phù hợp hơn cho từng người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả điều trị, chăm sóc.