Các tổ máy nhiệt điện than tại những nhà máy điện than của Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) liên tục được huy động ở cường độ lớn. Đặc biệt tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải có sản lượng bốc dỡ than đạt mức cao. Trong giai đoạn nắng nóng tháng 4 và đầu tháng 5, nhu cầu điện tăng mạnh, các nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, 3 và 3 mở rộng thường xuyên được huy động cao, khiến cho sản lượng điện sản xuất thực tế cao hơn sản lượng kế hoạch.
Tại ba nhà máy của Trung tâm Điện lực Duyên Hải, sản lượng kế hoạch đưa ra là 1,6 tỉ kWh nhưng sản lượng vận hành thực tế lên tới 1,8 tỉ kWh (tăng tới 111,1%). Khối lượng than bốc dỡ cho nhà máy này để đáp ứng nhu cầu huy động lên tới hơn 1 triệu tấn.
Từ 1-5 đến hết ngày 11-5, các nhà máy nhiệt điện đều được huy động ở mức cao. Chẳng hạn Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 huy động đạt 224,2 triệu kWh, Duyên Hải 3 huy động 307,2 triệu kWh (trung bình xấp xỉ 28 triệu kWh/ngày) và Duyên Hải 3 mở rộng đạt 102,8 triệu kWh.
Theo ông Lê Hải Đăng – Tổng giám đốc EVNGENCO 1, kế hoạch điều hành trong tháng 5, sản lượng điện toàn tổng công ty được xác định ở mức 3,92 tỉ kWh. Các chỉ tiêu này đòi hỏi công tác vận hành phải được tổ chức chặt chẽ, linh hoạt, bám sát phương thức huy động của hệ thống.
Việc huy động vượt kế hoạch nhiều nhà máy điện than khiến cho ngành than cũng phải căng mình cung ứng đủ nhiên liệu than cho sản xuất điện. Theo Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trong tháng 4 cung ứng than cho sản xuất điện với sản lượng cấp dự kiến đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102,1% kế hoạch tháng và kế hoạch trong tháng 5 này sẽ là 4,3 triệu tấn. “Các đơn vị thuộc tập đoàn đang tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo nguồn than sẵn sàng huy động tối đa cho các nhà máy nhiệt điện, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô”, một lãnh đạo của tập đoàn này cho biết.
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), nhu cầu tiêu dùng điện trong quý 2 tăng mạnh do cao điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài và tiêu thụ điện tại các khu công nghiệp gia tăng. EVN đã phải yêu cầu các đơn vị phát điện đảm bảo đủ nhiên liệu, sẵn sàng vận hành các tổ máy theo phương thức hệ thống, nâng cao độ khả dụng và tin cậy nguồn điện. Do sản lượng điện than cho toàn hệ thống chiếm khoảng 52,8% nên các đơn vị cung ứng được yêu cầu sẵn sàng huy động ở mức cao hơn kế hoạch.
Trả lời Tuổi Trẻ, đại diện Bộ Công Thương cho hay trong 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống tăng trưởng khoảng 7,5%. Việc cung ứng năng lượng chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố như căng thẳng ở khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng đến việc cung cấp nhiên liệu khí LNG và dẫn đến tăng giá nhiên liệu (khí LNG, than nhập khẩu) cho sản xuất điện.
Đồng thời thời tiết đang có xu hướng diễn biến cực đoan, dự báo các đợt nắng nóng gay gắt xuất hiện với tần suất cao tại nhiều địa phương tăng cao kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện tăng mạnh. Các yếu tố ảnh hưởng mang tính toàn cầu, diễn biến nhanh và khó dự báo cũng gây ra những thách thức lớn đối với cân đối cung – cầu điện cả ngắn hạn và dài hạn.
Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số và thực hiện các cam kết chuyển dịch năng lượng là yêu cầu lớn đặt ra. Ngoài ra Bộ Công Thương cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức nội tại.
Đó là công suất khả dụng của hệ thống điện quốc gia suy giảm so với tổng công suất đặt, đặc biệt là vào giai đoạn cuối mùa khô do ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, mực nước các hồ chứa thủy điện, sự cố của các nguồn nhiệt điện, khả năng cung cấp nhiên liệu và sự cố lưới điện.
Năm 2026 được dự báo là có nền nhiệt độ trung bình và kéo dài các đợt nắng nóng trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Quá trình chuyển pha giữa La Nina sang El Nino có thể diễn biến khó lường, làm gia tăng sai số trong công tác dự báo phụ tải. Hiện tượng này không chỉ làm nhu cầu phụ tải điện tăng cao đột biến, nhất là vào các giờ cao điểm trưa và chiều, mà còn ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm.
“Những yếu tố này gây áp lực lớn lên công tác lập kế hoạch vận hành và điều độ hệ thống điện, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt công suất trong các thời kỳ cao điểm nếu không có các phương án ứng phó kịp thời, linh hoạt”, vị này nói.
Ngày 17.5, Phòng CSGT Công an thành phố Đà Nẵng cho biết tổ công tác thuộc Đội CSGT đường bộ số 2 vừa kịp thời hỗ trợ một cụ ông 90 tuổi đi lạc trở về đoàn tụ cùng gia đình sau hành trình gần 250 km.
Trước đó, vào khoảng 21 giờ 30 tối qua 16.5, trong quá trình tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông, tổ công tác do thiếu tá Đoàn Kim Hải làm tổ trưởng nhận được thông tin từ Công an phường Bàn Thạch về trường hợp cụ H.T.T (90 tuổi, trú huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai) có biểu hiện mất trí nhớ và đi lạc nhiều giờ.
Ngay sau đó, lực lượng CSGT đã tiếp nhận, động viên ổn định tinh thần cho cụ T., đồng thời xác minh thông tin và liên hệ với người thân. Tổ công tác kết nối với một xe khách tuyến cố định hỗ trợ đưa cụ T. trở về quê nhà an toàn ngay trong đêm.
Đến khoảng 2 giờ 30 ngày 17.5, cụ T. đã được bàn giao cho gia đình trong niềm xúc động của người thân.
Anh H.T.N, con trai cụ T., cho biết cha mình rời khỏi nhà từ sáng 16.5, gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức. Khi nhận được điện thoại từ lực lượng chức năng Đà Nẵng thông báo cụ T. đang được hỗ trợ an toàn, cả gia đình rất bất ngờ và xúc động.
Gia đình cụ T. gửi lời cảm ơn đến cán bộ, chiến sĩ CSGT Đà Nẵng vì tinh thần trách nhiệm, tận tâm giúp đỡ người dân.
Từng được kỳ vọng là lời giải cho bài toán tận dụng bùn nạo vét kênh mương thay thế cát, nhưng ngân hàng đất tại Cà Mau đang rơi vào trạng thái "đứng hình". Sau 8 năm hình thành, khu đất rộng 11 ha tại xã Cái Nước vẫn chỉ là đầm nước bỏ hoang, chưa tiếp nhận bất kỳ khối lượng đất nào, trong khi tổng vốn đầu tư đã vượt 26,6 tỉ đồng.
Trong văn bản của Sở Nông nghiệp - Môi trường Cà Mau trả lời PV Thanh Niên, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở hạ tầng hay nhu cầu sử dụng, mà ở việc mô hình ngân hàng đất chưa có quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật hiện hành. Đây là mô hình mới, mang tính thí điểm, chưa từng có tiền lệ trên cả nước, khiến quá trình xây dựng đề án rơi vào tình trạng vừa làm vừa dò đường nên ngân hàng đất chưa thể vận hành.
Từ khi được bàn giao năm 2018, đơn vị quản lý đã nhiều lần xây dựng đề án để đưa ngân hàng đất vào khai thác. Tuy nhiên, mỗi lần trình đều gặp vướng mắc về cơ chế, phải điều chỉnh, bổ sung và làm lại từ đầu. Có thời điểm, phương án vận hành theo hình thức đối tác công - tư được đề xuất, nhưng không thể triển khai do không đáp ứng điều kiện tổng mức đầu tư tối thiểu theo quy định.
Không dừng lại ở đó, phương án đấu thầu lựa chọn đơn vị khai thác cũng rơi vào tình trạng "bế tắc" khi các bộ, ngành Trung ương chưa có hướng dẫn cụ thể. Dù tỉnh đã chủ động xin ý kiến nhiều bộ liên quan, nhưng các phản hồi vẫn mang tính chung chung, chưa đủ cơ sở để triển khai thực tế.
Để "mở đường" pháp lý, ngân hàng đất đã phải đổi tên thành "bãi vật tư" từ cuối năm 2023. Tuy nhiên, việc đổi tên không giải quyết được cốt lõi khi đề án vẫn phải chỉnh sửa nhiều lần do thiếu cơ sở định giá và chưa có chứng thư giá cho thuê.
Không chỉ vướng cơ chế, ngân hàng đất còn thiếu nguồn đất. Nguồn phù sa từ thượng nguồn hạn chế, trong khi địa phương ưu tiên đất cho xây dựng nông thôn mới, khiến ngân hàng đất không tiếp nhận được bất kỳ khối lượng đất nào.
Phía cơ quan quản lý cho rằng, ngân hàng đất là dự án thí điểm nên chậm do yếu tố khách quan. Khi hành lang pháp lý chưa rõ, ngân hàng đất vẫn chưa thể "về đích".
Trước đó, xuất phát từ nhu cầu tìm nguồn vật liệu san lấp thay thế cát ngày càng khan hiếm và đắt đỏ, tỉnh Cà Mau đã học tập mô hình ngân hàng đất từ Hà Lan. Ngân hàng đất được định hướng là nơi tiếp nhận, lưu trữ đất bùn nạo vét từ hệ thống kênh cấp 1, cấp 2 thuộc tiểu vùng 10 - nam Cà Mau, sau đó xử lý để phục vụ xây dựng và san lấp.
Sau chuyến khảo sát tại Hà Lan cùng đại diện Ngân hàng Thế giới - đơn vị tài trợ vốn, ý tưởng ngân hàng đất được hình thành. Cuối năm 2017, khu vực ngân hàng đất hoàn tất thu hồi, giải phóng mặt bằng và bàn giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Sở Nông nghiệp - Môi trường) quản lý. Đến tháng 8.2018, ngân hàng đất hoàn thành các hạng mục với tổng kinh phí hơn 26,6 tỉ đồng, sau đó được giao cho Trung tâm Quản lý, khai thác công trình thủy lợi tỉnh Cà Mau vận hành.
Hiện đề án "bãi vật tư", tức ngân hàng đất, vẫn đang được thẩm định, dự kiến triển khai theo hình thức liên doanh 60% nhà nước, 40% tư nhân nếu được phê duyệt. Ngân hàng đất vì vậy vẫn tiếp tục "treo" cho đến khi tháo gỡ được cơ chế.
Giữa lòng TP.HCM sôi động, có một chùa cổ hơn 2 thế kỷ từng được vua ban sắc; đồng thời liên quan với gia đình ông Đỗ Hữu Phương, người giàu thứ 2 Sài Gòn xưa mà dân gian thường có câu: Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định.
Ít ai biết rằng phía sau vẻ tĩnh lặng của chùa Sắc tứ Huệ Lâm là cả một câu chuyện lịch sử, kiến trúc và dấu ấn của giới thượng lưu một thời.
Theo UBND quận 8 cũ, đến nay vẫn chưa tìm thấy tài liệu chính thức xác định thời gian xây dựng chùa Sắc tứ Huệ Lâm (ở 154 Tùng Thiện Vương, quận 8 cũ, TP.HCM). Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung câu đối chạm trên thân cột ở chính điện, ngôi chùa do bà Chiêm Thị Mai xây dựng.
Đáng chú ý, khi phu nhân Tổng đốc Đỗ Hữu Phương tiến hành trùng tu vào năm Nhâm Tý (1912), chùa đã có tuổi đời hơn 100 năm. Từ đó, có thể suy đoán chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 - tức đã tồn tại hơn 2 thế kỷ.
Ban đầu, chùa có tên là Huệ Lâm, sau vì được vua Thành Thái (hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, trị vì từ 1889 đến 1907 và nổi tiếng là vị vua yêu nước - PV) ban sắc tứ nên còn được gọi là Sắc tứ Huệ Lâm. Sắc là chiếu mệnh của vua, tứ là ban cho, phong cho. Sắc tứ là loại giấy tờ được ban cho một ngôi chùa hay một người nào đó.
Chùa Sắc tứ Huệ Lâm thuộc hệ phái lâm tế (Trung Hoa) vào thế kỷ 17, thiền sư Nguyên Thiều truyền bá phái Lâm tế vào Việt Nam.
Theo ghi nhận thực tế của phóng viên Thanh Niên, chùa vẫn còn giữ được nét kiến trúc cổ với nếp nhà 5 gian 2 chái, bộ khung chịu lực gồm 48 cột gỗ quý, vì kèo bằng gỗ, kết cấu rui mè. Mái lợp ngói móc, phần diềm mái gắn gốm men xanh hình lá, gờ nóc trang trí cặp rồng tranh châu bằng gốm sứ.
Các chi tiết mái xuôi gắn tượng ông nhật, bà nguyệt, chim phượng hoàng, kỳ lân… tạo nên tổng thể vừa trang nghiêm vừa giàu tính nghệ thuật.
Theo sách Di tích lịch sử - văn hóa ở TP.HCM (tác giả Phạm Hữu Mý, Nguyễn Văn Đường, NXB Tổng hợp TP.HCM), bên trong chùa Sắc tứ Huệ Lâm nổi bật là các pho tượng cổ bằng gỗ chạm trổ tinh xảo.
Ngoài ra, bên trái chính điện chùa có chuông lớn nặng 700 kg và bên phải là bộ trống bát nhã treo trên giá gỗ chạm hình rồng mây.
Theo thời gian, một số pho tượng bằng gỗ quý gắn với thời kỳ đầu hình thành chùa đã bị thất lạc. Dẫu vậy, chùa hiện vẫn còn được nhiều tượng thờ mang dấu ấn điêu khắc gỗ đầu thế kỷ 19 như: tượng Hộ pháp, Nam Tào, Bắc Đẩu...
Ngoài tượng thờ, chùa Huệ Lâm còn lưu giữ nhiều hoành phi, liễn đối chạm chìm chữ Hán.Trong đó có các bức như:
Sư cô Thích Nữ Như Nghiêm, người gắn bó tại chùa Huệ Lâm hơn 30 năm cho hay: "Trước đây, cũng từng có sư cô đến chùa xin lưu trú, tu tập nghiên cứu và phiên dịch các câu đối cổ và gửi cho chùa".
Sư cô Thích Nữ Như Nghiêm nói thêm: "Thỉnh thoảng, một số người cũng tìm đến với mong muốn tìm hiểu, quay phim, chụp ảnh. Tuy nhiên, do đây là không gian tu tập thanh tịnh, nhà chùa luôn cân nhắc và hạn chế các hoạt động ghi hình".
Với lịch sử hơn 200 năm, chùa cổ này không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là di sản kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc của TP.HCM.
Năm 2005, chùa Sắc tứ Huệ Lâm được Chủ tịch UBND TP.HCM xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.