Trong chương trình khám, tư vấn và chụp X-quang miễn phí cho trẻ gù, vẹo cột sống diễn ra sáng 4-4 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, các bác sĩ ghi nhận nhiều trường hợp trẻ em đến viện khi cột sống đã cong vẹo nghiêm trọng, có trường hợp lên tới 60 – 80 độ.
Một bé gái 11 tuổi ở Hà Nội được gia đình đưa đi khám khi cột sống đã vẹo tới 63 độ. Trước đó trẻ vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ có biểu hiện lệch vai nhẹ nên không được chú ý.
Tương tự, nhiều trường hợp khác cũng được phát hiện muộn, có trẻ chưa đầy 10 tuổi đã vẹo trên 40 độ, thậm chí có cháu vẹo hơn 80 độ mới đến viện, khi cột sống đã biến dạng rõ rệt.
Theo các bác sĩ, điều đáng lo ngại là phần lớn trẻ đến khám khi bệnh đã tiến triển nặng. Việc phát hiện muộn khiến quá trình điều trị khó khăn hơn rất nhiều, đồng thời làm tăng nguy cơ biến chứng lâu dài.
PGS.TS Đinh Ngọc Sơn, Trưởng khoa phẫu thuật cột sống, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, cho biết vẹo cột sống là bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em, chiếm khoảng 0,5 – 1% dân số.
Phần lớn các trường hợp không xác định được nguyên nhân, ngoài ra có thể liên quan đến dị tật bẩm sinh, bệnh lý thần kinh – cơ hoặc thói quen sinh hoạt sai tư thế kéo dài.
Theo bác sĩ Sơn, xu hướng trẻ đến khám muộn đang gia tăng. Khi đó cột sống không chỉ cong vẹo rõ rệt mà còn kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe như biến chứng về hô hấp, tuần hoàn.
“Khi cột sống cong vẹo, lồng ngực bị biến dạng sẽ làm giảm thể tích phổi. Điều này khiến phổi không thể nở và phát triển bình thường. Ở những trường hợp nặng, một bên phổi có thể bị xẹp, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng chức năng hô hấp”, bác sĩ Sơn nói.
Theo bác sĩ Sơn, nguyên tắc quan trọng nhất trong điều trị vẹo cột sống là phát hiện sớm và can thiệp kịp thời. Nếu được phát hiện ở giai đoạn đầu, trẻ có nhiều lựa chọn điều trị và chưa chắc phải phẫu thuật.
Ở giai đoạn nhẹ, trẻ có thể chỉ cần tập các bài phục hồi chức năng, bơi lội hoặc vận động phù hợp để cải thiện tư thế.
Khi bệnh tiến triển hơn, bác sĩ sẽ chỉ định thêm áo chỉnh hình nhằm kiểm soát độ cong của cột sống. Loại áo này cần được đeo trong nhiều giờ mỗi ngày, có tác dụng nén và điều chỉnh cột sống.
Tuy nhiên theo các bác sĩ, việc đeo áo không thể thay thế hoàn toàn cho tập luyện. Nếu trẻ không vận động, cơ lưng sẽ yếu đi, làm giảm hiệu quả điều trị. Vì vậy việc duy trì tập luyện hằng ngày là rất cần thiết.
Chỉ khi các phương pháp bảo tồn không còn hiệu quả hoặc độ cong quá lớn, bác sĩ mới cân nhắc phẫu thuật.
Một trong những nguyên nhân khiến nhiều trẻ đến viện muộn là do phụ huynh chưa chú ý đến các dấu hiệu ban đầu của bệnh. Bác sĩ Sơn khuyến cáo việc phát hiện sớm vẹo cột sống không quá khó và hoàn toàn có thể thực hiện tại nhà.
Khi trẻ đứng thẳng, phụ huynh có thể quan sát xem hai vai có cân đối hay không, có hiện tượng lệch vai hay không. Khi trẻ cúi người về phía trước, nếu một bên lưng nhô cao hơn bên còn lại, đó có thể là dấu hiệu bất thường, cần đưa trẻ đi khám.
Bác sĩ cũng cảnh báo thói quen sinh hoạt không đúng như ngồi học sai tư thế, cúi gập người, mang cặp quá nặng hoặc ít vận động trong thời gian dài đều ảnh hưởng đến cột sống của trẻ.
Do đó phụ huynh, giáo viên cần chú ý điều chỉnh tư thế ngồi học, khuyến khích trẻ vận động thể chất thường xuyên và kiểm tra cột sống định kỳ, đặc biệt trong giai đoạn trẻ phát triển nhanh.
Không chỉ là loại gia vị quen thuộc trong gian bếp, gừng từ lâu đã được xem là "thần dược" trong y học cổ truyền nhờ chứa nhiều hoạt chất có lợi cho sức khỏe. Trong một báo cáo nghiên cứu mới đăng trên báo Tempo, các chuyên gia Indonesia cho biết chỉ cần bổ sung một lượng nhỏ gừng vào chế độ ăn hằng ngày trong khoảng một tháng, cơ thể có thể ghi nhận nhiều thay đổi tích cực, từ cải thiện tiêu hóa, tăng cường miễn dịch cho đến hỗ trợ tim mạch.
Thành phần tạo nên giá trị của gừng là các hợp chất sinh học như gingerol, shogaol và zingiberene. Trong đó, gingerol nổi tiếng với khả năng chống viêm, giảm buồn nôn và chống oxy hóa, còn shogaol được cho là có tác dụng giảm đau và góp phần bảo vệ hệ tim mạch. Chính những hoạt chất này giúp gừng trở thành một trong những loại gia vị được nghiên cứu nhiều nhất về lợi ích đối với sức khỏe.
Một trong những thay đổi dễ nhận thấy khi sử dụng gừng đều đặn là khả năng giảm viêm trong cơ thể. Các hợp chất chống viêm tự nhiên trong gừng giúp làm dịu các phản ứng viêm, hỗ trợ quá trình phục hồi sau chấn thương hoặc những cơn đau nhức kéo dài.
Gừng cũng được biết đến như "khắc tinh" của cảm giác buồn nôn. Đây là lý do nhiều phụ nữ mang thai, người say tàu xe hoặc bệnh nhân đang điều trị bằng hóa trị thường được khuyến khích sử dụng gừng để làm dịu dạ dày.
Đối với những người thường xuyên vận động hoặc tập luyện cường độ cao, việc bổ sung gừng mỗi ngày còn có thể giúp giảm đau mỏi cơ bắp, rút ngắn thời gian phục hồi sau khi tập luyện.
Không dừng lại ở đó, gừng còn hỗ trợ hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn. Loại gia vị này giúp kích thích nhu động ruột, cải thiện quá trình tiêu hóa thức ăn và có thể giảm tình trạng đầy hơi, táo bón ở một số người. Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận hiệu quả của gừng trong một số trường hợp được đánh giá tương đương với các thuốc giảm đau không kê đơn ở mức độ nhẹ.
Về sức khỏe tim mạch, việc sử dụng gừng thường xuyên có thể góp phần giảm cholesterol xấu (LDL) và triglyceride, từ đó hỗ trợ giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch nếu kết hợp với chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh.
Bên cạnh đó, nhờ đặc tính chống oxy hóa và chống viêm, gừng còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh và rút ngắn thời gian hồi phục khi bị cảm lạnh hoặc nhiễm virus.
Các chuyên gia lưu ý, không nhất thiết phải ăn gừng sống mỗi ngày. Chỉ cần thái vài lát gừng pha trà, thêm vào sinh tố, nấu canh, xúp hoặc các món xào là đã có thể tận dụng những lợi ích mà loại gia vị này mang lại.
Tuy nhiên, dù là thực phẩm tự nhiên, gừng cũng không nên sử dụng quá nhiều. Người đang dùng thuốc chống đông máu, mắc bệnh dạ dày hoặc có bệnh lý nền nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung gừng thường xuyên vào chế độ ăn.
Ngày 8/7, Bệnh viện Bạch Mai làm việc với đoàn chuyên gia Dự án thúc đẩy đào tạo ECMO tại Việt Nam thuộc Trung tâm ECMO, Viện An ninh sức khỏe Nhật Bản (Japan Institute for Health Security - JIHS), nhằm đánh giá kết quả sau một năm triển khai và thống nhất kế hoạch mở rộng chương trình đào tạo trong thời gian tới.
Đoàn chuyên gia Nhật Bản do TS. Tatsuki Uemura, Giám đốc Trung tâm ECMO, Trưởng dự án, dẫn đầu. Phía Bệnh viện Bạch Mai có PGS.TS. Đào Xuân Cơ, Giám đốc bệnh viện, cùng lãnh đạo các đơn vị chuyên môn tham dự.
Tại buổi làm việc, TS. Tatsuki Uemura đánh giá cao quá trình hợp tác giữa JIHS và Bệnh viện Bạch Mai trong lĩnh vực hồi sức tích cực, đặc biệt là đào tạo và phát triển kỹ thuật ECMO tại Việt Nam. Ông cũng chúc mừng Bệnh viện Bạch Mai đưa cơ sở Ninh Bình vào hoạt động.
Mục tiêu của dự án là xây dựng chương trình đào tạo ECMO chuẩn hóa cho đội ngũ đa chuyên ngành, gồm bác sĩ, điều dưỡng và kỹ sư lâm sàng, góp phần nâng cao năng lực điều trị bệnh nhân nặng.
Theo các chuyên gia JIHS, mặc dù kỹ thuật ECMO đã được triển khai tại nhiều bệnh viện lớn ở Việt Nam, việc chuẩn hóa đào tạo vẫn là yêu cầu cần thiết do quá trình vận hành đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa để xử trí các biến chứng và tình huống cấp cứu phức tạp.
Sau năm đầu triển khai, dự án đã tổ chức hội thảo và chương trình đào tạo mô phỏng ECMO vào tháng 1/2026 với 248 đại biểu tham dự trực tiếp và 263 đại biểu trực tuyến. Ê-kíp ECMO của Bệnh viện Bạch Mai sau thời gian đào tạo tại Nhật Bản đã trực tiếp tham gia giảng dạy khóa mô phỏng cho 38 cán bộ y tế thuộc nhiều chuyên ngành.
Phát biểu tại buổi làm việc, PGS.TS. Đào Xuân Cơ cho biết sự hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản đã góp phần quan trọng trong quá trình đưa kỹ thuật ECMO vào Việt Nam.
Theo ông, năm 2008, khi ECMO vẫn là kỹ thuật mới và chưa được triển khai tại Việt Nam, ông có cơ hội sang Nhật Bản đào tạo, làm việc cùng các chuyên gia ECMO, bác sĩ hồi sức hô hấp và kỹ sư lâm sàng tại Bệnh viện NCGM (nay là Viện An ninh sức khỏe Nhật Bản - JIHS).
Đây là nền tảng quan trọng giúp Bệnh viện Bạch Mai từng bước xây dựng đội ngũ nhân lực và triển khai kỹ thuật ECMO.
Sau quá trình đào tạo tại Nhật Bản, PGS.TS. Đào Xuân Cơ cùng ê-kíp Bệnh viện Bạch Mai đã triển khai thành công kỹ thuật ECMO, trong đó có những ca ECMO đầu tiên tại Việt Nam.
Thành công này đánh dấu bước phát triển mới của lĩnh vực hồi sức tích cực, mở ra thêm lựa chọn điều trị cho các bệnh nhân suy hô hấp, suy tuần hoàn nặng.
Trong giai đoạn dịch cúm A/H1N1 bùng phát năm 2009, ECMO đã được áp dụng trong điều trị một số trường hợp suy hô hấp nguy kịch, viêm cơ tim, tổn thương tim nặng và các bệnh lý tim phổi phức tạp, góp phần nâng cao khả năng cứu chữa người bệnh.
Đến nay, ECMO đã trở thành kỹ thuật thường quy tại Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh viện cũng tham gia đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho nhiều cơ sở y tế trên cả nước, góp phần hình thành mạng lưới ECMO tại Việt Nam.
Theo kế hoạch, dự án sẽ tiếp tục được mở rộng theo ba giai đoạn: xây dựng đội ngũ nòng cốt tại miền Bắc với Bệnh viện Bạch Mai là trung tâm; mở rộng đào tạo tại miền Nam trong năm 2026; sau đó triển khai tại miền Trung vào năm 2027, hướng tới hình thành mạng lưới đào tạo ECMO chuẩn hóa trên toàn quốc.
PGS.TS. Đào Xuân Cơ cũng cho biết Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình với quy mô 1.000 giường bệnh đã đi vào hoạt động và bắt đầu triển khai các kỹ thuật chuyên sâu, trong đó có ECMO. Bệnh viện kỳ vọng cơ sở này sẽ trở thành trung tâm đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các địa phương trong khu vực.
Buổi làm việc khẳng định định hướng tiếp tục hợp tác giữa Bệnh viện Bạch Mai và JIHS trong đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực hồi sức tích cực, góp phần nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân nặng tại Việt Nam.
ECMO là gì?
ECMO (Extracorporeal Membrane Oxygenation) là kỹ thuật tim phổi nhân tạo ngoài cơ thể dành cho bệnh nhân suy tim hoặc suy hô hấp nặng.
Hệ thống ECMO giúp trao đổi oxy và loại bỏ khí CO₂ thay cho tim, phổi trong thời gian tạm thời, tạo điều kiện để các cơ quan này hồi phục hoặc chờ điều trị tiếp theo. Đây là kỹ thuật hồi sức chuyên sâu, đòi hỏi trang thiết bị hiện đại và ê-kíp đa chuyên ngành được đào tạo bài bản.
Các bác sĩ Cần Thơ chvừa cứu sống ca bệnh thủy đậu biến chứng nguy kịch nhập viện trong tình trạng bóng nước nổi dày đặc toàn thân, nhiều nốt có mủ đục đi kèm với là loét miệng, mũi và cả lỗ tai.
Ngày 20.6, thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ cho biết, các bác sĩ Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc của bệnh viện vừa điều trị thành công ca bệnh thủy đậu có nhiều biến chứng như viêm phổi nặng do thủy đậu biến chứng ARDS (suy hô hấp cấp tiến triển) mức độ nặng, viêm gan, rối loạn đông máu.
Bệnh nhân là anh P.H.P (32 tuổi, ở tỉnh Vĩnh Long), trước đó chưa từng mắc thủy đậu và cũng chưa được tiêm ngừa loại vắc xin này.
Qua tìm hiểu bệnh sử xác định, anh P. bị lây nhiễm thủy đậu sau khoảng 1 tuần kể từ khi vợ và các con của anh mắc căn bệnh này.
Trong 3 ngày đầu khởi phát, người bệnh xuất hiện tình trạng nổi nhiều bóng nước toàn thân, cơ thể rất uể oải nhưng không bị sốt. Anh P. đã tự đi điều trị tại một phòng khám tư nhân bên ngoài nhưng tình trạng sức khỏe không có cải thiện.
Đến ngày thứ 4 của bệnh, anh P. phải nhập viện trong tình trạng bóng nước đã nổi dày đặc toàn thân, nhiều nốt đã có mủ đục, đi kèm với đó, bệnh nhân còn bị loét miệng, ăn uống kém và tiêu chảy.
Sau khoảng 10 giờ nhập viện diễn tiến bệnh chuyển biến nhanh chóng. Người bệnh rơi vào suy hô hấp cấp và hoàn toàn không đáp ứng với các biện pháp oxy liệu pháp thông thường, buộc phải chuyển ngay đến Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc trong tình trạng suy hô hấp nặng, cô đặc máu, nhịp tim nhanh và huyết áp bị hạ.
Bệnh nhân lập tức được các bác sĩ đặt nội khí quản và cho thở máy xâm lấn; đồng thời, các biện pháp can thiệp chuyên sâu được triển khai liên tục gồm lọc máu liên tục, mở phổi bằng phương pháp CPAP 40/40, và truyền các chế phẩm máu để kịp thời điều chỉnh tình trạng rối loạn đông máu.
Bên cạnh việc điều trị, việc chăm sóc cho anh P. cũng gặp nhiều khó khăn khi bóng nước mọc dày đặc khắp bề mặt da và xuất hiện vết loét ở cả niêm mạc miệng, mũi lẫn lỗ tai bệnh nhân. Việc xoay trở, thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân được thực hiện liên tục nhằm chống loét, ngăn ngừa làm nặng thêm các tổn thương da. Một thách thức nữa là mỗi lần xoay trở tư thế cho bệnh nhân, chỉ số SpO2 (độ bão hòa oxy trong máu) của người bệnh thường bị tụt sâu kéo dài.
Gần 1 tháng nỗ lực chăm sóc và điều trị tích cực, tình trạng hô hấp của người bệnh mới cải thiện dần; được rút nội khí quản và chuyển ra khỏi Khoa Hồi sức tích cực.
Theo thông tin từ Bộ Y Tế, thủy đậu là căn bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Varicella zoster (VZV) thuộc họ Herpeviridae gây nên. Bệnh có khả năng lây truyền rất cao, với tỷ lệ lây nhiễm lên đến 90% ở những người chưa có miễn dịch. Con đường lây lan chủ yếu của virus là qua các giọt bắn của đường hô hấp hoặc do tiếp xúc trực tiếp với các chất dịch từ bóng nước, rất dễ phát triển thành dịch.
Thông thường, bệnh thủy đậu hay xuất hiện thành dịch ở trẻ em lứa tuổi đi học với các triệu chứng đặc trưng là sốt và phát ban dạng nốt phỏng. Phần lớn các ca bệnh ở trẻ em diễn biến lành tính, tuy nhiên đôi khi bệnh vẫn có thể gây tử vong bởi những biến chứng trầm trọng.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo người dân có thể phòng ngừa bệnh thủy đậu bằng cách chủ động bằng cách tiêm phòng vắc xin. Theo đó trẻ em cần được tiêm 1 liều vắc xin. Còn người lớn cần được tiêm đủ 2 liều, với khoảng cách giữa các mũi tiêm từ 4 đến 8 tuần.