Trong hai ngày 1-2/6, Viện Dinh dưỡng tổ chức 3 đoàn giám sát triển khai Chiến dịch bổ sung vitamin A đợt I, năm 2026 tại Hà Nội, Phú Thọ, TPHCM, Quảng Ninh và Hải Phòng.
PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, cho biết, trẻ em thiếu vitamin A sẽ đối mặt với nguy cơ khô mắt, loét giác mạc dẫn đến mù lòa vĩnh viễn, đồng thời làm tăng tỷ lệ tử vong khi mắc các bệnh như sởi, tiêu chảy.
Nguồn thực phẩm giàu vitamin A bao gồm nguồn động vật (gan, trứng, sữa…) và nguồn thực vật (rau củ có màu vàng, cam, đỏ (cà rốt, bí đỏ, gấc) hoặc rau lá xanh đậm).
Tuy nhiên, do cơ thể không thể tự tổng hợp được vitamin A, trong khi khẩu phần ăn thông thường của trẻ nhỏ khó đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng nhanh. Vì thế, chiến dịch bổ sung vitamin A liều cao định kỳ là giải pháp an toàn, khoa học và hiệu quả nhất để bảo vệ trẻ.
PGS Dương cho biết, trong chiến dịch bổ sung vitamin A đợt 1 năm 2026, Viện Dinh dưỡng cấp phát cho các tỉnh, thành phố trên toàn quốc hơn 2,9 triệu viên nang vitamin A loại 200.000 đơn vị (IU).
Chiến dịch được triển khai trên toàn quốc cho trẻ từ 6 đến dưới 60 tháng tuổi và các đối tượng có nguy cơ cao thiếu vitamin A như trẻ hoặc người mắc bệnh sởi, trẻ suy dinh dưỡng cấp tính nặng, viêm đường hô hấp cấp tính hoặc tiêu chảy kéo dài.
Nguồn thuốc vitamin A liều cao trong chiến dịch được sử dụng từ nguồn viện trợ của Tổ chức Vitamin Angels, Hoa Kỳ, viện trợ không hoàn lại thông qua Tổ chức Cứu trợ Trẻ em tại Việt Nam (Save the Children) từ năm 2010.
Các đoàn kiểm tra ngoài kiểm tra kỹ thuật uống cũng hướng dẫn người dân theo dõi phản ứng sau uống và chế độ dinh dưỡng phù hợp sau khi trẻ uống vitamin A.
Theo PGS Dương, trước chiến dịch, Viện Dinh dưỡng đã in chi tiết tài liệu hướng dẫn người dân.
Sau khi tiếp nhận một lượng vitamin A liều cao đột ngột, một tỷ lệ nhỏ trẻ có thể xuất hiện các phản ứng phụ nhẹ mang tính chất tạm thời bao gồm: thoáng buồn nôn, nôn trớ nhẹ, đi ngoài phân hơi lỏng, khóc quấy, sốt nhẹ hoặc xuất hiện hiện tượng thóp phồng nhẹ (ở nhóm trẻ nhỏ tuổi).
Các dấu hiệu này sẽ tự động biến mất hoàn toàn sau 24 đến 48 giờ mà không cần phải can thiệp bằng bất kỳ loại thuốc điều trị nào.
Bà mẹ cần cho trẻ bú nhiều hơn, uống đủ nước và ăn các món thanh đạm. Trường hợp sau 48 giờ các triệu chứng không thuyên giảm hoặc bất kỳ khi nào trẻ sốt quá cao, nôn liên tục, cần đưa trẻ tới cơ sở y tế để được thăm khám.
Vitamin A là vitamin tan trong chất béo, vì thế, trong ngày trẻ đi uống vitamin A liều cao tại điểm uống về, bà mẹ, người chăm sóc trẻ nên chú ý tăng cường chất béo vào bữa ăn tiếp theo của trẻ bằng cách sử dụng các loại thực phẩm giàu chất béo tự nhiên như cá, thịt có chút mỡ, trứng… trong bữa ăn của trẻ.
Lương y Đỗ Minh Tuấn, Hội Nam Y Việt Nam, cho biết người thường xuyên sợ lạnh, tay chân buốt hoặc dễ đầy bụng khi ăn đồ lạnh là những tín hiệu cho thấy cơ thể thuộc thể hàn. Ngoài điều chỉnh chế độ ăn uống, giấc ngủ đến chế độ vận động phù hợp sẽ giúp cân bằng lại thể trạng này.
5 nguyên tắc để cải thiện tình trạng này, như sau:
Ăn uống ưu tiên sự ấm áp
Người thể hàn thường không thích ứng tốt với việc dung nạp các loại thức ăn, đồ uống quá lạnh trong thời gian dài. Nhiều người có thói quen uống nước đá quanh năm, ăn hoa quả vừa lấy từ tủ lạnh ra hoặc ưa chuộng các món lạnh giải nhiệt.
Nếu chỉ sử dụng một vài lần có thể chưa nhận thấy sự thay đổi. Trường hợp duy trì thường xuyên, hệ tiêu hóa sẽ bị ảnh hưởng rõ rệt. Người bệnh dễ bị đầy bụng, tiêu hóa kém hoặc cơ thể luôn trong trạng thái mệt mỏi. Do đó, bạn nên duy trì thói quen ăn uống đúng bữa, ưu tiên thức ăn đã được nấu chín, uống đủ nước ấm và hạn chế tối đa việc lạm dụng đồ ăn, thức uống lạnh.
Ngủ đủ giấc
Nhiều người ban ngày mệt mỏi nhưng ban đêm lại thức rất khuya. Người thể hàn vốn dĩ dễ thiếu sức sống và có mức năng lượng thấp hơn so với các thể trạng khác. Nếu thường xuyên ngủ muộn, cơ thể sẽ càng mất đi cơ hội để phục hồi tổn thương và tái tạo năng lượng.
Bạn không cần ép bản thân đi ngủ thật sớm ngay lập tức, nhưng nên ngủ sớm hơn từ 15–30 phút mỗi ngày so với thói quen cũ và nên ngủ trước 23h.
Giữ ấm cơ thể ngay cả khi trời nóng
Nhiều người có quan niệm sai lầm rằng chỉ mùa đông mới cần giữ ấm. Trên thực tế, nhiều trường hợp ghi nhận người thể hàn vẫn bị đau nhức xương khớp, lạnh bụng hoặc khó chịu vào mùa hè khi phải ngồi trong phòng điều hòa quá lâu.
Các vùng cơ thể nhạy cảm như cổ, vai gáy, bụng và bàn chân cần được đặc biệt lưu ý giữ dễ chịu, tránh để khí lạnh xâm nhập kéo dài.
Vận động nhẹ nhàng nhưng đều đặn
Do thể trạng dễ mệt mỏi, nhiều người có tâm lý ngại vận động. Tuy nhiên, việc lười vận động sẽ vô tình khiến cơ thể càng trở nên trì trệ hơn.
Các hoạt động nhẹ nhàng như đi bộ, tập dưỡng sinh hoặc các bài tập phù hợp với sức khỏe cá nhân sẽ kích thích khí huyết lưu thông, giúp cơ thể linh hoạt và dễ chịu hơn. Điều quan trọng không nằm ở cường độ tập luyện quá nhiều mà là sự duy trì đều đặn mỗi ngày.
Không rập khuôn theo phương pháp của người khác
Mỗi cá nhân đều sở hữu một thể trạng và cơ địa hoàn toàn riêng biệt. Có những người có thể uống nước đá, ăn đồ lạnh một cách bình thường, nhưng cũng có những người lại ngay lập tức bị phản ứng.
"Việc hiểu rõ cơ thể mình không phải để lo lắng, mà là để tìm ra phương pháp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe phù hợp nhất cho bản thân thay vì cố gắng áp dụng một cách máy móc công thức của người khác", lương y nói.
Theo bác sĩ Nguyễn Phối Hiền, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, thực tế đã ghi nhận các trường hợp nhập viện sau khi tắm không đúng thời điểm trong mùa nắng nóng, đặc biệt ở người lớn tuổi. Do đó, không phải cứ mùa nóng là “tắm càng nhiều càng tốt”.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Trương Thiện Niềm, Trưởng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Gia An 115 (TP.HCM), cho biết sau khi đi nắng hoặc vận động nhiều, cơ thể đang ở trạng thái tăng thân nhiệt, tim đập nhanh, mạch máu ngoại biên giãn ra để tỏa nhiệt. Nếu tắm ngay, đặc biệt là tắm nước lạnh, một số nguy cơ có thể xảy ra gồm:
Từ đó, bác sĩ Niềm chỉ ra một số dấu hiệu cho thấy chưa nên tắm ngay dù đang rất nóng, gồm:
Theo bác sĩ Phối Hiền, khi tắm trong mùa nắng nóng, nhiệt độ nước nên ở mức gần với nhiệt độ da, thường khoảng 33 - 36°C. Nước quá lạnh có thể gây co mạch, trong khi nước quá nóng làm tăng mất nước và tạo thêm gánh nặng cho hệ tim mạch.
Thời điểm tắm phù hợp là khi cơ thể đã ổn định, thường sau khi nghỉ ngơi khoảng 15 - 30 phút sau vận động hoặc sau khi đi nắng về. Không nên tắm khi đang đói, quá no hoặc trong trạng thái mệt nhiều.
Về số lần, người trưởng thành khỏe mạnh trong điều kiện sinh hoạt thông thường tắm 1 - 2 lần mỗi ngày là phù hợp; có thể tăng thêm nếu ra nhiều mồ hôi, nhưng cần đảm bảo điều kiện an toàn và không kéo dài thời gian tắm.
Bác sĩ Thiện Niềm lưu ý thêm, các đối tượng sau cần đặc biệt thận trọng khi tắm vào mùa nóng này:
Trẻ nhỏ: Nên tắm nước ấm hoặc mát nhẹ, tránh nước quá lạnh vì có thể khiến trẻ bị lạnh đột ngột hoặc viêm đường hô hấp.
Không tắm quá lâu hoặc tắm quá nhiều lần trong ngày vì có thể làm khô da, mất lớp bảo vệ tự nhiên của da. Nên tắm cho trẻ ở nơi kín gió, lau khô người ngay sau khi tắm để tránh nhiễm lạnh.
Người cao tuổi: Tránh tắm nước quá lạnh hoặc khi cơ thể đang mệt, vừa đi nắng về hoặc đang đói.
Không nên tắm quá khuya, đặc biệt vào ban đêm khi nhiệt độ môi trường giảm vì dễ gây co mạch và làm tăng nguy cơ tai biến tim mạch.
Nên tắm trong phòng kín gió, có thảm chống trượt hoặc tay vịn để hạn chế nguy cơ té ngã - một tai nạn khá thường gặp ở người lớn tuổi khi phòng tắm trơn trượt.
Người có bệnh tim mạch: Không tắm nước quá lạnh, đặc biệt là khi thời tiết quá nóng hoặc sau khi vận động mạnh. Tránh tắm quá lâu hoặc thay đổi nhiệt độ nước đột ngột.
Nếu có các triệu chứng như đau ngực, hồi hộp, khó thở, choáng váng khi đang tắm, cần dừng ngay, nghỉ ngơi và nhờ sự trợ giúp từ người khác; nếu triệu chứng không cải thiện, nên đi khám sớm để được kiểm tra và tư vấn phù hợp.
Tại hội thảo khoa học "Cập nhật những tiến bộ điều trị đa mô thức ung thư gan", ông Trần Công Duy Long - Trưởng khoa ngoại gan mật tụy Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cho biết Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ viêm gan vi rút cao, do đó số lượng bệnh nhân mắc viêm gan mạn tính, xơ gan và các bệnh lý gan mạn khác rất lớn.
Đây chính là nền tảng quan trọng dẫn đến sự xuất hiện của ung thư gan.
Khác với nhiều loại ung thư khác như ung thư dạ dày hay ung thư đại trực tràng, ung thư gan thường khó xác định trước ai sẽ là người mắc bệnh. Tuy nhiên đối với ung thư biểu mô tế bào gan, khoảng 80% trường hợp xuất hiện trên nền bệnh gan mạn tính.
Điều này giúp nhận diện khá rõ nhóm đối tượng có nguy cơ cao, đặc biệt là những bệnh nhân viêm gan vi rút B, viêm gan vi rút C và xơ gan.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bác sĩ Nguyễn Ngọc Thao - Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn - chia sẻ thêm ung thư gan là một trong những loại ung thư thường gặp nhất hiện nay và có tỉ lệ tử vong thuộc nhóm cao hàng đầu, không chỉ tại Việt Nam mà còn trên thế giới. Những năm gần đây số ca ung thư gan có xu hướng gia tăng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Thứ nhất là các yếu tố liên quan đến chế độ ăn uống, lối sống và môi trường sống không lành mạnh. Thứ hai là yếu tố di truyền.
Ngoài ra, các bệnh lý truyền nhiễm như viêm gan B, viêm gan C hay một số tình trạng nhiễm trùng khác cũng là những yếu tố nguy cơ quan trọng. Chính sự tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân đã khiến tỉ lệ mắc ung thư gan ngày càng tăng.
Cũng theo bác sĩ Thao, gan nhiễm mỡ là một trong những vấn đề nổi bật trong những năm gần đây. Trước đây khi nói đến ung thư gan, người ta thường nghĩ nhiều đến viêm gan B hoặc viêm gan C. Tuy nhiên hiện nay gan nhiễm mỡ đang trở thành một yếu tố nguy cơ ngày càng quan trọng.
Việc thường xuyên sử dụng các thực phẩm chiên xào, đồ nướng, thực phẩm chứa nhiều hóa chất bảo quản hoặc phụ gia chính là nguyên nhân có thể làm tăng nguy cơ tổn thương gan, gan nhiễm mỡ. Nếu không được kiểm soát tốt, gan nhiễm mỡ có thể tiến triển thành viêm gan, xơ gan và làm gia tăng nguy cơ ung thư gan.
Bên cạnh đó, lối sống thiếu khoa học như thức khuya kéo dài, ít vận động và căng thẳng thường xuyên cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của cơ thể, từ đó góp phần làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về gan, trong đó có ung thư gan.
Theo bác sĩ Thao, ung thư gan ở giai đoạn sớm thường rất ít triệu chứng. Đây cũng là lý do khiến nhiều trường hợp được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Khi xuất hiện triệu chứng, người bệnh có thể chỉ cảm thấy đau tức nhẹ vùng gan, ăn uống kém hoặc mệt mỏi. Khi bệnh tiến triển nặng hơn có thể xuất hiện các dấu hiệu như sụt cân, suy kiệt cơ thể, vàng da, vàng mắt...