Các sĩ quan Sở Cảnh sát thành phố Senatobia, bang Mississippi, chiều 14/6, nhận được tin báo về một vụ trộm cắp tại siêu thị Walmart. Khi đến bãi đỗ xe của siêu thị, họ phát hiện hai người lớn bế theo một trẻ nhỏ đang chạy ra ôtô.
Theo Cục Điều tra Mississippi (MBI), các sĩ quan đã yêu cầu tài xế chiếc xe dừng lại, nhưng người này vẫn lái xe lao về phía họ và suýt đâm trúng một người. Một cảnh sát sau đó nổ súng vào phương tiện.
Tài xế lái xe tới bệnh viện gần đó, nơi các bác sĩ xác nhận bé trai một tuổi đã tử vong, cơ quan điều tra cho biết.
Trong tuyên bố ngày 16/6, luật sư Ben Crump cho biết nạn nhân là bé Kohen Wiley, một tuổi, ở trong xe cùng mẹ và một người bạn của gia đình khi sự việc xảy ra.
Ông Crump cho biết người mẹ chưa bị cáo buộc bất kỳ tội danh nào, và đã cố nói với cảnh sát rằng có trẻ nhỏ trong xe. “Tuy vậy, họ vẫn nổ súng khiến em bé thiệt mạng”, ông Crump nói, thêm rằng người bạn đi cùng cũng bị thương nặng trong vụ nổ súng. Luật sư này cho hay gia đình sẽ tìm kiếm công lý cho bé Wiley.
Sở Cảnh sát Senatobia chưa phản hồi đề nghị bình luận vào ngày 16/6. Trong bài đăng Facebook hai ngày trước, cơ quan này cam kết minh bạch hoàn toàn về sự việc. “Khi các thông tin được xác minh, chúng tôi sẽ công bố nhiều nhất có thể”, bài đăng có đoạn.
Marquell Bridges, nhân viên hoạt động cộng đồng đang hỗ trợ gia đình nạn nhân, ngày 16/6 nói rằng mẹ của bé Wiley “không trộm đồ tại Walmart, cũng không chứng kiến hay tiếp tay cho bất kỳ hành vi phạm pháp nào”.
“Chỉ ít phút trước đó, cô ấy còn vui đùa với con trên đường ra xe, không phải đang bỏ chạy sau một vụ trộm”, ông nói, kêu gọi cảnh sát công bố video từ camera gắn trên người các sĩ quan và camera giám sát của siêu thị.
Ông Sean Tindell, lãnh đạo Sở An toàn Công cộng Mississippi, cho biết các video và bằng chứng liên quan sẽ chỉ được công bố sau khi cuộc điều tra hoàn tất và hồ sơ được chuyển tới Văn phòng Tổng chưởng lý để xem xét khả năng truy tố.
Ông từ chối thảo luận chi tiết vụ nổ súng, kêu gọi công chúng kiên nhẫn để các điều tra viên có thể làm việc với các nhân chứng mà không lo bị đe dọa hay gây sức ép.
Tuy nhiên, vụ nổ súng đã châm ngòi các cuộc biểu tình ở thành phố Senatobia, buộc cảnh sát phải sử dụng hơi cay để giải tán đám đông tại một số địa điểm.
Trong tuyên bố ngày 16/6, chính quyền Senatobia gọi cái chết của bé Wiley là “bi kịch đau lòng”, cho biết sẽ hợp tác đầy đủ với cuộc điều tra độc lập của MBI.
“Chúng tôi hiểu cảm xúc đang dâng cao và vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Trong thời gian điều tra, chúng tôi đề nghị cộng đồng tránh suy đoán và lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng”, tuyên bố nêu.
Tin Gốc: Vnexpress

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 4/4 nhắc lại tối hậu thư mà ông đưa ra hơn một tuần trước, yêu cầu Iran đạt được thỏa thuận ngừng bắn hoặc mở cửa eo biển Hormuz vào ngày 6/4. "Thời gian đang cạn dần, chỉ còn 48 giờ nữa trước khi địa ngục trút xuống đầu họ", Tổng thống Mỹ viết.
Tối hậu thư này lập tức bị Iran bác bỏ. Thiếu tướng Ali Abdollahi Aliabadi, chỉ huy Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya phụ trách hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang Iran, gọi lời đe dọa của Tổng thống Mỹ cho thấy sự "vô vọng, bất an, mất cân bằng và ngớ ngẩn".
"Đừng quên rằng nếu xung đột leo thang, toàn bộ khu vực sẽ trở thành địa ngục đối với các người. Ảo tưởng đánh bại Iran đã biến thành một đầm lầy và nó sẽ nhấn chìm các người", phát ngôn viên Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya Ebrahim Zolfaghari sau đó ra tuyên bố.
Theo giới quan sát, chính quyền Tổng thống Trump bắt đầu cảm nhận những hệ lụy tiêu cực khi chiến sự với Iran bước sang tuần thứ sáu, đặc biệt là sau khi Iran bắn hạ tiêm kích F-15E, buộc Mỹ phải tiến hành chiến dịch quy mô lớn với mức độ rủi ro cao để giải cứu một phi công trong lãnh thổ nước này.
Ông Trump cho rằng việc quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch giải cứu phi công thành công mà không có người nào thiệt mạng hay bị thương "một lần nữa chứng minh chúng ta đã đạt được thế kiểm soát tuyệt đối trên không phận Iran". Tuy nhiên, Mỹ đã phải bỏ lại và phá hủy hai vận tải cơ trong chiến dịch giải cứu, cho thấy tổn thất vật chất lớn của hoạt động này.
Kết quả các khảo sát cho thấy người dân Mỹ ngày càng phản đối cuộc chiến mà Tổng thống phát động. Tình hình tệ đến mức một số người ủng hộ trung thành của Tổng thống Trump cũng bắt đầu chỉ trích cuộc xung đột chưa thấy ngày kết thúc.
Trong khi đó, một quan chức cấp cao cho biết Tổng thống Trump thường bắt đầu ngày mới bằng việc xem video do quân đội Mỹ tổng hợp những thành công trên chiến trường. Ông tin rằng trên cương vị Tổng tư lệnh, loại bỏ mối đe dọa hạt nhân từ Iran có thể là một trong những thành tựu lớn nhất nhiệm kỳ hai.
Chánh văn phòng Nhà Trắng Susie Wiles lo ngại các trợ lý đang vẽ ra viễn cảnh màu hồng, chỉ nói điều ông Trump muốn nghe thay vì những gì cần nghe. Bà thúc giục các đồng nghiệp phải "thẳng thắn hơn với sếp" về những rủi ro chính trị và kinh tế. Chánh văn phòng đã cùng các cố vấn thân tín đến Phòng Bầu dục gặp Tổng thống, cảnh báo ông rằng chiến sự càng kéo dài, sự ủng hộ từ cử tri và triển vọng của đảng Cộng hòa trong bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 càng u ám.
Cuộc gặp tại Phòng Bầu dục phản ánh một thực tế mà Nhà Trắng không còn có thể phớt lờ. Thời gian đang cạn dần trước khi Tổng thống Trump, đảng Cộng hòa và người dân Mỹ phải trả cái giá đắt hơn nữa.
Phản ứng vượt dự tính từ Iran
Ông Trump tỏ ra tự tin với những kết quả ban đầu của chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng, khi đòn tấn công đầu tiên đã khiến Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei cùng loạt quan chức cấp cao Iran thiệt mạng hôm 28/2. Tuy nhiên, Iran sau đó đã phản ứng đáp trả rất dữ dội, phóng tên lửa, UAV tấn công Israel, nhắm mục tiêu các căn cứ Mỹ ở vùng Vịnh, từ Kuwait, Bahrain đến Arab Saudi, UAE và Qatar.
Phản ứng này khiến các quan chức Mỹ bất ngờ, ông Trump cũng thừa nhận điều này khi trả lời phỏng vấn CNN. Dựa trên tiền lệ trong quá khứ, họ vốn tin rằng Mỹ có công thức chiến thắng là giáng một đòn phủ đầu áp đảo, và phản ứng từ Iran sẽ chỉ là trả đũa hạn chế để xoa dịu dư luận trong nước.
Iran tiếp tục gây sức ép khi phong tỏa gần như hoàn toàn eo biển Hormuz, tuyến đường vận chuyển khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu từ vùng Vịnh, đẩy giá nhiên liệu tăng vọt.
Tổng thống Trump biện minh đây là "cái giá ngắn hạn" cần thiết để loại bỏ nguy cơ Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Đồng thời, ông cho rằng phản ứng của Iran càng chứng minh họ là mối đe dọa.
Nhưng khi chiến sự kéo dài mà không có lối thoát rõ ràng, cái giá Mỹ phải trả dần trở nên "dài hạn". Tổng thống Trump từng cam kết sẽ vực dậy nền kinh tế và giữ Mỹ đứng ngoài các cuộc xung đột khi tranh cử nhiệm kỳ hai. Giờ đây, ông lại khơi mào một cuộc chiến mà chưa nhận được sự ủy nhiệm từ quốc hội và hệ lụy kinh tế mới chỉ dần bộc lộ.
Xung đột làm chao đảo thị trường năng lượng và tài chính toàn cầu. Mỹ cũng không phải ngoại lệ, khi giá xăng vượt 4 USD một gallon (khoảng 3,78 lít), các chỉ số chứng khoán xuống thấp nhất trong nhiều năm. Mỹ ghi nhận 13 binh sĩ thiệt mạng, hàng trăm quân nhân bị thương khi Iran tấn công đáp trả vào các căn cứ của Washington ở vùng Vịnh.
Một tháng sau chiến sự, dự báo tăng trưởng toàn cầu bị điều chỉnh giảm, tình trạng khan hiếm nhiên liệu xuất hiện ở châu Âu và châu Á, trong khi giới chuyên gia cảnh báo thế giới vẫn chưa cảm nhận hết mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Eo biển Hormuz nếu bị phong tỏa kéo dài có thể đẩy kinh tế toàn cầu suy thoái.
Theo hai cố vấn và hai nghị sĩ đã trao đổi với ông Trump, những tổn thất về chính trị và kinh tế ngày càng tăng khiến Tổng thống phải tìm kiếm "lối thoát danh dự". Tổng thống Trump nói với họ rằng ông muốn kết thúc chiến dịch, lo ngại xung đột kéo dài sẽ ảnh hưởng đảng Cộng hòa trước thềm bầu cử giữa kỳ. Nhưng ông cũng muốn chiến dịch này phải là một thắng lợi mang tính quyết định.
Trong bài phát biểu trước toàn quốc tối 1/4, ông Trump đã cố "đi dây" khi cập nhật tình hình chiến sự. Ông ca ngợi các chiến thắng và tuyên bố chiến dịch "đang gần hoàn tất", nhưng đồng thời đe dọa sẽ giáng đòn "cực mạnh" vào Iran trong 2-3 tuần tới, hủy diệt cơ sở hạ tầng năng lượng của quốc gia này.
"Chúng ta sẽ đưa họ trở lại thời kỳ đồ đá, nơi họ thuộc về", Tổng thống tuyên bố.
Theo số liệu của Lầu Năm Góc, chiến dịch là "thành công không thể chối cãi", khi đã phá hủy 90% năng lực tên lửa của Iran, vô hiệu hóa 70% bệ phóng, 150 tàu hải quân, hạ ông Khamenei cùng nhiều quan chức cấp cao.
"Chúng ta nắm toàn bộ lợi thế. Họ không có gì", ông Trump nói. "Chúng ta đang đi đúng hướng để sớm hoàn thành mọi mục tiêu quân sự của Mỹ".
Vài ngày sau, Iran "dội gáo nước lạnh" vào tuyên bố chiến thắng này của ông Trump. Việc họ bắn rơi một tiêm kích F-15E, một cường kích A-10 và gây hư hại một số trực thăng khiến đánh giá năng lực quân sự Iran "không có gì" của ông Trump trở nên kém tin cậy.
Việc Mỹ giải cứu thành công phi công thứ hai trên chiếc F-15E đã giúp ông Trump thoát khỏi một kịch bản thảm họa, tránh để Iran biến phi công bị bắt sống thành lá bài mặc cả.
Tuy nhiên, đích đến cuối cùng của chiến dịch vẫn còn mơ hồ, khi ông Trump vừa tuyên bố tăng cường chiến đấu, vừa hứa sớm kết thúc. Đặc phái viên về Trung Đông Steve Witkoff, người bạn lâu năm của Tổng thống, giải thích cách tiếp cận này phản ánh tư duy hình thành từ sự nghiệp kinh doanh của ông Trump, lĩnh vực mà việc luôn giữ nhiều phương án lựa chọn có vai trò then chốt.
"Tổng thống luôn có nhiều kịch bản", ông Witkoff nói. "Ông ấy giữ rất nhiều lựa chọn, nhiều 'lối thoát', rồi từng bước dò đường trong quá trình triển khai".
Lối thoát hẹp dần
Chiến tranh thường diễn biến vượt tính tính toán của một Tổng thống. Iran cho thấy họ quyết chiến tới cùng, đồng nghĩa ông Trump đối mặt nguy cơ sa lầy hơn nếu leo thang hơn nữa trong những tuần tới, khiến các lối thoát bị thu hẹp hơn là mở ra.
Một trở ngại tiềm tàng nữa là từ đồng minh Israel. Tổng thống Trump từ lâu đã ưa thích những chiến dịch mà các trợ lý gọi là "đánh một lần rồi thôi", như đã áp dụng tại Yemen, Syria, Somalia hay Venezuela. Nhưng Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu có cách tiếp cận khác.
Trong 6 tháng qua, ông Netanyahu liên tục nói với ông Trump rằng những thành công trước đây chỉ là bước đệm cho một chiến dịch quyết định và kéo dài hơn, theo một quan chức Israel. Ngoài ra, Arab Saudi cũng có xu hướng muốn kéo dài cuộc chiến, coi đây là cơ hội hiếm có để làm suy yếu một đối thủ chung.
Tình thế này khiến Tổng thống Trump đối mặt với thế lưỡng nan. Ông muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng không thể ra về tay không nếu chưa đạt được mục tiêu ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran. Trong khi đó, việc thiết lập một chính quyền thân phương Tây ở Iran không đơn giản, còn mở lại eo biển Hormuz đòi hỏi chiếm đóng quân sự kéo dài hoặc một thỏa thuận chấm dứt chiến sự.
Một số cố vấn nhận thấy trong suy nghĩ của Tổng thống Trump đã xuất hiện phần nào tâm lý chấp nhận thực tế. Trong các cuộc trao đổi riêng, ông thường nhắc lại rằng đảng cầm quyền thường mất ghế trong các kỳ bầu cử giữa kỳ.
"Ông ấy đang khó vượt qua tiền lệ này", một trợ lý nhận xét.
Như Tâm (Theo TIME, AFP, Reuters)
Nguồn: https://vnexpress.net/the-luong-nan-voi-ong-trump-trong-cuoc-chien-iran-5058155.html
Thế Giới
Phó chủ tịch Quốc dân đảng Đài Loan gặp Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc

Phó chủ tịch Quốc dân đảng (KMT) Trương Vinh Cung đã gặp Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Hội nghị Chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc (Chính hiệp, tương đương Mặt trận tổ quốc) Vương Hỗ Ninh trong ngày khai mạc Hội nghị Văn hóa Trung Hoa xuyên eo biển lần thứ 3 tại Bắc Kinh, theo tờ South China Morning Post. KMT là đảng đối lập chính ở Đài Loan.
Tờ United Daily News (có trụ sở tại Đài Loan) dẫn lời ông Vương cho hay hội nghị này cho thấy người dân hai bên eo biển Đài Loan cùng chia sẻ niềm tin rằng lãnh thổ không được chia cắt và dân tộc không được tan rã. Ông nhấn mạnh người dân hai bên đều muốn bảo vệ, kế thừa và phát huy văn hóa Trung Hoa.
Đáp lại, ông Trương nói rằng từ quan điểm văn hóa, "người dân hai bên đều là người Trung Quốc và là người một nhà". Ông nói thêm rằng theo khuôn khổ pháp lý hiện hành, chỉ có một Trung Quốc và quan hệ giữa hai bên bờ eo biển Đài Loan không phải là mối quan hệ giữa hai nhà nước.
"Chỉ cần chúng ta tận dụng thực tế này và khôi phục lại các cơ chế tham vấn xuyên eo biển, sẽ có một nền tảng chính trị [cho sự phát triển hòa bình]", ông Trương nhấn mạnh.
Hội nghị nói trên, với chủ đề "văn hóa chung, huyết thống được kết nối", sẽ kéo dài đến ngày 13.5. Hội nghị bao gồm một loạt diễn đàn, triển lãm và chuyến thăm.
Sự kiện này diễn ra sau khi Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình gặp Chủ tịch KMT Trịnh Lệ Văn tại Bắc Kinh vào ngày 10.4, theo Tân Hoa xã.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 23/6/2016, nước Anh tiến hành cuộc trưng cầu dân ý về việc tiếp tục hay chấm dứt tư cách thành viên Liên minh châu Âu (EU). Kết quả với 51,9% cử tri lựa chọn rời EU đã tạo ra “bước ngoặt lịch sử” không chỉ đối với Vương quốc Anh mà còn đối với toàn bộ tiến trình hội nhập châu Âu.
Sau gần nửa thế kỷ tham gia EU, Anh trở thành quốc gia đầu tiên quyết định rút khỏi khối này, mở ra một giai đoạn đầy biến động trong quan hệ giữa London và Brussels.
Theo giới chuyên gia, Brexit không chỉ là một quyết định chính sách đối ngoại; nó là hệ quả của những mâu thuẫn kéo dài trong xã hội Anh về chủ quyền quốc gia, mô hình hội nhập châu Âu, toàn cầu hóa, bất bình đẳng kinh tế và vấn đề nhập cư.
Cuộc bỏ phiếu năm 2016 phản ánh sự va chạm giữa hai cách nhìn về tương lai nước Anh: một bên coi EU là nền tảng để Anh gia tăng ảnh hưởng trong thế giới toàn cầu hóa; bên kia cho rằng chỉ khi rời khỏi EU, London mới có thể khôi phục quyền tự quyết và xây dựng một vị thế quốc tế độc lập hơn.
10 năm sau sự kiện lịch sử đó, Brexit tiếp tục là chủ đề gây tranh luận sâu sắc. Những người ủng hộ cho rằng Anh đã giành lại quyền kiểm soát đối với luật pháp, thương mại và biên giới; trong khi những người chỉ trích nhận định quá trình rời EU đã tạo ra những chi phí kinh tế, chính trị và xã hội lớn hơn dự kiến. Nhìn lại Brexit không chỉ là đánh giá một lựa chọn của nước Anh, mà còn là nhìn lại một cuộc khủng hoảng niềm tin của phương Tây trong thời đại toàn cầu hóa.
Từ hoài nghi châu Âu đến cuộc trưng cầu dân ý lịch sử
Brexit bắt nguồn từ một thực tế lịch sử: nước Anh luôn có mối quan hệ đặc biệt với châu Âu, vừa tham gia, vừa giữ khoảng cách. Khác với nhiều quốc gia Tây Âu coi hội nhập là con đường để vượt qua những chia rẽ lịch sử sau Chiến tranh thế giới thứ hai, London thường nhìn dự án châu Âu dưới góc độ thực dụng hơn, chủ yếu tập trung vào lợi ích kinh tế thay vì một liên minh chính trị sâu rộng.
Sau năm 1945, khi Pháp, Đức và các nước Tây Âu khác thúc đẩy quá trình xây dựng cộng đồng chung nhằm ngăn ngừa chiến tranh và tạo sức mạnh tập thể, Anh lựa chọn đứng ngoài. London vẫn ưu tiên vai trò toàn cầu của mình thông qua quan hệ với Mỹ, Khối Thịnh vượng chung và hệ thống thương mại quốc tế.
Phải đến năm 1973, Anh mới gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) - tiền thân của EU ngày nay. Tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó, tranh luận về vị trí của Anh trong châu Âu đã trở thành một vấn đề chính trị lớn. Năm 1975, nước Anh từng tổ chức trưng cầu dân ý về việc tiếp tục ở lại EEC và kết quả khi đó nghiêng về phía duy trì tư cách thành viên. Nhưng những bất đồng về mức độ hội nhập ngày càng gia tăng trong những thập niên sau đó.
Bước ngoặt lớn xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Sự suy giảm kinh tế, tình trạng bất bình đẳng giữa các khu vực và cảm giác bị bỏ lại phía sau của một bộ phận người dân đã làm gia tăng tâm lý bất mãn đối với giới tinh hoa chính trị. Nhiều cử tri cho rằng các lợi ích của toàn cầu hóa và hội nhập châu Âu không được phân bổ đồng đều.
Bên cạnh yếu tố kinh tế, vấn đề nhập cư trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy Brexit. Việc EU mở rộng về phía Đông khiến dòng lao động từ các quốc gia mới gia nhập tăng lên tại Anh. Với những người ủng hộ Brexit, điều này đặt ra câu hỏi về khả năng kiểm soát biên giới và năng lực hoạch định chính sách quốc gia.
Giới phân tích quốc tế cho rằng Brexit là sự kết hợp giữa nhiều lớp bất mãn, bao gồm sự hoài nghi đối với EU, phản ứng chống lại toàn cầu hóa và mong muốn khôi phục cảm giác kiểm soát của người dân đối với các quyết định chính trị. Vì vậy, cuộc bỏ phiếu năm 2016 không đơn thuần là lựa chọn về EU, mà còn là biểu hiện của một cuộc tranh luận sâu rộng về hướng đi của nước Anh trong thế kỷ XXI.
Những kỳ vọng làm nên Brexit
Brexit được xây dựng trên một thông điệp chính trị đơn giản nhưng có sức thuyết phục mạnh mẽ: “Take Back Control” (Tạm dịch: “Giành lại quyền kiểm soát”). Khẩu hiệu này đánh trúng tâm lý của một bộ phận cử tri Anh vốn cảm thấy quyền lực quốc gia đang bị giới hạn bởi các quy định chung của EU.
Phe ủng hộ rời EU lập luận rằng Anh cần lấy lại quyền tự quyết về pháp luật, thương mại, nhập cư và ngân sách. Họ cho rằng việc thoát khỏi EU sẽ giúp London linh hoạt hơn trong việc xây dựng chính sách kinh tế, ký kết các hiệp định thương mại mới và khẳng định vai trò độc lập trên trường quốc tế.
Một trong những kỳ vọng lớn nhất của phe Brexit là xây dựng mô hình “Global Britain” - một “Nước Anh toàn cầu”, không bị ràng buộc bởi EU nhưng vẫn có khả năng mở rộng ảnh hưởng thông qua mạng lưới quan hệ quốc tế rộng lớn.
Trong chiến dịch tranh cử 2016, những người ủng hộ Brexit nhấn mạnh rằng Anh có thể tiết kiệm các khoản đóng góp cho EU và dành nhiều nguồn lực hơn cho các lĩnh vực trong nước. Họ cũng cho rằng việc rời khỏi thị trường chung châu Âu sẽ không làm suy giảm sức mạnh kinh tế nếu Anh tận dụng được lợi thế của một nền kinh tế lớn, trung tâm tài chính toàn cầu và quốc gia có mạng lưới ngoại giao rộng.
Tuy nhiên, phe phản đối Brexit đưa ra cảnh báo việc rời EU sẽ tạo ra những rào cản mới đối với thương mại, làm giảm sức hấp dẫn đầu tư và khiến Anh mất một phần ảnh hưởng trong quá trình hoạch định chính sách châu Âu. Nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khi đó cũng cảnh báo về nguy cơ bất ổn trong giai đoạn chuyển tiếp.
Điểm đặc biệt của cuộc tranh luận Brexit là nó không chỉ xoay quanh các con số kinh tế. Đây còn là cuộc đối đầu giữa hai quan niệm về bản sắc quốc gia. Với những người ủng hộ Brexit, đây là sự khẳng định độc lập dân tộc; với những người phản đối, đây là sự rút lui khỏi cấu trúc hợp tác đã giúp châu Âu duy trì ổn định trong nhiều thập niên.
Ngày 23/6/2016 và “cú sốc chính trị” làm chấn động châu Âu
Kết quả trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 đã tạo ra cú sốc lớn đối với giới lãnh đạo châu Âu. Với tỷ lệ 51,9% ủng hộ rời EU, nước Anh lựa chọn một con đường chưa từng có trong lịch sử EU: trở thành quốc gia đầu tiên rời khỏi tổ chức này.
Sự chia rẽ trong xã hội Anh hiện rõ qua bản đồ kết quả bỏ phiếu. Trong khi nhiều khu vực ở Anh và Wales ủng hộ Brexit, Scotland và Bắc Ireland lại nghiêng về phía ở lại EU. Điều này cho thấy Brexit không chỉ tạo ra khoảng cách giữa Anh và châu Âu mà còn bộc lộ những khác biệt sâu sắc trong nội bộ Vương quốc Anh.
Ngay sau khi kết quả được công bố, thị trường tài chính toàn cầu phản ứng mạnh. Đồng bảng Anh giảm giá, các nhà đầu tư lo ngại về triển vọng kinh tế và tương lai quan hệ thương mại giữa Anh với EU. Thủ tướng Anh khi đó là David Cameron (người ủng hộ ở lại EU) tuyên bố từ chức, dẫn tới giai đoạn bất ổn chính trị kéo dài.
Tại Brussels, Brexit được xem là thử thách nghiêm trọng đối với dự án hội nhập châu Âu. Nhiều nhà lãnh đạo lo ngại quyết định của Anh có thể khuyến khích các phong trào hoài nghi EU tại nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, trái với những dự báo bi quan nhất, EU không tan rã sau sự kiện Brexit. Ngược lại, động thái này thúc đẩy nhiều nước thành viên củng cố đoàn kết và điều chỉnh chiến lược phát triển. Brexit trở thành một bài học rằng hội nhập khu vực không chỉ phụ thuộc vào lợi ích kinh tế mà còn cần duy trì sự đồng thuận xã hội và niềm tin chính trị.
10 năm nhìn lại: Brexit để lại di sản gì?
Sau một thập niên, Brexit cho thấy khoảng cách đáng kể giữa kỳ vọng ban đầu và thực tế triển khai. Anh chính thức rời EU ngày 31/1/2020 và hoàn tất giai đoạn chuyển tiếp sau đó. Về mặt thể chế, London đã giành lại quyền tự chủ trong nhiều lĩnh vực như chính sách thương mại, pháp luật và kiểm soát biên giới.
Tuy nhiên, những lợi ích kinh tế mà phe Brexit từng kỳ vọng chưa xuất hiện rõ ràng như dự đoán. Nhiều nghiên cứu tại Anh và châu Âu cho rằng Brexit làm gia tăng chi phí thương mại, tạo thêm thủ tục hành chính và ảnh hưởng tới một số lĩnh vực phụ thuộc mạnh vào thị trường EU.
Vấn đề nhập cư cũng trở nên phức tạp hơn. Brexit giúp Anh chấm dứt cơ chế tự do di chuyển trong EU, nhưng nhu cầu lao động của nền kinh tế khiến nước này tiếp tục phải dựa vào nguồn nhân lực quốc tế. Điều đó cho thấy việc kiểm soát biên giới trong một nền kinh tế mở không phải là bài toán đơn giản.
Về chính trị, Brexit thay đổi sâu sắc đời sống nước Anh; làm suy yếu các lực lượng chính trị truyền thống, thúc đẩy những cuộc tranh luận mới về vai trò của Anh trên thế giới và đặt ra câu hỏi về tương lai của liên minh Anh - Scotland - Bắc Ireland.
Đối với EU, Brexit vừa là tổn thất vừa là động lực cải cách. Việc mất đi một thành viên lớn buộc châu Âu phải nhìn lại khả năng thích ứng của dự án hội nhập trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu gia tăng.
10 năm sau ngày bỏ phiếu lịch sử, Brexit vẫn chưa có một kết luận cuối cùng. Nó không hoàn toàn là thắng lợi như những người ủng hộ từng kỳ vọng, nhưng cũng không trở thành “thảm họa” như những dự báo bi quan nhất. Brexit trước hết là minh chứng cho sức mạnh của tâm lý xã hội và chính trị trong việc định hình lịch sử.
Có thể nói, cuộc bỏ phiếu ngày 23/6/2016 đã làm rung chuyển chính trường châu Âu bởi nó đặt ra câu hỏi căn bản của thời đại: trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, một quốc gia có thể vừa duy trì chủ quyền, vừa tận dụng sức mạnh của hợp tác quốc tế như thế nào? Câu hỏi đó, sau một thập niên, vẫn tiếp tục là một trong những vấn đề lớn của châu Âu và trật tự thế giới hiện đại.
Tin Gốc: Dân Trí

