Từ nước ngọt không đường, trà sữa “zero sugar”, bánh kẹo dành cho người ăn kiêng đến các loại đường ăn kiêng như stevia, erythritol hay xylitol…, các chất tạo ngọt thay thế đường đang trở nên rất phổ biến.
Tuy nhiên theo bác sĩ Nguyễn Quang Bảy, Trưởng khoa nội tiết – đái tháo đường Bệnh viện Bạch Mai, các nghiên cứu mới cho thấy câu chuyện không đơn giản như chúng ta từng nghĩ.
Theo bác sĩ Bảy, đường là một trong những yếu tố góp phần làm gia tăng béo phì, gan nhiễm mỡ và đái tháo đường type 2. Vì vậy các chất tạo ngọt nhân tạo hoặc chất thay thế đường được quảng bá như một giải pháp “ngọt nhưng ít calo”. Một số chất thường gặp gồm aspartame, sucralose, saccharin, stevia, erythritol, xylitol.
Các chất này giúp tạo vị ngọt nhưng cung cấp rất ít hoặc gần như không có năng lượng. Trong ngắn hạn, việc thay thế đường bằng các chất tạo ngọt có thể giúp giảm lượng calo đưa vào cơ thể, hỗ trợ kiểm soát cân nặng và đường huyết. Đây là lý do chúng thường được khuyến cáo ở người thừa cân hoặc đái tháo đường.
Tuy nhiên “không đường” chưa chắc đã vô hại. Bác sĩ Bảy cho hay nhiều người có xu hướng nghĩ rằng: “Đã là nước ngọt không đường thì có thể uống thoải mái”. Đây có thể là một hiểu lầm nguy hiểm, vì các nghiên cứu gần đây cho thấy một số chất tạo ngọt có thể ảnh hưởng đến nhiều vấn đề trong cơ thể.
Bác sĩ Bảy nêu rõ chất tạo ngọt có thể làm ảnh hưởng đến chuyển hóa của cơ thể. Một số nghiên cứu cho thấy dù không chứa nhiều calo, vị ngọt nhân tạo vẫn có thể làm rối loạn cơ chế kiểm soát cảm giác đói – no của não bộ.
Khi cơ thể cảm nhận vị ngọt nhưng lại không nhận được năng lượng tương ứng, não có thể thúc đẩy cảm giác thèm ăn hoặc ăn bù sau đó. Điều này khiến tổng lượng calo tiêu thụ trong ngày không giảm như mong muốn. Nói cách khác: uống đồ “zero sugar” không đồng nghĩa chắc chắn sẽ giảm cân.
Bên cạnh đó nó còn làm ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột. “Ruột của chúng ta chứa hàng nghìn tỉ vi khuẩn có lợi, gọi là hệ vi sinh vật đường ruột. Đây là “cơ quan vô hình” có vai trò quan trọng trong chuyển hóa, miễn dịch và kiểm soát đường huyết.
Một số nghiên cứu cho thấy các chất tạo ngọt như saccharin, sucralose hoặc aspartame có thể làm thay đổi sự cân bằng của hệ vi sinh vật này. Khi hệ vi sinh vật bị rối loạn, nguy cơ tăng đề kháng insulin, tăng đường huyết và viêm mạn tính cũng có thể tăng theo”, bác sĩ Bảy nêu rõ.
Bên cạnh đó chất tạo ngọt còn có thể gây ảnh hưởng đến tim mạch và mạch máu. Một số chất thay thế đường từng được xem là khá an toàn, như erythritol, gần đây đang được chú ý vì có thể liên quan đến tăng nguy cơ huyết khối và các biến cố tim mạch ở một số nghiên cứu.
Dù cần thêm nhiều bằng chứng để khẳng định chắc chắn, điều này nhắc chúng ta rằng các chất tạo ngọt không hoàn toàn “trung tính” với cơ thể.
“Câu trả lời là có thể dùng, nhưng không nên lạm dụng. Các chuyên gia hiện nay cho rằng chất tạo ngọt có thể hữu ích như một biện pháp chuyển tiếp giúp giảm lượng đường tiêu thụ, đặc biệt ở người đang quen ăn quá ngọt hoặc uống nhiều nước ngọt có đường.
Tuy nhiên về lâu dài, điều quan trọng nhất vẫn là thay đổi thói quen ăn uống, vì không có loại chất tạo ngọt nào có thể thay thế hoàn toàn một chế độ ăn lành mạnh”, bác sĩ Bảy khuyến cáo.
Bác sĩ khuyến cáo thay vì dùng chất tạo ngọt, nên tập giảm dần khẩu vị ngọt. Thực tế, vị giác có thể thích nghi. Sau vài tuần giảm đồ ngọt, nhiều người bắt đầu thấy trái cây tự nhiên “ngọt hơn” và không còn quá phụ thuộc vào trà sữa hay nước ngọt. Đây là chiến lược bền vững nhất cho sức khỏe.
Ngoài ra nên ăn trái cây nguyên quả thay vì uống nước ép. Trái cây nguyên quả chứa chất xơ, vitamin, polyphenol và các vi chất có lợi. Những thành phần này giúp làm chậm hấp thu đường và tốt hơn cho chuyển hóa.
Ngược lại, nước ép trái cây – ngay cả là “100% tự nhiên” – vẫn có thể chứa lượng đường rất cao và làm tăng đường huyết nhanh vì đã bị loại bỏ các chất xơ.
Hạn chế thực phẩm siêu chế biến. Nhiều sản phẩm “ăn kiêng”, “diet”, “zero sugar” vẫn là thực phẩm chế biến sẵn, chứa nhiều phụ gia và có thể khiến chúng ta duy trì thói quen thích ăn ngọt. Đừng để chữ “không đường” làm chúng ta chủ quan.
“Nếu vẫn phải dùng chất tạo ngọt thì trong số các chất tạo ngọt hiện nay, stevia có vẻ là lựa chọn tương đối thuận lợi hơn về mặt chuyển hóa theo các dữ liệu hiện có.
Tuy nhiên ngay cả với stevia, các nghiên cứu dài hạn vẫn còn hạn chế. Vì vậy nguyên tắc quan trọng nhất vẫn là dùng ở mức vừa phải”, bác sĩ Bảy khuyến cáo.
Caffeine là chất kích thích tác động lên hệ thần kinh trung ương. Chất này giúp tăng tỉnh táo bằng cách ngăn adenosine - hợp chất liên quan cảm giác buồn ngủ - hoạt động trong não. Khi sử dụng caffeine thường xuyên, não bộ dần thích nghi với trạng thái kích thích này. Vì vậy, khi ngừng đột ngột, cơ thể cần thời gian điều chỉnh lại, dẫn đến các triệu chứng cai caffeine.
Caffeine còn làm tăng adrenaline và dopamine, đồng thời làm giảm lưu lượng máu lên não. Khi ngừng sử dụng, não phải thích nghi trở lại với sự thay đổi này.
Các triệu chứng xuất hiện khi ngừng uống cà phê thường xuất hiện sau 12-24 giờ kể từ lần tiêu thụ cuối cùng và có thể kéo dài 2-9 ngày. Sau khoảng một tuần, phần lớn triệu chứng sẽ giảm dần và nhiều người bắt đầu cảm thấy giấc ngủ ổn định hơn. Những người quen uống cà phê hàng ngày thường dễ gặp triệu chứng rõ hơn nếu giảm hoặc ngừng đột ngột.
24 giờ đầu: Đau đầu và thiếu năng lượng
Trong ngày đầu tiên không uống cà phê, nhiều người bắt đầu cảm thấy đau đầu, mệt mỏi hoặc buồn ngủ hơn bình thường. Trong đó, đau đầu là triệu chứng phổ biến nhất khi bỏ caffeine vì đây là chất làm co mạch máu trong não. Khi ngừng sử dụng, mạch máu giãn ra trở lại khiến lưu lượng máu tăng lên, từ đó gây đau đầu.
Ngoài ra, cơ thể cũng có thể xuất hiện cảm giác uể oải do adenosine không còn bị caffeine "chặn lại" như trước. Một số người có thể cảm thấy giảm động lực làm việc hoặc khó duy trì sự tỉnh táo trong giai đoạn này.
Ngày thứ hai và thứ ba: Triệu chứng thường nặng nhất
Các triệu chứng ngừng uống cà phê thường đạt đỉnh trong khoảng 24-51 giờ sau khi ngừng sử dụng. Ở giai đoạn này, ngoài đau đầu và mệt mỏi, nhiều người còn cảm thấy cáu gắt, giảm tập trung hoặc tâm trạng đi xuống. Một số trường hợp xuất hiện cảm giác giống cúm nhẹ như buồn nôn, đau cơ hoặc cứng người.
Khó tập trung và tâm trạng giảm sút là những dấu hiệu thường gặp do não bộ đang điều chỉnh lại hoạt động sau thời gian phụ thuộc caffeine.
Sau vài ngày: Cơ thể dần thích nghi
Sau khoảng 4-5 ngày, não bộ bắt đầu điều chỉnh lại hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh và triệu chứng thường giảm dần. Cảm giác đau đầu thường cải thiện trước, trong khi mệt mỏi hoặc buồn ngủ có thể kéo dài thêm vài ngày ở một số người. Dần dần, mức năng lượng ổn định hơn sau khi vượt qua giai đoạn đầu ngưng uống cà phê.
Sau 7 ngày: Giấc ngủ có thể cải thiện
Khoảng sau một tuần, phần lớn triệu chứng thể chất đã giảm rõ rệt. Bạn có thể dễ ngủ, ngủ ngon hoặc ngủ sâu hơn.
Khi uống cà phê, caffeine có xu hướng tồn tại trong cơ thể nhiều giờ và ảnh hưởng chất lượng giấc ngủ ngay cả khi cảm giác tỉnh táo đã giảm. Não bộ không còn phụ thuộc vào caffeine để duy trì tỉnh táo, mức năng lượng trong ngày có thể trở nên ổn định hơn thay vì dao động theo từng cốc cà phê.
Một số người có triệu chứng nặng hơn
Các triệu chứng xuất hiện khi ngừng uống cà phê phụ thuộc vào thói quen tiêu thụ trước đó và yếu tố di truyền. Các nghiên cứu cho thấy gene CYP1A2 - loại enzyme ở gan tham gia chuyển hóa caffeine - có thể ảnh hưởng tốc độ phân giải caffeine trong cơ thể. Người chuyển hóa chậm có xu hướng nhạy cảm hơn với caffeine và có thể gặp triệu chứng cai caffeine rõ hơn khi ngừng sử dụng. Những người uống nhiều cà phê hoặc nước tăng lực trong thời gian dài cũng có thể mất nhiều thời gian hơn để thích nghi.
Các chuyên gia khuyến cáo nên giảm dần caffeine thay vì ngừng hoàn toàn ngay lập tức, đặc biệt với người uống nhiều cà phê mỗi ngày. Có thể giảm từ từ bằng cách pha cà phê half-decaf (loại đã giảm caffeine), giảm số cốc mỗi ngày. Uống đủ nước, ngủ đầy đủ và vận động nhẹ cũng giúp cơ thể thích nghi dễ hơn.
Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng Khoa Ngoại bụng 1, cho biết ung thư đại trực tràng thường bắt đầu âm thầm, không có dấu hiệu rõ ràng ở giai đoạn đầu. Đến khi bệnh tiến triển, triệu chứng có thể xuất hiện như đầy bụng, rối loạn tiêu hóa, đi ngoài ra máu, phân chuyển màu hoặc bị táo bón xen kẽ tiêu chảy. Nếu để muộn, người bệnh có thể gặp biến chứng nguy hiểm như tắc ruột, thủng đại tràng hay xuất huyết tiêu hóa.
Theo thống kê của Tổ chức Ung thư Thế giới (Globocan) năm 2020, Việt Nam có hơn 14.000 ca mắc mới và hơn 7.500 ca tử vong do ung thư đại trực tràng. Đáng lo ngại, bệnh đang có xu hướng gia tăng ở nhóm tuổi 30-40, thậm chí dưới 20 tuổi.
"Trong đó, chế độ ăn không khoa học trở thành yếu tố nguy cơ cao dẫn đến ung thư, thậm chí khiến bệnh tiến triển nhanh hơn", bác sĩ Nam nói.
Đầu tiên, chế độ ăn nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẵn, ít rau quả là thói quen gây hại sức khỏe, tiếp tay cho ung thư tiêu hóa. Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã đưa thịt đỏ, đặc biệt là thịt chế biến ở nhiệt độ cao như chiên hay nướng vào nhóm 2A, tức là "có thể gây ung thư cho con người".
Các nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng việc tiêu thụ thịt đỏ hay thịt chế biến sẵn nhiều lần mỗi tuần làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư tiêu hóa. Ví dụ, chỉ cần ăn 100g thịt đỏ mỗi ngày đã có thể tăng nguy cơ ung thư lên 17%. Nếu thêm 50g thịt chế biến sẵn hàng ngày (như xúc xích, thịt xông khói), nguy cơ này sẽ thêm 18%. Các chất bảo quản thường dùng trong thịt chế biến sẵn như nitrat, nitrit khi vào cơ thể có thể chuyển hóa thành hợp chất gây ung thư. Một nghiên cứu từ Singapore cũng cho thấy những thực phẩm chế biến giàu đường và chất béo còn sản sinh ra hợp chất methylglyoxal, tác động đến gene chống khối u và tăng nguy cơ mắc ung thư.
Lạm dụng thức ăn chiên, nướng nhiều lần, sử dụng thực phẩm ôi thiu, quá hạn, hay lạm dụng gia vị không đảm bảo an toàn cũng là những yếu tố nguy hiểm. Nướng đồ ăn trên than hoa, than củi cũng gây độc.
Chế độ ăn mặn cũng là yếu tố nguy cơ. Thực tế, người Việt Nam đang tiêu thụ trung bình 8,1g muối/ngày và 46,5g đường tự do/ngày, cao gần gấp hai lần so với khuyến cáo của WHO về mức tiêu thụ có lợi cho sức khỏe.
Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho biết, Việt Nam là một trong 10 nước có người dân lười vận động nhất thế giới. Nghiên cứu của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, 30% người Việt trưởng thành thiếu vận động thể lực. Tố chất về thể lực, sức bền và sức mạnh của thanh thanh niên Việt Nam xếp vào mức kém so với tiêu chuẩn.
Tình trạng trẻ hóa người nghiện thuốc lá, nhất là loại thế hệ mới như thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng là nguyên nhân gây bệnh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hút thuốc lá gây nhiều bệnh mạn tính và nan y. Trong khói thuốc lá có khoảng 7.000 chất hóa học, bao gồm 69 chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 25 nhóm bệnh khác nhau, như 11 loại ung thư, các bệnh về tim mạch, hô hấp, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ. Ước tính, cứ hai người hút thuốc lá thì một người sẽ chết sớm, trong đó 1/2 số ca tử vong xảy ra ở tuổi trung niên.
Bên cạnh chế độ ăn uống, các yếu tố khác như tuổi tác, tiền sử viêm ruột mạn tính, xạ trị vùng bụng, hoặc gia đình có người mắc ung thư đại trực tràng, đa polyp tuyến, cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 5% trường hợp liên quan đến đột biến gene như hội chứng Lynch.
Ung thư đại trực tràng có thể liên quan đến một số yếu tố như bệnh viêm ruột (bệnh Crohn, viêm loét đại tràng), yếu tố di truyền từ gia đình.
Bác sĩ khuyến cáo mọi người có thể giảm nguy cơ ung thư bằng những thay đổi nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Ăn nhiều rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, hạn chế thịt đỏ và đặc biệt nói không với thịt chế biến sẵn. Tăng cường vận động và duy trì tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày sẽ không chỉ giúp cơ thể khỏe hơn mà còn đẩy lùi nguy cơ ung thư hiệu quả.
Nên sàng lọc định kỳ để phát hiện sớm polyp tiền ung thư. Nếu cắt bỏ polyp kịp thời, nguy cơ ung thư giảm tới 90%. Theo khuyến cáo Hiệp hội Ung thư Mỹ, người từ 45 tuổi nên sàng lọc dù không có triệu chứng. Với người có yếu tố nguy cơ cao (tiền sử cá nhân ung thư đại trực tràng hoặc polyp đại trực tràng, gia đình ung thư đại trực tràng, bệnh ruột viêm, tiền sử xạ trị vùng bụng hoặc chậu), cần sàng lọc sớm hơn, thậm chí từ 20-30 tuổi.
Chiều 9-4, tại buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội và ngân sách nhà nước, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội - đã nêu ra những thực tế liên quan đến bạo lực học đường, thực phẩm bẩn.
Theo đại biểu, vừa qua xảy ra một số vụ bạo lực của học sinh phổ thông, đặc biệt ở ngoài nhà trường. Các vụ việc có tính chất và mức độ phức tạp, nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường giáo dục, thể chất và tinh thần của học sinh, gây lo lắng và bức xúc trong dư luận xã hội.
Cùng đó tình trạng bạo hành trẻ em vẫn còn xảy ra ở các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em. Điển hình như vụ xảy ra ở Trung tâm Công tác xã hội Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Theo đại biểu, những vụ việc này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, thể chất, tinh thần, thậm chí là đe dọa cả tính mạng của trẻ em.
Vì vậy đại biểu Thoa đề nghị Thủ tướng, Chính phủ quan tâm chỉ đạo các bộ ngành liên quan có giải pháp hữu hiệu.
Về những vụ việc thực phẩm bẩn gần đây, nữ đại biểu cho rằng cần tăng cường quản lý vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong các nhà trường.
Cụ thể cần kiểm soát tốt hơn nguồn gốc thực phẩm, quy định các điều kiện tiêu chuẩn cao hơn đối với thực phẩm cung cấp cho các nhà trường để bảo vệ, chăm sóc tốt cho trẻ em.
Đại biểu cho rằng những vụ việc đưa thực phẩm không bảo đảm an toàn vào các trường học ở Hà Nội khiến dư luận bức xúc.
Trong khi đó trẻ em là đối tượng hết sức đặc biệt, nhạy cảm. Nếu chúng ta không có giải pháp quản lý chặt chẽ, lâu dài sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thể chất, tinh thần và tầm vóc, thể lực của thế hệ tương lai của đất nước.
Nữ đại biểu mong muốn cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phòng chống xâm hại trên không gian mạng với trẻ em. Bởi thực tế tình trạng trẻ em bị xâm hại trên mạng dưới rất nhiều hình thức tinh vi, phức tạp, trong đó có cả bắt cóc online, bạo lực mạng, bắt nạt qua mạng.
“Chúng tôi đề nghị nghiên cứu giải pháp cấm hoặc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội đối với một số nền tảng phổ biến, kèm theo những điều kiện, giải pháp cụ thể liên quan khác” - bà Thoa nhấn mạnh.
Qua thu thập thông tin, bà Thoa cho hay một số nước như Úc, Indonesia, Pháp, Anh… đang nghiên cứu hoặc xây dựng quy định về việc cấm người dưới 16 tuổi tiếp cận mạng xã hội để bảo vệ trẻ trước những nội dung độc hại và chứng nghiện điện thoại.
Nữ đại biểu đoàn Hải Phòng cho rằng không có người lớn nào có đủ thời gian để theo dõi con em mình trong dùng mạng xã hội. Và không phải trẻ em nào khi dùng mạng xã hội cũng được hướng dẫn sử dụng đúng đắn, hiệu quả.
Theo bà, trẻ em thường nhận thức chưa đầy đủ, dễ bị lôi kéo vào xem, nghe, đọc những nội dung nhạy cảm, hấp dẫn và không phù hợp lứa tuổi. Do đó việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục để trẻ được rèn luyện, bồi dưỡng cả về đức, trí, thể, mỹ cũng là thể hiện trách nhiệm với tương lai của đất nước.