Ngày 10/4, BSCKI. Dương Thị Thúy Quỳnh, khoa Điều trị Bệnh da nam giới, Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho hay bệnh nhân nhập viện với triệu chứng xuất hiện dát mảng trắng, sưng nề kèm tiết dịch mủ vùng quy đầu, bao quy đầu, đau rát nhẹ tại tổn thương.
Kết quả chẩn đoán bệnh nhân bị giang mai chưa loại trừ bội nhiễm, được chỉ định thực hiện một số xét nghiệm, sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Nhuộm soi vi khuẩn có cầu khuẩn gram dương, trực khuẩn gram âm và siêu âm có hạch bẹn 2 bên. Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc, sau 3 ngày tình trạng ổn định.
Giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai Treponema pallidum gây nên. Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây thương tổn ở da – niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể, như cơ, xương khớp, tim mạch và thần kinh. Bệnh gây hậu quả nghiêm trọng như giang mai thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm toàn cầu ghi nhận khoảng 7 triệu ca mắc mới giang mai ở người trưởng thành. Tại Việt Nam, bệnh giang mai chiếm khoảng 2-5% trên tổng số bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó tỷ lệ mắc giang mai trên bệnh nhân đến khám bệnh lây truyền qua đường tình dục là 4,0%, gái mại dâm 4,5%.
TS.BS Quách Thị Hà Giang, Trưởng Khoa Điều trị bệnh da nam giới, cho hay quan hệ tình dục không an toàn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có bệnh giang mai. Cả nam và nữ đều có nguy cơ mắc bệnh nếu không được bảo vệ. Vì đáp ứng miễn dịch đối với bệnh giang mai rất yếu nên người đã mắc bệnh, dù đã được điều trị khỏi, vẫn có thể tái nhiễm nếu tiếp tục quan hệ tình dục không an toàn.
Hơn nữa, bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí hàng chục năm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, gây ra những di chứng không hồi phục như giang mai thần kinh – gây viêm màng não, liệt dây thần kinh sọ, tăng áp lực nội sọ; viêm tủy sống gây liệt; viêm củng mạc, mống mắt, màng bồ đào, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người bệnh
Những nguy cơ này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân người bệnh mà còn đối với bạn tình, đồng thời có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng trong thai kỳ đối với thai nhi và trẻ sơ sinh. Chính vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm giang mai cho tất cả phụ nữ mang thai ngay từ lần khám thai đầu tiên nhằm phát hiện sớm, điều trị kịp thời và ngăn ngừa lây truyền từ mẹ sang con.
Người dân khi có quan hệ tình dục không an toàn nên chủ động đi khám sớm tại các cơ sở y tế chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường, để được điều trị đúng, đủ theo phác đồ. Không được tự ý điều trị hoặc ngâm/rửa các loại lá, bôi các loại thuốc không rõ tác dụng, tránh làm bệnh nặng hơn.
Để ngăn ngừa và giảm thiểu các nguy cơ mắc bệnh, cần tích cực truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng. Khuyến khích người dân về lối sống lành mạnh, quan hệ tình dục an toàn để ngăn ngừa nguy cơ biến chứng sau nhiều năm.
Sau một đêm dài, cơ thể dễ bị thiếu nước nhẹ. Lựa chọn đồ uống đầu ngày phù hợp có thể hỗ trợ thận hoạt động hiệu quả hơn trong việc lọc chất thải, cân bằng dịch và duy trì huyết áp ổn định.
Nước lọc được xem là lựa chọn tốt cho thận. Theo Verywell Health, uống nước vào buổi sáng giúp cơ thể bù nước sau nhiều giờ ngủ, hỗ trợ thận đào thải chất thải và duy trì chức năng lọc máu.
Uống đủ nước (1,8-2 lít nước mỗi ngày ở người trưởng thành) có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận và hỗ trợ sức khỏe tổng thể.
Sau một đêm dài, cơ thể dễ bị thiếu nước nhẹ. Lựa chọn đồ uống đầu ngày phù hợp có thể hỗ trợ thận hoạt động hiệu quả hơn trong việc lọc chất thải, cân bằng dịch và duy trì huyết áp ổn định.
Nước lọc được xem là lựa chọn tốt cho thận. Theo Verywell Health, uống nước vào buổi sáng giúp cơ thể bù nước sau nhiều giờ ngủ, hỗ trợ thận đào thải chất thải và duy trì chức năng lọc máu.
Uống đủ nước (1,8-2 lít nước mỗi ngày ở người trưởng thành) có thể giúp giảm nguy cơ sỏi thận và hỗ trợ sức khỏe tổng thể.
Cà phê đen là một trong những đồ uống buổi sáng có lợi cho thận nếu dùng điều độ. Uống cà phê điều độ còn hỗ trợ giảm nguy cơ mắc bệnh thận và giúp duy trì khả năng lọc của thận lâu hơn.
Điều quan trọng là hạn chế thêm quá nhiều đường, kem béo hoặc sữa nhiều phốt pho và kali vào tách cà phê. Chúng có thể làm tăng lượng đường và calo, gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch, thận.
Cà phê đen là một trong những đồ uống buổi sáng có lợi cho thận nếu dùng điều độ. Uống cà phê điều độ còn hỗ trợ giảm nguy cơ mắc bệnh thận và giúp duy trì khả năng lọc của thận lâu hơn.
Điều quan trọng là hạn chế thêm quá nhiều đường, kem béo hoặc sữa nhiều phốt pho và kali vào tách cà phê. Chúng có thể làm tăng lượng đường và calo, gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch, thận.
Trà xanh chứa nhiều polyphenol - hợp chất chống oxy hóa có thể giúp giảm viêm và hỗ trợ sức khỏe tổng thể. Các chuyên gia khuyến nghị nên uống trà xanh nguyên chất, hạn chế thêm đường hoặc sữa đặc để tránh tăng lượng đường nạp vào cơ thể.
Trà xanh chứa nhiều polyphenol - hợp chất chống oxy hóa có thể giúp giảm viêm và hỗ trợ sức khỏe tổng thể. Các chuyên gia khuyến nghị nên uống trà xanh nguyên chất, hạn chế thêm đường hoặc sữa đặc để tránh tăng lượng đường nạp vào cơ thể.
Nước hương vị tự nhiên thường làm từ trái cây, thảo mộc hoặc tinh chất tự nhiên nhưng không chứa nhiều đường hay phụ gia. Bạn có thể thêm vài lát chanh, cam, dưa leo, bạc hà vào cốc nước, nhâm nhi buổi sáng để thay thế cho nước lọc thông thường.
Nước hương vị tự nhiên thường làm từ trái cây, thảo mộc hoặc tinh chất tự nhiên nhưng không chứa nhiều đường hay phụ gia. Bạn có thể thêm vài lát chanh, cam, dưa leo, bạc hà vào cốc nước, nhâm nhi buổi sáng để thay thế cho nước lọc thông thường.
Uống sữa bò có thể hỗ trợ sức khỏe thận. Tuy nhiên, những người mắc bệnh thận mạn nên hạn chế sữa bò và sữa yến mạch do hàm lượng phốt pho và kali trong các loại đồ uống này.
Uống sữa bò có thể hỗ trợ sức khỏe thận. Tuy nhiên, những người mắc bệnh thận mạn nên hạn chế sữa bò và sữa yến mạch do hàm lượng phốt pho và kali trong các loại đồ uống này.
Bác sĩ Dương Minh Tuấn, Khoa Nội tiết Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết người đái tháo đường không cần kiêng hoàn toàn hoa quả nhưng nên ưu tiên hoa quả nguyên miếng, nguyên múi, thay vì nước ép. Bởi, khi ăn một múi cam, một miếng táo hay vài quả dâu, cơ thể phải nhai, nghiền, tiêu hóa rồi mới giải phóng đường ra từ từ. Chất xơ trong trái cây làm chậm rỗng dạ dày, làm chậm hấp thu glucose tại ruột, nhờ đó đường máu sau ăn thường tăng chậm hơn.
Khi ép trái cây, máy ép đã phá vỡ cấu trúc tế bào, tách nước đường ra khỏi phần bã xơ. Một cốc nước cam, nước táo hay nước nho có thể chứa lượng đường của 2–4 quả, nhưng lại gần như không còn đủ phần xơ nguyên vẹn để làm chậm hấp thu.
Nước ép và sinh tố thường có phần chất xơ bị loại bỏ hoặc bị phá vỡ, khiến đường trong trái cây trở thành dạng "free sugars" dễ hấp thu hơn. Nước ép dễ uống một lượng lớn trong thời gian ngắn, làm tăng tổng năng lượng và carbohydrate nạp vào.
"Vì vậy, người bệnh có thể thấy một hiện tượng khi ăn một quả cam thì đường máu tăng ít, nhưng uống một cốc nước cam ép thì đường máu vọt lên nhanh", bác sĩ nói.
Ngoài ra, nước ép làm cơ thể mất cảm giác no, dễ nạp nhiều carbohydrate hơn mà không nhận ra. Chưa kể nhiều loại nước ép còn có thêm đường, sữa đặc, syrup hoặc dùng lượng trái cây rất lớn. Do đó, người đái tháo đường nên ưu tiên ăn táo, lê, cam nguyên múi, bưởi, ổi, dâu tây, việt quất... Nên hạn chế xoài chín, mít, nhãn, vải, sầu riêng, nho ngọt...
Bác sĩ khuyến cáo 5 nguyên tắc khi ăn hoa quả:
Nên ăn quả nguyên miếng, nguyên múi thay vì uống nước ép. Cam nên ăn múi, táo nên ăn miếng, ổi nên ăn cả phần xơ, không nên biến thành nước ép lọc bã.
Không ăn quá nhiều một lần. Mỗi lần chỉ nên dùng một khẩu phần vừa phải, ví dụ một quả táo nhỏ, một quả lê nhỏ, một miếng bưởi vừa, một bát nhỏ dâu, hoặc một phần trái cây tương đương khoảng 15 g carbohydrate tùy kế hoạch ăn của từng người.
Không uống nước ép để "bồi bổ" hằng ngày. Nếu rất muốn dùng, nên giới hạn lượng nhỏ, tốt nhất dùng trong bữa ăn và phải tính vào tổng lượng carbohydrate. Chỉ nên giới hạn khoảng một ly nhỏ 150 ml/ngày, nhưng với người đường máu đang kiểm soát kém, tốt nhất vẫn nên ưu tiên quả nguyên miếng.
Nên ăn trái cây sau bữa chính hoặc trong bữa phụ có kiểm soát, tránh uống nước ép lúc đói. Khi ăn cùng bữa có đạm, chất béo tốt và chất xơ, tốc độ hấp thu đường thường chậm hơn so với dùng đơn độc.
Nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature Communications đã đề xuất một cách tiếp cận đơn giản hơn: sử dụng hình ảnh khuôn mặt để ước tính tuổi sinh học thông qua trí tuệ nhân tạo.
Công cụ có tên FaceAge phân tích các đặc điểm như cấu trúc da, độ đàn hồi, thể tích mô mềm và các dấu hiệu lão hóa để đưa ra "tuổi khuôn mặt". Khi tuổi này cao hơn tuổi thật, đó có thể là dấu hiệu cơ thể đang lão hóa nhanh hơn bình thường.
Trước đó, mô hình AI quy mô lớn FAHR-FaceAge đã được huấn luyện trên hơn 40 triệu hình ảnh khuôn mặt nhằm nhận diện các tín hiệu sức khỏe. Kết quả cho thấy những bệnh nhân có "tuổi khuôn mặt" cao hơn tuổi thật từ 5 năm trở lên có nguy cơ tử vong cao hơn khoảng 21%.
Điểm mới của nghiên cứu là không chỉ đo "tuổi khuôn mặt" tại một thời điểm, mà còn theo dõi sự thay đổi của nó theo thời gian, gọi là chỉ số tốc độ lão hóa khuôn mặt (FAR).
Các nhà khoa học đã phân tích dữ liệu từ 2.276 bệnh nhân ung thư đang xạ trị. Mỗi người có ít nhất hai ảnh khuôn mặt được chụp trong quá trình điều trị. Từ đó họ tính toán mức độ thay đổi tuổi sinh học theo thời gian.
Kết quả cho thấy một xu hướng rõ ràng: tốc độ lão hóa khuôn mặt càng nhanh, khả năng sống sót càng thấp.
Cụ thể ở nhóm có chỉ số FAR cao, nguy cơ tử vong tăng khoảng 25% trong thời gian ngắn, 37% ở giai đoạn trung hạn và lên tới 65% trong theo dõi dài hạn. Mối liên hệ này vẫn giữ nguyên ngay cả khi đã điều chỉnh các yếu tố như tuổi, giới tính hay loại ung thư.
Đáng chú ý, chỉ số này còn cho thấy giá trị dự báo mạnh hơn so với việc chỉ nhìn vào "tuổi khuôn mặt" tại một thời điểm. Nói cách khác, tốc độ lão hóa phản ánh chính xác hơn diễn tiến bệnh và phản ứng với điều trị.
Theo các nhà khoa học, quá trình lão hóa sinh học không diễn ra đồng đều mà có thể tăng tốc trong những giai đoạn nhất định, đặc biệt khi cơ thể chịu tác động từ bệnh tật hoặc điều trị.
Ở bệnh nhân ung thư, nhiều yếu tố có thể thúc đẩy lão hóa nhanh hơn, bao gồm tổn thương DNA, viêm mạn tính, suy giảm miễn dịch hoặc tác dụng phụ của xạ trị và hóa trị.
Những thay đổi này không chỉ xảy ra bên trong cơ thể mà còn biểu hiện ra bên ngoài, đặc biệt trên khuôn mặt, nơi dễ quan sát các dấu hiệu như sụt cân, teo mô, da kém đàn hồi hoặc thay đổi sắc tố.
Do đó việc theo dõi khuôn mặt theo thời gian có thể gián tiếp phản ánh diễn tiến sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.
Một trong những ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là tính không xâm lấn, chi phí thấp và dễ triển khai trong thực tế lâm sàng. Khác với các xét nghiệm sinh học phức tạp, việc chụp ảnh khuôn mặt có thể thực hiện nhanh chóng và lặp lại nhiều lần trong quá trình điều trị. Điều này giúp bác sĩ theo dõi liên tục sự thay đổi của bệnh nhân mà không gây thêm gánh nặng.
Nếu được xác nhận thêm, chỉ số FAR có thể được tích hợp vào hệ thống đánh giá tiên lượng hiện tại để: giúp xác định bệnh nhân có nguy cơ cao, điều chỉnh cường độ điều trị, hoặc lựa chọn chiến lược chăm sóc phù hợp hơn, đặc biệt trong các giai đoạn bệnh tiến triển.
Dù mang lại nhiều triển vọng, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế. Mẫu nghiên cứu chủ yếu là người da trắng và lớn tuổi, do đó chưa thể khái quát cho toàn bộ dân số.
Ngoài ra chưa thể khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa tốc độ lão hóa khuôn mặt và nguy cơ tử vong. Các yếu tố khác như tình trạng suy kiệt do ung thư hay tác dụng phụ của điều trị cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả.
Bên cạnh đó, việc sử dụng dữ liệu khuôn mặt trong y tế đặt ra những vấn đề về quyền riêng tư, đạo đức và nguy cơ sai lệch thuật toán, những yếu tố cần được giải quyết trước khi ứng dụng rộng rãi.
Các nhà khoa học cho rằng cần thêm các nghiên cứu tiền cứu, đa trung tâm và đa dạng dân số để xác nhận kết quả. Đồng thời việc kết hợp chỉ số FAR với các dấu ấn sinh học khác có thể giúp nâng cao độ chính xác trong dự báo.
Nếu được phát triển đúng hướng, công nghệ này có thể trở thành một công cụ hỗ trợ quan trọng trong y học chính xác, nơi mỗi bệnh nhân được điều trị dựa trên đặc điểm riêng của cơ thể, thay vì chỉ dựa vào chẩn đoán chung.