Dự chương trình dâng hương tưởng nhớ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu còn có các ông Lê Quang Mạnh – Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Nguyễn Đắc Vinh – Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; Đỗ Thanh Bình – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
Bà Hà Thị Nga, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch – Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam; Thượng tướng Nguyễn Trường Thắng – Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Nguyễn Ngọc Lâm – Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an.
Lãnh đạo TP.HCM dự lễ dâng hương có các ông Nguyễn Phước Lộc – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM; Hoàng Nguyên Dinh – Phó Chủ tịch UBND TP.HCM…
Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện thăm, tặng quà thương binh, người có công và gia đình người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026) tại TP.HCM của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.
Trong không khí trang nghiêm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dẫn đầu đoàn công tác đã đến dâng hương, hoa tại tượng đài và nhà tưởng niệm Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Võ Thị Sáu (xã Đất Đỏ, TP.HCM).
Sau chương trình dâng hương, Chủ tịch Quốc hội cùng đoàn công tác thành kính thắp hương ở các phần mộ tại nghĩa trang liệt sĩ Long Điền – Đất Đỏ, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

TS Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển trả lời VnExpress về khả năng xuất hiện El Nino cũng như tác động đến Việt Nam.
- Các cơ quan khí tượng quốc tế cảnh báo khả năng xuất hiện "siêu El Nino" trong năm nay. Ông nhìn nhận thế nào về kịch bản này?
Cường độ El Nino được theo dõi bằng chỉ số ONI - trung bình trượt 3 tháng của dị thường nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực Niño 3.4 ở trung tâm xích đạo Thái Bình Dương. Theo phân loại, El Nino được chia thành yếu (0,5-0,9 độ C), trung bình (1-1,4 độ), mạnh (1,5-1,9 độ) và rất mạnh khi từ 2 độ C trở lên. Vì vậy, "siêu El Nino" thực chất là El Nino rất mạnh, với ONI khoảng từ 2 độ C.
Cập nhật từ các trung tâm dự báo lớn như Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ và Trung tâm Dự báo Thời tiết trung hạn châu Âu cho thấy khả năng chuyển sang El Nino trong hè 2026 trên 60% và có thể kéo dài đến cuối năm. Xác suất đạt ngưỡng rất mạnh vào cuối năm khoảng 25%. Tuy nhiên, các mô hình vẫn chưa thống nhất về cường độ cực đại nên cần tiếp tục theo dõi.
Nhìn chung, độ tin cậy đối với xu thế hình thành El Nino là khá cao, khi tín hiệu đại dương rõ rệt và điều kiện khí quyển thuận lợi cho quá trình ấm lên. Tuy nhiên, bất định vẫn lớn về cường độ cực đại do ENSO (dao động tự nhiên giữa đại dương và khí quyển ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương) đang trong giai đoạn "rào cản mùa xuân", thời kỳ kỹ năng dự báo suy giảm và biên độ dự báo giữa các kịch bản còn rộng.
- Nếu El Nino phát triển mạnh, ông đánh giá thế nào cường độ của nó (có thể so sánh các đợt lịch sử như 1997-1998 hay 2015-2016)?
- Nếu El Nino năm 2026 thực sự phát triển tới ngưỡng rất mạnh thì xét riêng về chỉ số ONI, nó có thể được xếp vào cùng nhóm với các sự kiện El Nino mạnh nhất trong chuỗi quan trắc hiện đại như 1997-1998 và 2015-2016. Tuy nhiên, về mặt khoa học khí hậu cần đặc biệt thận trọng khi so sánh trực tiếp như vậy.
Cùng một giá trị ONI hoặc cùng được xếp vào nhóm rất mạnh không đồng nghĩa với việc các tác động khí hậu sẽ lặp lại theo cùng một cách. Nguyên nhân là tác động của ENSO không chỉ phụ thuộc vào biên độ nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực Niño 3.4, mà còn phụ thuộc vào cấu trúc không gian của dị thường nhiệt độ mặt biển trên toàn vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, thời điểm hiện tượng đạt cực đại, mức độ kết nối giữa tín hiệu đại dương và hoàn lưu khí quyển, cũng như trạng thái đồng thời của các dao động khí hậu khác.
Ngoài ra, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mối quan hệ giữa cường độ ENSO và các cực đoan khí hậu không mang tính tuyến tính đơn giản. Các cực đoan thực tế là kết quả của sự chồng lấn giữa dao động tự nhiên và một nền khí hậu đang nóng lên, với lượng hơi nước lớn hơn và điều kiện nhiệt - ẩm thay đổi. Vì vậy, cùng một mức ONI nhưng tác động đến nắng nóng, hạn hán, mưa lớn hay bão ở từng vùng có thể khác đáng kể giữa các thời kỳ.
Nói cách khác, nếu xét riêng về cường độ thì có thể tiệm cận nhóm lịch sử, nhưng về tác động thì không thể mặc định sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước.
- El Nino tác động đến khí hậu toàn cầu?
- Về bản chất, El Nino làm thay đổi chênh lệch nhiệt độ mặt biển dọc xích đạo Thái Bình Dương, làm suy yếu sự khác biệt giữa phía tây và phía đông. Điều này kéo theo biến đổi đối lưu nhiệt đới và hoàn lưu Walker - hệ thống gió quy mô lớn chi phối vận chuyển không khí và độ ẩm.
Khi hoàn lưu Walker suy yếu hoặc dịch chuyển, các vùng mây đối lưu và mưa lớn thay đổi theo, đồng thời kéo theo sự điều chỉnh của các dòng xiết cận nhiệt và các sóng khí quyển quy mô hành tinh. Đây là cơ chế khiến các hình thái thời tiết bị xáo trộn về vị trí và thời điểm.
Tuy nhiên, tác động của El Nino không đồng nhất giữa các khu vực, do còn phụ thuộc vào cấu trúc vùng nước ấm, thời điểm đạt cực đại và tương tác với các hệ thống khí hậu khác, cũng như yếu tố địa hình và hoàn lưu khu vực.
- Với Việt Nam, El Nino sẽ tác động thế nào đến nắng nóng, lượng mưa, bão và các hiện tượng cực đoan?
- Đối với Việt Nam, El Nino thường liên quan đến xu thế nền nhiệt cao hơn trung bình, bốc thoát hơi mạnh hơn và mưa suy giảm trong một số thời kỳ, qua đó làm tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn, thiếu nước và suy giảm dòng chảy. Tuy nhiên, tác động không đồng đều giữa các vùng.
Tín hiệu thiếu mưa và hạn hán thường rõ hơn ở Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, trong khi miền Bắc thể hiện rõ hơn ở việc nền nhiệt cao hơn và số ngày nắng nóng tăng. Các dự báo hiện nay cũng cho thấy nhiệt độ trung bình có thể cao hơn bình thường khoảng 0,5-1 độ C, nắng nóng có thể nhiều và gay gắt hơn.
Trong các năm El Nino, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, nhưng không đồng nghĩa rủi ro giảm. Vẫn có thể xuất hiện các cơn bão mạnh, tăng cường nhanh hoặc có quỹ đạo phức tạp. Đồng thời, El Nino cũng không loại trừ khả năng xuất hiện các hiện tượng cực đoan như giông mạnh, lốc, sét, mưa đá trong các thời kỳ chuyển mùa.
Nói cách khác, El Nino chủ yếu làm thay đổi nền xác suất khí hậu theo mùa, chứ không quyết định tuyệt đối từng đợt thời tiết cụ thể.
- Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu đang tăng cao, El Nino có thể làm gia tăng mức độ nắng nóng và rủi ro khí hậu ở Việt Nam thế nào?
- El Nino diễn ra trên nền khí hậu toàn cầu đã nóng lên rõ rệt trong nhiều năm gần đây. Nếu phát triển mạnh, hiện tượng này sẽ cộng hưởng với nền nhiệt vốn cao, làm tăng xác suất các đợt nắng nóng mạnh và kéo dài.
Tuy vậy, chưa thể tách bạch một con số cụ thể về mức tăng nhiệt do El Nino, vì cường độ nắng nóng còn phụ thuộc nhiều yếu tố như hoàn lưu khí quyển, áp thấp nóng phía tây, hiệu ứng phơn, độ ẩm và điều kiện nội mùa.
Điều có thể nói chắc hơn là El Nino làm tăng xác suất nền nhiệt cao hơn trung bình, còn biến đổi khí hậu làm nâng nền nhiệt xuất phát. Khi hai yếu tố này cộng hưởng, các đợt nóng có xu hướng gay gắt hơn, kéo dài hơn và tác động lớn hơn.
Nếu El Nino phát triển từ mùa hè và mạnh dần về cuối năm, rủi ro không xuất hiện đồng đều mà tăng theo mùa. Mùa hè và đầu thu 2026, nguy cơ chính là nắng nóng diện rộng, phụ tải điện tăng, thiếu nước cục bộ, nhất là ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Từ cuối hè sang mùa khô 2026-2027, rủi ro gia tăng ở Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ với thiếu mưa, suy giảm dòng chảy, hạn hán và xâm nhập mặn.
- Cần làm gì để giảm thiệt hại do El Nino:
- Để ứng phó với El Nino, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không chuẩn bị theo một kịch bản đơn tuyến chỉ có nóng và khô mà theo hướng đa rủi ro. Với nông nghiệp, cần điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và tưới tiết kiệm. Với tài nguyên nước, cần theo dõi cân bằng nước, tích nước sớm và xây dựng kịch bản cấp nước dự phòng. Với năng lượng, cần chuẩn bị cho rủi ro kép: phụ tải tăng vì nóng trong khi thủy điện có thể suy giảm vì thiếu nước.
Ở cấp địa phương, cần đồng thời chuẩn bị cho nắng nóng, cháy rừng, thiếu nước, nhưng cũng không lơ là với giông mạnh, mưa đá, mưa lớn cục bộ và bão mạnh có quỹ đạo phức tạp. Cách tiếp cận phù hợp nhất là quản trị rủi ro dựa trên dự báo khí hậu nhiều hạn và cập nhật thường xuyên khi ENSO vượt qua rào cản mùa xuân trong các tháng tới.
Tin Gốc: Vnexpress

Khoảng 9 giờ 50 ngày 14.4, tại khu vực hòn Chó Đen (vịnh Hạ Long), đoàn kiểm tra liên ngành gồm Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử, Chi cục Biển, Hải đảo và Thủy sản, lực lượng Kiểm ngư, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Hòn Gai, Phòng CSGT và UBND P.Hạ Long đã phát hiện gia đình ông Đinh Văn Đông (trú tại thôn 16, P.Hiệp Hòa) có hành vi nuôi thủy sản trái phép trên vịnh Hạ Long.
Tại thời điểm kiểm tra, ông Đông không xuất trình được giấy phép nuôi trồng thủy sản theo quy định. Lực lượng chức năng ghi nhận tại hiện trường có khoảng 900 lồng nhựa, 2 mảng gỗ cùng 1 phương tiện phục vụ nuôi trồng. Ông Đông thừa nhận đã thả tới 15.000 lồng ngao trên diện tích khoảng 2.000 m2 mặt nước và xác định hành vi là vi phạm pháp luật.
Tiếp đó, vào khoảng 10 giờ 20, tại khu vực lân cận, đoàn kiểm tra tiếp tục phát hiện một phương tiện thủy dài hơn 5 m đang kéo 4 bè gỗ, chở theo 1.000 lồng nhựa phục vụ nuôi thủy sản trái phép trên vịnh Hạ Long. Chủ phương tiện là ông Đinh Đức Dũng (cùng trú tại thôn 16, P.Hiệp Hòa) không xuất trình được giấy tờ phương tiện và giấy phép nuôi trồng theo quy định.
Đoàn kiểm tra liên ngành đã lập biên bản xử lý các trường hợp vi phạm, yêu cầu chấm dứt ngay hoạt động nuôi thủy sản trái phép trên vịnh Hạ Long, đồng thời tạm giữ toàn bộ tang vật liên quan. Các cá nhân vi phạm được yêu cầu về trụ sở Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử để tiếp tục làm việc, xử lý theo quy định pháp luật.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều xuống ở đại ngàn Tây nguyên, thượng tá Y Tuấn Ê Ban, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự xã Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đưa chúng tôi đi dọc những buôn làng từng nổi tiếng với nhà dài của đồng bào Ê Đê. Xe vừa qua buôn Ja, ông chỉ tay về dãy nhà bê tông mới mọc lên ven đường rồi chậm giọng: "Ngày xưa dọc tuyến này hầu hết là nhà dài. Bây giờ bê tông hóa gần hết rồi".
Vào sâu trong buôn, chúng tôi tìm đến căn nhà dài của gia đình ông Y Găm Liêng Hót - một trong số ít ngôi nhà còn giữ được dáng dấp nguyên bản. Bộ khung gỗ lớn đã ngả màu thời gian, cầu thang cái vẫn còn chạm hình bầu sữa mẹ - biểu tượng của chế độ mẫu hệ Ê Đê. "Giờ nhà dài xuống cấp dữ lắm. Người ta bán đi hoặc phá để xây nhà kiểu khác", ông Y Găm Liêng Hót nói.
Nhìn quanh buôn, chỗ từng có rất nhiều nhà dài nay thành nhà bê tông xây trệt trên nền đất hoặc rất nhiều nhà sàn cũng bê tông hóa. Những căn còn sót lại thì cố níu giữ được ngày nào hay ngày ấy. Tình cảnh ấy không chỉ ở Krông Bông. Tại Yang Kang, Yang Mao, Cư Pui…, nhà dài cũng đang dần biến mất âm thầm.
Cần phải nhìn nhận rằng những ngôi nhà bê tông không chỉ là dấu hiệu của đô thị hóa, mà còn cho thấy khát vọng vươn lên trong đời sống của người dân bản địa. Nhưng cùng với sự đổi thay ấy, những giá trị gắn với nhà dài truyền thống cũng dần phai nhạt.
Khi nhà dài mất đi, không chỉ một kiểu kiến trúc biến mất, mà cả không gian sinh hoạt cộng đồng, bếp lửa, nếp sống mẫu hệ và ký ức nhiều thế hệ người Ê Đê cũng lặng lẽ rời khỏi buôn làng. Điều dễ thấy nhất là nhiều căn đã bị co ngắn, cách tân. Có căn chỉ còn vài gian cũ như một dấu tích của đời sống mẫu hệ xưa.
Nhà dài của người Ê Đê vốn không chỉ là nơi ở. Đó từng là "trái tim" của buôn làng. Mỗi khi con gái trong nhà lấy chồng, căn nhà lại nối thêm một gian mới. Trong cùng mái nhà có thể sống ba, bốn thế hệ. Đêm xuống, bếp lửa đỏ xuyên đêm, tiếng chiêng ngân lên, sử thi (khan) được kể bên ché rượu cần... Nhưng nhịp sống ấy giờ đang vỡ dần.
Chúng tôi trở lại buôn Akŏ Dhông, buôn làng giữa phố của TP.Buôn Ma Thuột (cũ), Trưởng buôn H'Việt cho biết trước đây nơi này có khoảng 40 căn nhà dài đúng chuẩn truyền thống, nhưng nay chỉ còn một căn gần như nguyên bản.
Ngay cả những căn còn tồn tại cũng đã biến đổi nhiều. Có nhà thay mái tranh bằng mái tôn, mái ngói. Có nhà dựng chân bê tông thay cột gỗ. Có nơi cải tạo thành homestay, quán cà phê phục vụ du lịch. "Gia đình tôi cũng đang cố phục dựng lại căn nhà dài của cha ông để giữ hồn dân tộc mình", bà H'Việt nói.
Không riêng người Ê Đê, quanh hồ Lắk - nơi có các buôn M'Liêng, Jun, Lê của người M'nông - nhà dài cũng đang biến đổi mạnh bởi du lịch, kinh tế và đời sống hiện đại. Nguyên nhân của sự biến mất ấy không khó nhìn thấy. Gỗ lớn ngày càng hiếm và đắt đỏ khi rừng cạn dần.
Một căn nhà dài đúng kiểu cổ có thể tốn hàng trăm triệu đến cả tỉ đồng. Trong khi đó, nhiều gia đình trẻ muốn ở nhà xây tiện nghi hơn. Không gian sống mẫu hệ cũng thu hẹp khi mô hình gia đình thay đổi.
Một thực tế khác là nạn mua bán nhà dài ngày càng phổ biến. Trong vai người cần tìm nhà cổ, chúng tôi tiếp cận một đầu mối chuyên gom nhà dài ở Đắk Lắk. Người này cho biết muốn mua nguyên căn, mua cột, cầu thang hay gỗ cũ đều có thể đáp ứng.
Những chuyến xe chở cột gỗ nhà dài hàng trăm năm tuổi lặng lẽ rời buôn làng như mang theo cả ký ức Tây nguyên. Điều đáng lo không chỉ là mất một kiểu kiến trúc. Đó là sự rạn vỡ của cả không gian văn hóa từng tồn tại hàng trăm năm. Bếp lửa không còn đỏ suốt đêm. Tiếng kể sử thi gần như biến mất. Nhà dài dần trở thành "hiện vật văn hóa" thay vì một không gian sống thật của người Ê Đê, M'nông.
Giữa những câu chuyện buồn ấy, ở Akŏ Dhông, chúng tôi gặp Y Wôn, được nhắc đến như một trong số ít người còn kiên trì phục dựng nhà dài. Khác với những người săn nhà cổ chủ yếu bán kiếm lời, Y Wôn chọn cách phục dựng.
Anh tìm mua lại những cấu kiện của các căn nhà dài mà chủ nhân không còn khả năng giữ nguyên vẹn, rồi phục hồi để dựng lại những ngôi nhà mới theo đúng kiểu truyền thống người Ê Đê. "Em mê phục dựng nhà dài từ nhỏ vì cha là người chuyên dựng nhà trong buôn", Y Wôn kể.
Năm 2017, anh bắt đầu mày mò học dựng nhà dài. Từ sửa vài gian nhà cũ, đến nay anh đã tham gia phục dựng hơn 60 căn nhà dài lớn nhỏ. Có căn dài tới 30 m, dùng toàn gỗ quý, giá trị hàng tỉ đồng.
Nhưng điều khiến Y Wôn trăn trở không phải chuyện tiền bạc. "Em chỉ mong người đồng bào còn giữ được nhà dài của mình", anh nói. Mỗi khi nghe nơi nào có nhà dài sắp bị tháo dỡ, anh lại tìm đến xin mua lại phần gỗ còn tốt để phục dựng cho nơi khác. Anh cho hay có những cây cột gỗ hương rất lớn, vành tới gần 2 m, nếu mất đi sẽ rất khó tìm lại.
Trong xưởng gỗ của Y Wôn ở ngoại ô Buôn Ma Thuột (cũ), những cột nhà cũ được đánh dấu cẩn thận. Người thợ phải hiểu kết cấu truyền thống, biết vị trí cột cái, hướng cầu thang, cách nối gian nhà. Có những bộ cầu thang mất hàng tuần để chạm khắc hoa văn. "Nếu làm sai, nó chỉ là cái nhà giả hao hao nhà dài thôi", Y Wôn nói.
Người Ê Đê không sai khi chọn nhà xây tiện nghi hơn. Không ai có thể yêu cầu một gia đình nghèo tiếp tục sống trong căn nhà gỗ xuống cấp chỉ để "giữ văn hóa". Nhưng nếu chỉ còn vài căn phục dựng để khách du lịch chụp hình, thì nhà dài rồi cũng sẽ chỉ còn là lớp vỏ.
Bởi giá trị lớn nhất của nhà dài không hoàn toàn nằm ở chiều dài mái nhà. Nó nằm ở bếp lửa đỏ giữa đêm, ở tiếng trẻ con chạy dọc sàn gỗ, ở cách nhiều thế hệ cùng sống dưới một mái nhà, và ở tinh thần cộng đồng từng khiến cả buôn làng như một gia đình lớn.
Và có lẽ, câu hỏi lớn nhất của Tây nguyên hôm nay không phải là còn bao nhiêu căn nhà dài, mà là liệu vùng đất này có còn giữ được "linh hồn" của mình giữa nhịp đô thị hóa đang mọc lên từng ngày hay không.
Tin Gốc: Thanh Niên

