Kết thúc ngày đầu tiên đi làm cho một công ty Đức, Thu Trang, 24 tuổi, nhận được email cảnh cáo vì lỗi “làm nhiều hơn 8 tiếng một ngày”.
Đầu năm 2025, Trang sang bang Hessen, Đức học thạc sĩ. Sau 6 tháng tìm việc, cô trở thành nhân viên marketing bán thời gian cho một doanh nghiệp địa phương. Buổi sáng ngày đầu đi làm là thời gian đào tạo nhân viên mới. Hôm đó, Trang phải ở lại văn phòng đến gần 20h để giải quyết hết công việc.
Ngay khi về đến nhà, cô gái Việt nhận được email yêu cầu hôm sau họp với Phòng Nhân sự để giải trình. “Tôi nhận ra cân bằng công việc và cuộc sống ở Đức là nguyên tắc, không phải khẩu hiệu”, Trang cho biết. “Bộ phận Nhân sự cho biết họ đánh giá nhân viên qua hiệu quả công việc, không dựa trên số giờ hiện diện”.
Ranh giới giữa công việc và đời tư cũng là rào cản với Vân An, nhân viên marketing tại Amsterdam, Hà Lan. Cô không bao giờ nhận được phản hồi về công việc trước 8h hoặc sau 17h. Nếu gửi tin nhắn ngoài giờ làm, cô phải chờ đến sáng hôm sau. “Ban đầu, tôi sốt ruột vì mọi thứ diễn ra quá chậm. Ở Việt Nam, sếp thường phản hồi ngay để xử lý việc liên tục cho kịp tiến độ”, An nói. “Sau này tôi mới hiểu công ty coi khoảng thời gian đó là của cá nhân nhân viên, không được xâm phạm”.
“Cú sốc” lớn nhất của cô gái quê TP HCM là giám đốc bộ phận bất ngờ nghỉ phép một tháng để đi du lịch giữa lúc dự án quan trọng đang triển khai. Mọi công việc lập tức tạm dừng, vài tháng sau dự án vẫn chưa khởi động lại.
Tại Hà Lan, ngoài số ngày nghỉ phép năm, nhiều công ty có thêm ngày nghỉ cho những lý do riêng, ví dụ nhân viên chuyển nhà. Khi sếp nghỉ, cả tập thể chấp nhận tiến độ bị ảnh hưởng, không ai phàn nàn. Vào tháng 5, nhân viên thường nhận được khoản trợ cấp nghỉ hè tương đương một tháng lương để đi du lịch. “Ở Việt Nam, mọi người thường cố xử lý xong việc rồi mới nghỉ”, An nói.
Cách giao tiếp không phân cấp bậc là điểm bất ngờ tiếp theo. An từng ăn trưa cùng giám đốc nhân sự toàn cầu của công ty ngay khi người này bay từ Mỹ sang Amsterdam. Lần đầu dùng bữa cùng lãnh đạo trong nhóm 5 người, cô “run đến mức chỉ muốn trốn đi”. Tuy nhiên, buổi trò chuyện diễn ra hoàn toàn khác. Mọi người hỏi cô về việc học, cuộc sống và trải nghiệm công việc. “Ngồi một lúc tôi mới thả lỏng vì nhận ra mọi người xem đây chỉ là một bữa ăn bình thường”, An kể.
Ông Kent Murphy, Giám đốc điều hành công ty tuyển dụng quốc tế Zlata Design Recruitment (Anh) cho rằng người Việt thường gặp sốc văn hóa khi gia nhập môi trường công sở châu Âu do khác biệt về triết lý lao động. Số liệu từ Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) cho thấy tỷ lệ lao động làm việc quá 49 tiếng mỗi tuần tại Đức và Hà Lan dao động 5-8%, thuộc nhóm thấp nhất khu vực.
Nghiên cứu của tổ chức tư vấn văn hóa Hofstede Insights cũng chỉ ra nhiều quốc gia Tây Âu có chỉ số khoảng cách quyền lực thấp, nhân sự quen với cấu trúc phẳng và giao tiếp trực diện. Nhiều lao động châu Á dễ bị ngợp trước tốc độ ra quyết định và sự thẳng thắn.
“Nhưng khác biệt lớn nhất của người Việt khi làm việc tại châu Âu thường nằm ở cách giao tiếp và vận hành công việc”, ông Kent Murphy nói. Môi trường công sở châu Âu ưu tiên hiệu suất, trách nhiệm cá nhân. Tại Anh và Bắc Âu, phản hồi thường được đưa ra trực diện để xử lý vấn đề ngay lập tức. Với nhiều nhân viên Việt Nam, cách trao đổi này dễ tạo cảm giác gay gắt. Ở Việt Nam, nhân viên thường ít “dám” phản biện quản lý. Ngược lại, nhiều công ty châu Âu kỳ vọng nhân viên chủ động nêu ý kiến, phản biện và đưa ra sáng kiến mà không cần chờ cho phép.
Cách vận hành tổ chức cũng có sự khác biệt. Ở nhiều công ty châu Âu, nếu vấn đề nằm ngoài phạm vi, nhân viên sẽ chuyển cho người phụ trách thay vì tự xử lý. Hệ thống dựa trên quy trình cá nhân, trái ngược với sự linh hoạt và hỗ trợ chéo thường thấy ở Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp châu Âu đôi khi hiểu chưa đúng về người Việt. “Cách giao tiếp quá thận trọng đôi khi bị hiểu nhầm là thiếu tự tin hoặc thiếu chủ động”, ông Murphy nói.
Để thích nghi, Thu Trang mất nửa năm làm quen với nhịp độ họp hành ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề nên nhiều cuộc họp lên lịch 30 phút nhưng kết thúc sau 9 phút. Cô học được cách tập trung cao độ trong giờ làm và tắt thông báo công việc khi về nhà. Ngoài giờ làm và học, Trang có thời gian cho mình, xây dựng kênh TikTok ghi lại trải nghiệm tại Đức, dành thời gian du lịch các nước châu Âu.
Để giải quyết xung đột văn hóa công sở, ông Kent Murphy cho rằng doanh nghiệp cần giải thích rõ quy trình và kỳ vọng cho nhân sự mới. Đồng thời, người lao động nên rèn luyện cách đặt câu hỏi sớm, cập nhật tiến độ và xem các phản hồi trực tiếp là công cụ cải thiện hiệu suất.
“Cả hai phía cần cố gắng hiểu văn hóa làm việc của nhau thay vì chờ một bên phải thích nghi hoàn toàn”, ông Murphy nói.
Sáng 29-5, Bệnh viện Nhân dân Gia Định tổ chức chương trình vui chơi, giao lưu và trao quà cho các bệnh nhi đang điều trị tại khoa nhi bệnh viện. Tại đây, các bệnh nhi được tham gia các hoạt động như tô tượng, chương trình hòa nhạc, giao lưu cùng với các bác sĩ đang công tác tại bệnh viện và ca sĩ.
Đây là chương trình được tổ chức định kỳ hằng năm của bệnh viện, nhằm chăm lo đời sống cho các em đang điều trị, nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Chương trình không chỉ mang đến niềm vui mà còn tiếp thêm nghị lực cho các em và gia đình trên hành trình chống chọi bệnh tật.
Điều trị cùng con trai một thời gian tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, chị Nguyễn Thị Thúy Hằng bày tỏ hoạt động bệnh viện tổ chức hôm nay rất ý nghĩa với phụ huynh và các bệnh nhi.
“Vì hoàn cảnh, thay vì được vui chơi cùng ba mẹ bên ngoài thì các bé được tham gia những hoạt động ý nghĩa tại bệnh viện. Nhận được sự quan tâm từ bệnh viện như thế này, phụ huynh, bệnh nhi được an ủi trong quá trình điều trị”, chị Hằng nói.
Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, bác sĩ Phạm Thị Hoàng Anh - Phó trưởng khoa điều hành khoa nhi, Bệnh viện Nhân dân Gia Định - cho biết: “Bệnh viện thường tiếp nhận những bệnh nhi có hoàn cảnh khó khăn, có bé ở dưới quê lên, có bé là trẻ mồ côi.
Ngoài việc chăm sóc sức khỏe, bệnh viện cũng đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần, khả năng tiếp nhận điều trị của người nhà, khả năng chăm sóc của em bé. Vì thế, bệnh viện thường xuyên vận động thêm các nguồn tài trợ về viện phí, thẻ bảo hiểm y tế…”.
Chương trình được tổ chức với mong muốn tiếp thêm niềm vui, động lực tinh thần cho các em nhỏ đang điều trị bệnh, đồng thời lan tỏa thông điệp nhân văn về sự đồng hành, sẻ chia và chăm sóc toàn diện dành cho bệnh nhi.
Bà Amy Kant, 65 tuổi, sống ở ngoại ô Boston, độc thân và không có con. Từ 10 năm trước, bà muốn lập giấy ủy quyền hợp pháp nhưng đến nay chưa tìm được người phù hợp.
Việc chọn người đại diện đưa ra các quyết định tài chính chỉ là một trong nhiều vấn đề khi tuổi già ập đến. Hiện tại, bà Kant phải tự lo liệu việc chăm sóc sức khỏe, lên kế hoạch tài sản và tìm nơi ở. "Mọi thứ đều đổ dồn lên vai tôi", bà nói.
Bà Kant từng duy trì thói quen tập yoga và đi bộ 8 km mỗi ngày. Tuy nhiên, các ca phẫu thuật lưng và thay van tim gần đây biến căn hộ của bà thành phòng hồi sức. Dù có tiền tiết kiệm hưu trí, bà lo lắng tài sản sẽ sụt giảm nếu thị trường chứng khoán biến động, trong khi chi phí chuyển vào các cơ sở dưỡng lão có thể lên tới hàng chục nghìn USD.
Kant là một trong hàng triệu người Mỹ đang đương đầu với tuổi già đơn độc. Phân tích dữ liệu điều tra dân số của tổ chức hưu trí AARP cho thấy, khoảng 10% trong số hơn 125 triệu người trưởng thành từ 50 tuổi trở lên ở Mỹ không có vợ chồng hay con cái.
Nếu tính cả những người có con nhưng sống xa nhà, con số này cao hơn. Hiện có hơn 16 triệu người Mỹ từ 65 tuổi trở lên sống một mình, cao gấp ba lần so với năm 1950. Tuổi thọ tăng, tỷ lệ ly hôn cao và thực trạng con cái sống xa cha mẹ là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.
Bác sĩ Suzanne Salamon, trưởng khoa lâm sàng lão khoa tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess, kể từng chăm sóc một bệnh nhân gần 90 tuổi sống một mình và không có người thân. Lo ngại cho sự an toàn của bệnh nhân, bác sĩ Salamon phải nhờ một trung tâm hỗ trợ người cao tuổi địa phương giúp đỡ định kỳ. "Đó là một mối lo ngại lớn vì nhiều người đang sống một mình mà không có sự gắn kết nào với thế giới", bà Salamon cho biết.
Theo chuyên gia này, sống một mình mang lại sự độc lập nhưng tiềm ẩn rủi ro khi sức khỏe suy giảm. Người lớn tuổi có thể duy trì thói quen ăn uống thiếu chất, quên tắt bếp, hoặc ngã gãy xương mà không ai hay biết.
Dù vậy, nhiều người chưa chuẩn bị cho tương lai. Khảo sát của AARP năm 2023 trên gần 1.100 người già neo đơn cho thấy 80% chưa có kế hoạch hỗ trợ sinh hoạt lâu dài; 25% có người để nhờ làm việc nhà khi cần, và 41% có di chúc hoặc chỉ thị chăm sóc y tế.
Khi bệnh tật ập đến, họ phải trông cậy vào mạng lưới anh chị em, hàng xóm hoặc tổ chức cộng đồng. Tuy nhiên, nhu cầu chăm sóc đang vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống.
Tại khu vực tây nam Virginia, tổ chức phi lợi nhuận Mountain Empire đang phục vụ khoảng 3.000 người từ 60 tuổi trở lên. Giám đốc điều hành Michael Wampler cho biết nguồn tài trợ hiện không theo kịp chi phí. Tổ chức luôn có một danh sách dài chờ người giúp việc nhà. "Hiện có những người lớn tuổi trong khu vực mà không ai có thể phục vụ", ông Wampler nói.
Sự thiếu hụt nhân sự ảnh hưởng trực tiếp đến những người như bà Johnny Mumpower, người mắc bệnh thận, phải tự lọc máu vào ban đêm. Dù được giao bữa ăn tận nhà, bà vẫn nằm trong danh sách chờ người giúp việc. "Rất khó để vừa đẩy máy hút bụi vừa dùng khung tập đi", bà kể. Người thân ruột thịt duy nhất của bà sống cách đó 4 tiếng lái xe.
Bà Verna Gilbert, 84 tuổi, từng chăm sóc mẹ và người chồng qua đời cách đây gần 20 năm. Sống trong ngôi nhà của mình suốt 60 năm, bà không muốn rời đi. Những bữa ăn đông lạnh do nhân viên Mountain Empire giao tận nhà giúp bà duy trì sinh hoạt cơ bản.
Trở lại với Amy Kant, sau những đợt ốm, bà nhận ra việc ở căn hộ có cầu thang không còn an toàn và đang tìm hiểu các cộng đồng hưu trí dành cho người trên 55 tuổi. Kant đã nhờ một người bạn đại học làm người đại diện y tế và lập danh sách bạn bè sắp xếp đến thăm khi ốm đau.
Bà tự đặt thời hạn một năm để hoàn tất giấy tờ tài sản, bao gồm lập di chúc và làm việc với các quỹ tín thác nhằm tránh tranh chấp về sau.
Sau nhiều năm làm công chức, Wangmo, 35 tuổi, quyết định sang định cư tại Canberra, Australia. "Tôi có mọi thứ mình cần ở Bhutan, nhưng vẫn ra đi vì cảm thấy bản thân ngày càng mờ nhạt và bị lãng phí", Wangmo nói. Cô cho biết môi trường làm việc nặng tính cấp bậc, ít cơ hội thăng tiến và phụ thuộc quan hệ cá nhân là lý do khiến cô quyết định nghỉ việc.
Bhutan thường được biết đến với tên gọi "quốc gia hạnh phúc nhất thế giới" do áp dụng chỉ số Tổng hạnh phúc quốc gia (GNH) làm thước đo sự phát triển, thay vì chỉ dựa vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Khái niệm này được khởi xướng vào những năm 1970, đánh giá chất lượng cuộc sống trên 9 tiêu chí: mức sống, sức khỏe, giáo dục, môi trường, cộng đồng, sử dụng thời gian, sức khỏe tâm lý, quản trị và văn hóa.
Dù vậy, theo kết quả khảo sát GNH năm 2022, chỉ 48% người dân Bhutan từ 15 tuổi trở lên được phân loại là "hạnh phúc". Khoảng 52% dân số còn lại thuộc nhóm "chưa hạnh phúc" do thiếu hụt các điều kiện cơ bản. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2019 cũng chỉ xếp hạng Bhutan đứng thứ 95 trên tổng số 156 quốc gia về chỉ số này.
Bhutan đang đối mặt tình trạng chảy máu chất xám. Nhiều cử nhân, chuyên gia trẻ ra nước ngoài không phải vì thất nghiệp mà vì mất niềm tin vào triển vọng phát triển trong nước. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới chỉ ra khoảng 53% người Bhutan có kỹ năng cao và công chức trình độ đại học có xu hướng di cư, so với tỷ lệ 7% ở lao động phổ thông. Hiện có hơn 65.000 người Bhutan sống ở nước ngoài, tương đương 9% dân số.
Số liệu từ Ủy ban Dịch vụ Dân sự Hoàng gia Bhutan cho thấy từ năm 2023 đến 2025, có khoảng 1.500 công chức thôi việc. Nhóm nghỉ việc nhiều nhất thuộc độ tuổi 27-35, tập trung ở các ngành công nghệ thông tin, điều dưỡng và kỹ thuật. Gần 10% nhân sự nghỉ trong năm đầu tiên và 32% rời đi khi mới vào nghề.
Australia là điểm đến hàng đầu. Trong 6 tháng đầu năm tài chính 2025-2026, nước này cấp thị thực cho hơn 5.900 người Bhutan. Nhiều du học sinh Bhutan chuyển sang học các nghề như thợ mộc, thợ lát gạch, thợ hàn để dễ xin việc và định cư.
Latso, một phụ nữ Bhutan có gia đình sống tại Australia, cho biết cô đã từ bỏ quốc tịch quê hương vào đầu năm ngoái để nhập tịch Australia do Bhutan không cho phép song tịch.
Tình hình trong nước ngày càng khó khăn với người trẻ. Mức lương thấp cùng áp lực chi phí nhà ở và sinh hoạt khiến họ khó tích lũy hoặc xây dựng cuộc sống. Nhiều người phải sống cùng bố mẹ đến 30 tuổi vì không đủ khả năng tài chính để ra ở riêng. Làn sóng chuyển sang Australia cũng khiến doanh nghiệp tư nhân tại Bhutan khó tuyển và giữ nhân sự. Nhiều vị trí lương thấp gần như không có người gắn bó lâu dài vì thu nhập trì trệ trong nhiều năm.
Từ năm 2023, Bhutan triển khai các chương trình khuyến khích công dân về nước nhưng hiệu quả chưa cao. Đến tháng 5/2025, chỉ 170 người trở về. Chương trình ghi nhận 570 người đăng ký trong năm tài chính 2024-2025 và thêm 53 người đăng ký trong năm tài chính 2025-2026.
Anh Thinley Wangchuk, đang sống tại Australia, cho biết nhiều người ngần ngại về nước do cơ hội việc làm hạn chế và mức lương chưa tương xứng.
Dù gây thiếu hụt lao động, làn sóng di cư mang về nguồn ngoại tệ lớn. Năm 2025, lượng kiều hối gửi về Bhutan đạt 342,9 triệu USD, tăng hơn gấp đôi mức 164,4 triệu USD của năm 2024. Trong đó, kiều hối từ Australia chiếm phần lớn với 253,3 triệu USD.