Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng 2 con số, doanh nghiệp vẫn chưa an tâm
Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong 6 tháng đầu năm nay đạt 5,8 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều biến động về thuế quan, chi phí năng lượng, logistics và cạnh tranh thương mại.
Trong cơ cấu xuất khẩu, tôm tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với kim ngạch 1,9 tỷ USD, tăng 11,5%, chiếm trên 30% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành. Kết quả này đến từ sự phục hồi nhu cầu tại một số thị trường châu Á, cùng với tăng trưởng của các mặt hàng chế biến và xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc.
Cá tra cũng ghi nhận tín hiệu khả quan khi đạt 904,8 triệu USD, tăng 13%. Với lợi thế nguồn cung ổn định và giá bán phù hợp phân khúc tiêu dùng tiết kiệm, cá tra vẫn còn nhiều dư địa mở rộng tại Trung Quốc, ASEAN, Trung Đông, Liên minh châu Âu (EU) và một số thị trường mới.
Bên cạnh đó, xuất khẩu mực, bạch tuộc đạt 304 triệu USD, tăng 18%; cua, ghẹ và các loại giáp xác khác đạt gần 160 triệu USD, tăng 19%; nhuyễn thể có vỏ đạt 122 triệu USD, tăng 23%.
Dù duy trì mức tăng trưởng 2 con số, VASEP cho rằng đà phục hồi của ngành vẫn chưa thực sự bền vững khi doanh nghiệp đồng thời chịu sức ép từ chi phí đầu vào, nguồn nguyên liệu, hàng rào kỹ thuật và các biện pháp phòng vệ thương mại.
Theo ghi nhận, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhiều khách hàng quốc tế hiện chỉ ký hợp đồng ngắn hạn, chia nhỏ đơn hàng, yêu cầu giá thấp hơn và kiểm soát chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận và truy xuất nguồn gốc.
Tuy vậy, về kế hoạch 6 tháng cuối năm, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 vẫn có thể tăng khoảng 8-10%, với tổng kim ngạch vượt mốc 12 tỷ USD. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này, cần có thêm các giải pháp hỗ trợ nhằm giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
“Trong bối cảnh đơn hàng ngắn hơn, giá cạnh tranh hơn và yêu cầu tuân thủ cao hơn, năng lực quản trị chi phí, logistics và rủi ro thị trường sẽ quyết định sức bền của xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong phần còn lại của năm 2026”, bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký VASEP, nhận định.
Cước vận tải tăng cao, lo ảnh hưởng lịch giao hàng
Đáng chú ý, chi phí logistics đang là một trong những áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. Theo đó, chỉ trong thời gian từ giữa tháng 6 đến nay, nhiều hãng tàu đồng loạt điều chỉnh tăng giá cước vận chuyển trên các tuyến quốc tế.
Trao đổi với Dân trí, một doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản cho biết, cước container quốc tế đang tiến gần mức cao nhất trong gần 2 năm qua. Một số chỉ số vận tải lớn như Drewry World Container Index và SCFI đã tăng mạnh so với cùng kỳ.
Có thể kể đến như cước vận chuyển đến bờ Đông Hoa Kỳ đã tăng khoảng 2.000-3.000 USD mỗi container, tuyến bờ Tây Hoa Kỳ tăng hơn 1.000 USD/container, còn tuyến châu Âu tăng thêm khoảng 800-1.200 USD/container. Một số tuyến ghi nhận mức tăng lên tới 30%.
Nguyên nhân là do nhu cầu đặt chỗ tăng từ các nhà nhập khẩu Mỹ trong bối cảnh lo ngại các mức thuế mới. Tâm lý đưa hàng về kho sớm để tránh rủi ro thuế quan khiến mùa nhập khẩu cuối năm bị đẩy lên sớm hơn, làm tăng áp lực lên thị trường giao ngay.
Với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, tác động rõ nhất nằm ở các tuyến đi Mỹ và EU, nơi chi phí vận tải lạnh vốn đã cao hơn hàng khô và dễ phát sinh phụ phí.
Việc giá cước tăng mạnh diễn ra trong bối cảnh xung đột địa chính trị kéo dài, tuyến vận tải quốc tế biến động, chi phí nhiên liệu, bảo hiểm hàng hải và phụ phí container lạnh cũng đồng loạt tăng.
“Đối với ngành thủy sản đông lạnh, logistics là một trong những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh. Chi phí vận chuyển tăng không chỉ làm đội giá thành sản phẩm mà còn ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng và biên lợi nhuận của doanh nghiệp”, đại diện doanh nghiệp này chia sẻ.
Ngoài ra, thủy sản là ngành có tỷ trọng vận chuyển container lạnh cao, yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ, lịch tàu và thời gian giao hàng. Vì vậy, mọi biến động về cước biển, phụ phí container lạnh, phụ phí nhiên liệu, phí bảo hiểm, tắc nghẽn cảng hoặc thiếu chỗ trên tàu đều tác động trực tiếp đến giá thành và khả năng giao hàng của doanh nghiệp.
Trước tình hình này, VASEP đã kiến nghị Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng cùng các cơ quan liên quan nghiên cứu các giải pháp giảm chi phí logistics, đặc biệt là cước vận tải biển, vốn đang chiếm tỷ trọng rất lớn trong giá thành xuất khẩu.
Đồng thời, đề xuất rà soát các khoản phí và lệ phí trong lĩnh vực cảng biển, nghiên cứu cơ chế khuyến khích phát triển đội tàu container lạnh, hệ thống kho lạnh và các trung tâm logistics chuyên phục vụ xuất khẩu nông sản, thủy sản, qua đó giảm sự phụ thuộc vào các hãng tàu nước ngoài và nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Phiên giao dịch chứng khoán ngày 19/5, đồng loạt các cổ phiếu họ dầu khí giảm sàn trong sự ngỡ ngàng của giới đầu tư. Có thể kể đến như BSR, PLX, PVD, GAS... dù một số phiên trước đây, các cổ phiếu này còn tăng trần và ảnh hưởng tích cực đến chỉ số.
Không chỉ giảm hết biên độ, các mã còn dư mua giá sàn hàng trăm nghìn cổ phiếu, thậm chí tới 4 triệu đơn vị đối với BSR.
Ngoài nhóm này, thị trường cũng ghi nhận nhịp điều chỉnh với các cổ phiếu ngân hàng. Nhiều mã thậm chí còn trong nhóm ảnh hưởng tiêu cực nhất đến đà giảm của thị trường hôm nay, như VPB, HDB, TCB, LPB, MBB, ACB, VIB.
Ở chiều ngược lại, cổ phiếu VHM (Vinhomes) hỗ trợ tích cực nhất đến chỉ số chung, cùng với các mã khác trong "họ" Vingroup như VRE, VPL, VIC.
Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 705 tỷ đồng trong phiên này. Các mã bị bán ròng nhiều nhất đều trong nhóm giảm điểm, như MBB, SSI, ACB, VPB, MWG, CTG. Ngược lại, VCB, VIC, GEX và VIX tăng điểm được mua ròng mạnh nhất.
Chốt phiên, VN-Index giảm hơn 15 điểm, về 1.912,93 điểm. Thanh khoản sàn HoSE được cải thiện đáng kể so với hôm qua, lên 32.358 tỷ đồng. Sắc đỏ phủ khắp các sàn khi số lượng cổ phiếu giảm điểm chiếm ưu thế.
Mục tiêu trên được Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) trình đại hội đồng cổ đông thông qua tại phiên họp thường niên sáng 28/6.
Cả năm nay, Vietnam Airlines lên kế hoạch tổng doanh thu hợp nhất đạt 138.899 tỷ đồng, tăng hơn 12% so với 2025. Tuy nhiên, công ty dự kiến chi phí có thể tăng gần 20% lên mức 138.389 tỷ đồng.
Trong quý I, Vietnam Airlines đã đạt kết quả tích cực, với lợi nhuận hợp nhất kỷ lục khoảng 4.500 tỷ, trong đó riêng công ty mẹ lãi 3.948 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ tháng 4, hoạt động của tổng công ty chịu tác động nghiêm trọng bởi xung đột tại Trung Đông làm giá nhiên liệu bay tăng cao, ảnh hưởng đến chi phí đầu vào và hiệu quả kinh doanh. Giá Jet A1 có lúc cao điểm đã vượt 200 USD mỗi thùng, trong khi bình quân năm 2025 ở mức 86,5 USD mỗi thùng.
Trước bối cảnh này, theo Tổng giám đốc Lê Hồng Hà, Vietnam Airlines đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu các tác động bất lợi, trong đó gồm tối ưu hóa mạng bay, cắt giảm và giãn hoãn các chi phí chưa cần thiết...
Sau khi căng thẳng Mỹ - Iran có dấu hiệu hạ nhiệt trong tháng 6, giá nhiên liệu bay đã giảm xuống mức 112-115 USD mỗi thùng. Trên cơ sở giả định giá nhiên liệu 6 tháng cuối năm bình quân 120 USD mỗi thùng, Vietnam Airlines ước tính giá trung bình cả năm 2026 khoảng 128,54 USD - tăng 48% so với 2025. Mức này có thể khiến hãng hàng không quốc gia phát sinh thêm chi phí 11.900 tỷ đồng.
Trong bối cảnh giá nhiên liệu tăng mạnh, chiếm phần lớn chi phí hoạt động, Vietnam Airlines dự kiến lợi nhuận công ty mẹ cả năm 2026 đạt 101 tỷ đồng và lãi hợp nhất khoảng 510 tỷ. "Dù thấp đáng kể so với kế hoạch đạt được trong quý 1, nhưng đây vẫn là một mục tiêu thể hiện sự nỗ lực rất lớn của tổng công ty", ông Lê Hồng Hà chia sẻ với các cổ đông.
Trước đó, tại giai đoạn giá nhiên liệu căng thẳng hồi tháng 5, lãnh đạo Vietnam Airlines còn từng dự kiến công ty có thể lỗ cả năm nay với giả định giữ nguyên sản lượng khai thác như kế hoạch.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Về sản lượng, Vietnam Airlines dự kiến năm 2026 vận chuyển 27,73 triệu lượt hành khách (tăng 8,1%) và 361,4 triệu tấn hàng hóa (tăng 6,2%). Trong đó, khách quốc tế đạt 9,8 triệu lượt, tăng 13,4% so với 2025.
Lượng khách quốc tế có thể tăng trưởng tích cực khi Vietnam Airlines tăng cường mở rộng mạng đường bay quốc tế. Chỉ riêng nửa đầu năm 2026, Vietnam Airlines đã mở và công bố loạt đường bay mới đến Amsterdam (Hà Lan), Phuket (Thái Lan) và Colombo (Sri Lanka). Cùng với đó, hãng cũng tăng tần suất khai thác đến Singapore, Manila (Philippines), Moscow (Nga), Kaohsiung (Đài Loan, Trung Quốc), Melbourne và Sydney (Australia).
Thời gian tới, Vietnam Airlines tiếp tục triển khai nhiều giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực khai thác, mở rộng thị trường và hiệu quả hoạt động. Trong đó, đầu tư đội tàu bay thế hệ mới tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm với dự án đầu tư 50 tàu thân hẹp và dự kiến tiếp nhận trong giai đoạn 2030-2032.
Bên cạnh đó, Vietnam Airlines cũng có kế hoạch triển khai phương án thuê 20 tàu bay thân hẹp để đáp ứng nhu cầu khai thác giai đoạn 2027-2028 và dự kiến khai thác tàu chở hàng đầu tiên vào quý III. Hãng cũng tiếp tục mở rộng đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các sân bay chiến lược, trong đó có cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Ngân hàng Nhà nước cho biết đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận (SIMO) tới 149 đơn vị, gồm 99 tổ chức tín dụng và 50 trung gian thanh toán.
Tính đến ngày 23/3, SIMO đã phát cảnh báo tới khoảng 3,5 triệu lượt khách hàng. Hơn 1,1 triệu lượt đã chủ động tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau khi nhận cảnh báo, với tổng giá trị giao dịch liên quan hơn 3.990 tỷ đồng.
Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên báo cáo và chia sẻ thông tin về những tài khoản đáng ngờ - từng liên quan đến giao dịch lừa đảo. Trên cơ sở này, các ngân hàng sẽ gửi thông báo cho khách hàng, có thể quyết định chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu khách hàng xác thực bổ sung trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến.
Hai tháng đầu năm, cơ quan quản lý cho biết thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng. Số lượng và giá trị giao dịch tăng lần lượt 40% và hơn 13% so với cùng kỳ. Giao dịch qua Internet, di động tăng 73% và 34% về số lượng.
Hạ tầng thanh toán tiếp tục được mở rộng, với hơn 761.000 máy POS - tăng nhẹ so với cùng kỳ, trong khi số lượng ATM giảm gần 3%. Giao dịch qua ATM sụt 6,4% về số lượng, cho thấy xu hướng người dân chuyển sang các phương thức thanh toán số.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cho biết thời gian qua ngành ngân hàng cũng đẩy mạnh đối chiếu, làm sạch dữ liệu khách hàng.
Tính đến 20/3, toàn hệ thống có hơn 151 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 1,8 triệu hồ sơ tổ chức có tài khoản thanh toán đã được đối chiếu sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chip hoặc ứng dụng VNeID. Khoảng 29,4 triệu khách hàng cá nhân và 471 tổ chức sử dụng ví điện tử đã được xác thực sinh trắc học.