Tại tọa đàm về cung ứng xăng E10, ngày 5/6, ông Đào Duy Anh, Phó cục trưởng Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) dẫn kinh nghiệm quốc tế và dữ liệu từ Cục Đăng kiểm Việt Nam cho thấy, phần lớn phương tiện sản xuất sau năm 2000 đều tương thích với xăng E10.
Ông Đào Duy Anh cho biết, hơn 141 triệu lít xăng sinh học E5 đã được tiêu thụ trong những ngày đầu loại xăng này thay thế hoàn toàn xăng khoáng trên thị trường. Mức này chiếm hơn 93% tổng lượng xăng bán ra toàn quốc.
“Chúng tôi chưa ghi nhận phản hồi tiêu cực từ người tiêu dùng”, ông nói, thêm rằng với các thông tin trên mạng xã hội về xe gặp sự cố sau khi đổ xăng E10, “cần xác minh nguyên nhân cụ thể, thay vì vội quy kết cho chất lượng nhiên liệu”.
Ở góc độ doanh nghiệp phân phối, ông Đỗ Hoàng Hà, Trưởng ban Kinh doanh Petrolimex, cho biết sản lượng tiêu thụ xăng E10 ổn định, tăng dần từng ngày. “Người tiêu dùng đón nhận sản phẩm với tâm lý thận trọng, còn một số băn khoăn ban đầu. Tuy nhiên, phản ứng của người dùng dần tích cực hơn khi được tiếp cận đầy đủ thông tin”, ông Hà nói.
Theo ông, câu hỏi khách hàng đặt ra nhiều nhất liên quan đến khả năng tương thích của E10 với xe đời cũ, mức tiêu hao nhiên liệu và việc có cần súc rửa bình xăng, thay thế phụ tùng khi chuyển đổi hay không.
Theo thống kê của Hiệp hội Các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA), phần lớn các dòng xe do các thành viên hiệp hội sản xuất, lắp ráp và phân phối tại Việt Nam hiện nay đều được thiết kế tương thích với nhiên liệu sinh học, gồm E10. Ông Đào Công Quyết, Trưởng tiểu ban truyền thông VAMA, cho biết các dòng xe đời mới sử dụng vật liệu có khả năng chống tác động của ethanol với hệ thống bơm, kim phun, đường ống dẫn và các chi tiết bằng cao su, nhựa chuyên dụng. Vì vậy, nguy cơ ăn mòn hoặc ảnh hưởng đến độ bền động cơ rất thấp, nếu nhiên liệu đạt chuẩn.
Với một số phương tiện sản xuất trước năm 2005 hoặc vẫn sử dụng bộ chế hòa khí, việc tương thích với xăng E10 cần được kiểm tra kỹ, do khi thiết kế nhà sản xuất chưa tính đến việc sử dụng nhiên liệu có tỷ lệ ethanol cao. VAMA khuyến nghị chủ xe nên đưa phương tiện đến đại lý hoặc trung tâm bảo dưỡng chính hãng để được đánh giá tình trạng kỹ thuật.
Liên quan đến mức tiêu hao nhiên liệu của E10, theo VAMA mức chênh lệch sau khi chuyển đổi nhiên liệu không đáng kể. Ngược lại, ethanol giúp quá trình đốt cháy nhiên liệu diễn ra sạch hơn, góp phần giảm phát thải và nâng hiệu quả bảo vệ môi trường.
Cùng quan điểm, PGS. TS. Đàm Hoàng Phúc, Giám đốc Chương trình đào tạo kỹ thuật ôtô (Đại học Bách khoa Hà Nội), cho rằng vấn đề của E10 không nằm ở công suất hay mức tiêu hao nhiên liệu, mà là khả năng tẩy cặn của ethanol.
Theo ông, các phương tiện đã sử dụng 5-10 năm thường tồn tại lớp cặn tích tụ trong bình xăng và hệ thống dẫn nhiên liệu. Ethanol có khả năng hòa tan lớp cặn này, khiến chúng bong ra và có thể gây ra các lỗi vận hành. “Bản chất ethanol không gây lỗi, mà đóng vai trò như một liều thuốc thử với hệ thống nhiên liệu”, ông nói.
Ông nói thêm, những lỗi tiềm ẩn vốn dĩ vài năm nữa mới bộc phát thì nay xảy ra sớm hơn do tốc độ tẩy cặn của E10 diễn ra nhanh và mạnh hơn. Do đó, theo ông, chủ xe nên chủ động kiểm tra bộ lọc xăng, trường hợp thấy đen và cáu bẩn cần có biện pháp súc rửa, bảo dưỡng kịp thời.
Chuyên gia cho biết thực tế ethanol có đặc tính hút ẩm, song cần đánh giá rủi ro này ở hai khâu, gồm phân phối và sử dụng. Ở khâu phối trộn và phân phối, việc kiểm soát chất lượng E10 phức tạp hơn nhiều so với xăng thông thường, đòi hỏi cơ quan quản lý phải siết chặt giám sát các cây xăng.
Với khâu tích trữ xăng trong xe của người dùng, cơ quan chức năng cần cung cấp số liệu nghiên cứu và khuyến cáo chính xác cho người dân. Ví dụ, với một bình xăng 80 lít, thời gian để xăng bắt đầu hút ẩm là 10 ngày hay 1 tháng? Trong điều kiện thời tiết sương mù như Mộc Châu (Sơn La), loại xăng này có tính hút ẩm khác ra sao so với khi được tiêu thụ ở Hà Nội?.
Giá bán và nguồn cung ethanol cũng là thách thức của lộ trình sử dụng xăng E10. Theo đại diện Mipec, việc xây dựng mức giá E10 vừa hấp dẫn người tiêu dùng vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh là “bài toán khó”. Theo ông, các doanh nghiệp đầu mối đã phải đầu tư lớn cho hệ thống kho bể, trạm phối trộn, phương tiện vận chuyển cũng như cải tạo bồn chứa và cột bơm tại cửa hàng bán lẻ để phù hợp với nhiên liệu có chứa ethanol. Tuy nhiên, phần lớn chi phí này hiện chưa được tính đầy đủ vào giá bán lẻ.
Về nguồn cung ethanol trong nước, theo tính toán của Bộ Công Thương, với nhu cầu tiêu thụ xăng hơn 10 triệu m3 một năm, thị trường sẽ cần khoảng 1 triệu m3 ethanol để phối trộn. Trong khi đó, công suất các nhà máy trong nước mới đáp ứng khoảng 300.000 m3, tương đương 30% nhu cầu. Phần còn lại vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
Liên quan vấn đề này, ông Đào Duy Anh cho biết Bộ Công Thương đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu các giải pháp về thuế, phí và cơ cấu giá nhằm tạo động lực cho thị trường nhiên liệu sinh học phát triển bền vững. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng định hướng khôi phục các nhà máy ethanol và phát triển vùng nguyên liệu trong nước để giảm phụ thuộc nhập khẩu.
Động lực tăng trưởng quan trọng nhất trong giai đoạn tới
Chiều 27/5, báo Dân trí tổ chức hội thảo "Phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số bền vững: Bối cảnh mới - Hành động mới" tại Hà Nội.
Trong phiên thảo luận với nội dung chính về những cơ hội, thách thức cũng như động lực cho việc hiện thức hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, các diễn giả cùng đưa ra góc nhìn về công nghệ, dữ liệu và AI sẽ trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất trong giai đoạn tới.
Ông Lê Hùng Cường, Giám đốc FPT Digital (Tập đoàn FPT), nói khi nhắc tới AI và chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp thường nghĩ ngay đến việc tiết kiệm chi phí hay cắt giảm nhân sự. Tuy nhiên, nó cũng tạo cơ hội để người lao động chuyển đổi sang những công việc và ngành nghề mới, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và tiếp cận khách hàng mới.
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chia sẻ "chìa khóa" của tăng trưởng nằm ở việc tận dụng tiến bộ khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và mở rộng thị trường.
Ông cho rằng những lo ngại hiện nay về việc trí tuệ nhân tạo (AI) có thể thay thế con người cũng tương tự như nỗi lo của thế kỷ 19. AI sẽ giúp năng suất lao động tăng mạnh, chi phí giảm xuống và mở ra nhiều nhu cầu mới của thị trường.
Trong năm qua, các ứng dụng do nhà phát triển Việt Nam tạo ra đạt khoảng 6 tỷ lượt tải trên toàn cầu, trong đó có tới 5,1 tỷ lượt đến từ thị trường quốc tế. Trung bình mỗi phút có khoảng 12.000 lượt tải ứng dụng của Việt Nam, tạo ra khoảng 49.000 việc làm trong nước. Tốc độ tăng trưởng của ngành ứng dụng đạt tới 65%.
Theo ông Thọ, những con số này cho thấy tiềm năng rất lớn của nguồn nhân lực Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ông cho rằng nếu tận dụng tốt định hướng từ Nghị quyết 57, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả tiềm năng con người, Việt Nam hoàn toàn có thể nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện năng suất lao động và mở rộng quy mô thị trường tiêu dùng của hơn 100 triệu dân.
Giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất
Ông Lê Hùng Cường, Giám đốc FPT Digital (Tập đoàn FPT), cho rằng có hai hướng quan trọng để thúc đẩy khai thác dữ liệu phục vụ tăng trưởng và chuyển đổi số. Thứ nhất là dữ liệu do Nhà nước quản lý như dữ liệu dân cư, đất đai hay hạ tầng hành chính.
Thứ hai là dữ liệu trong khối doanh nghiệp. Theo đó, mỗi doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực khác nhau như bất động sản, bán lẻ hay ngân hàng, sẽ sở hữu các loại dữ liệu khác nhau và có yêu cầu bảo mật riêng.
Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả hơn, các doanh nghiệp cần từng bước hình thành hệ sinh thái chia sẻ dữ liệu trên cơ sở bảo đảm quyền lợi và an toàn thông tin của từng bên. Khả năng kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu hiệu quả sẽ trở thành yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, tối ưu vận hành và thích ứng với các yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Còn ông Phạm Tuấn Anh, Giám đốc Phát triển bền vững, Công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam, cho biết việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng gọn nhẹ, thông thoáng hơn sẽ hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp, giúp quá trình ra quyết định nhanh hơn và giảm chi phí.
Cũng theo ông, cơ quan quản lý cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp “làm sạch”, theo đuổi ESG, chẳng hạn ưu đãi về thuế hoặc tiếp cận vốn xanh. Đồng thời, việc chia sẻ dữ liệu giữa các bên cũng rất quan trọng để từ đó ứng dụng vào kinh doanh và tăng trưởng.
Ở góc nhìn tổng quan, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), chỉ ra có 2 yếu tố quan trọng để tăng năng suất lao động là “số” và “xanh”.
Về yếu tố “xanh”, chuyên gia góp ý cần áp dụng cho hệ sinh thái và chuỗi giá trị theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Còn về yếu tố “số”, AI sẽ giúp mỗi người tăng năng suất từ 70 đến 100 lần so với năng lực tự thân.
Về giải pháp tạo đột phá năng suất lao động trong giai đoạn mới, TS Lê Thái Hà - Giám đốc Điều hành Quỹ VinFuture, Giám đốc Điều hành Quỹ Vì Tương lai xanh, cho rằng doanh nghiệp cần đẩy mạnh áp dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), IoT (Internet vạn vật) hay các phần mềm quản trị hiện đại trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, nông nghiệp và công nghiệp.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là yếu tố mang tính quyết định. Theo bà Hà, người lao động cần được đào tạo các kỹ năng phù hợp với bối cảnh mới, đặc biệt là kỹ năng số, tư duy công nghệ và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn công việc.
Ngoài ra, lãnh đạo Quỹ VinFuture cho rằng cần tăng cường liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức khoa học nhằm thúc đẩy chuyển giao tri thức và công nghệ vào thực tiễn. Việc kết nối giữa các viện, trường và doanh nghiệp sẽ giúp tri thức khoa học được ứng dụng hiệu quả hơn để giải quyết các bài toán của nền kinh tế.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), ngày 8/5, gạo Jasmine của Việt Nam được chào bán ở mức 513-517 USD một tấn, tăng khoảng 30 USD so với tháng trước. Gạo thơm 5% tấm dao động 510-520 USD một tấn, tăng 25-30 USD, tương đương mức tăng 5-7%.
So với cùng kỳ năm ngoái, giá gạo 5% tấm hiện cao hơn 100 USD một tấn, tương đương tăng khoảng 25%. Các dòng gạo 100% tấm và 25% tấm cũng tăng khoảng 15%. Riêng gạo Jasmine vẫn thấp hơn cùng kỳ năm trước.
Giá chào bán gạo Việt Nam đang cao nhất trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Theo các doanh nghiệp, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở giá bán mà còn ở cơ cấu sản phẩm ngày càng đa dạng, đặc biệt là nhóm gạo thơm và gạo chất lượng cao đang chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo nội địa cũng tăng trở lại từ đầu tháng 5. Theo một số doanh nghiệp, giá lúa hiện tăng 200-300 đồng một kg so với cuối tháng 4, còn giá gạo tăng 300-500 đồng tùy loại.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, giá lúa hôm nay nhìn chung ổn định so với phiên trước. Lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 được thu mua quanh mức 6.100-6.300 đồng một kg, trong khi IR 50404 dao động 5.400-5.500 đồng một kg.
Nguồn lúa tươi tại nhiều địa phương hiện không còn dồi dào như trước. Tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp hay Vĩnh Long, lượng lúa còn ít, giao dịch chậm, trong khi một số kho bắt đầu hỏi mua lúa khô Đài Thơm 8 và Japonica.
Giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở Đồng Tháp cho biết đà tăng hiện nay đến từ nhiều yếu tố cùng lúc. Ngoài việc nhiều quốc gia tăng mua gạo Việt Nam, chi phí đầu vào cũng leo thang do tác động từ xung đột Trung Đông khiến giá phân bón tăng mạnh. Khi giá thành sản xuất tăng, giá gạo xuất khẩu phải điều chỉnh theo.
Dữ liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cho thấy thị trường gạo thế giới đang đối mặt nhiều biến động mới. Một trong những rủi ro lớn là khả năng El Nino quay trở lại trong năm 2026 với cường độ mạnh, có thể gây khô hạn tại nhiều vùng sản xuất lúa ở Ấn Độ, Đông Nam Á và Australia.
Song song đó, xung đột Trung Đông không chỉ đẩy giá dầu tăng mà còn tác động trực tiếp tới giá phân bón và chi phí logistics. Theo các thương nhân, căng thẳng tại Iran chưa ảnh hưởng trực tiếp tới các chuyến hàng gạo của Việt Nam sang châu Phi, nhưng chi phí vận chuyển đã tăng đáng kể.
Các yếu tố này khiến nhiều quốc gia lo ngại rủi ro nguồn cung lương thực, từ đó tăng nhập khẩu gạo dự trữ khi giá vẫn ở vùng được xem là hợp lý.
Chỉ riêng tháng 4, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,1 triệu tấn gạo, thu về 493 triệu USD. Lũy kế 4 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 3,3 triệu tấn, trị giá gần 1,6 tỷ USD. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang Philippines tăng 6,7%, còn thị trường Trung Quốc tăng 44,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong khi nhu cầu nhập khẩu tăng, nguồn cung trong nước lại có xu hướng thu hẹp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đến cuối tháng 3/2026, cả nước gieo cấy khoảng 2,92 triệu ha lúa Đông Xuân, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước.
Diện tích giảm chủ yếu do nhiều địa phương chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng, nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao hơn hoặc phục vụ phát triển hạ tầng, khu công nghiệp.
Đó là nội dung kết luận của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Bùi Xuân Dũng tại cuộc họp về báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt TP.HCM - Cần Thơ.
Theo ông Dũng, dự án đường sắt TP.HCM - Cần Thơ có quy mô lớn, đi qua khu vực có điều kiện địa chất yếu và có tác động sâu rộng đến phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, công tác chuẩn bị đầu tư phải được nghiên cứu cẩn trọng, kỹ lưỡng nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả đầu tư.
Từ đó, ông yêu cầu Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận và đơn vị tư vấn tiếp thu đầy đủ ý kiến của các cơ quan chuyên môn để hoàn thiện hồ sơ. Trong đó lưu ý cần tiếp tục bổ sung các cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và số liệu dẫn chứng có nguồn trích dẫn cụ thể nhằm làm rõ sự cần thiết đầu tư dự án.
Đối với công tác dự báo nhu cầu vận tải, Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng yêu cầu Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận làm việc cụ thể với Cục Đường bộ Việt Nam, Cục Hàng hải và Đường thủy nội địa Việt Nam cùng Tổng công ty Đường sắt Việt Nam để cập nhật số liệu thực tế về lượng hành khách và hàng hóa lưu thông trên hành lang TP.HCM - Cần Thơ.
Việc dự báo nhu cầu phải phân tích rõ khả năng hấp dẫn của vận tải đường sắt, số liệu dự báo có sức thuyết phục, làm rõ sự phân chia thị phần giữa đường sắt với đường bộ, đường thủy nội địa.
Lãnh đạo Bộ Xây dựng yêu cầu đưa nội dung nghiên cứu phát triển mô hình đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) dọc tuyến đường sắt vào báo cáo tiền khả thi của dự án; xác định rõ quỹ đất khu vực lân cận các nhà ga để phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ và logistics.
Về giải pháp kỹ thuật, ông Dũng thống nhất chủ trương phân kỳ đầu tư giai đoạn đầu đường sắt TP.HCM - Cần Thơ theo quy mô đường đơn nhưng cần tính toán để bảo đảm tiết kiệm, tránh việc thi công giai đoạn sau làm gián đoạn tổ chức vận tải giai đoạn trước.
Đối với khu vực nền đất yếu đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long, ông Dũng yêu cầu nghiên cứu giải pháp xử lý tối ưu nhằm bảo đảm ổn định lâu dài, hạn chế nguy cơ lún và bảo đảm an toàn chạy tàu.
Về hình thức đầu tư dự án, ông Dũng đề nghị nghiên cứu đa dạng các hình thức đầu tư, kết hợp giữa đầu tư công và phương thức đối tác công tư (PPP) để tăng tính khả thi của dự án.
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng yêu cầu Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận và đơn vị tư vấn phải hoàn thiện hồ sơ báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án để báo cáo Bộ Xây dựng trong tháng 7-2026. Bộ Xây dựng sẽ trực tiếp làm việc với lãnh đạo các địa phương liên quan để thống nhất về quỹ đất TOD và cách thức tổ chức triển khai dự án.