Sau nhiều năm phát triển các sản phẩm du lịch đêm, Hà Nội đang đứng trước bước chuyển quan trọng khi xây dựng Nghị quyết về hoạt động đầu tư, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ban đêm và Đề án “Phát triển kinh tế đêm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”.
Không chỉ hướng tới kéo dài các hoạt động sau 22 giờ, những chính sách mới được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý để hình thành một hệ sinh thái kinh tế đêm đồng bộ, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Thủ đô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đáng chú ý, việc xây dựng đề án diễn ra trong bối cảnh Hà Nội vừa phê duyệt Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, hướng tới mô hình phát triển đa cực, đa trung tâm, đa tầng, mục tiêu xây dựng “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”.
Trong định hướng này, kinh tế đêm không còn là hoạt động bổ trợ cho du lịch mà đang trở thành một động lực tăng trưởng mới.
Trao đổi với Người Đưa Tin, PGS.TS Bùi Hoài Sơn – Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng việc Hà Nội xây dựng cơ chế riêng cho hoạt động đầu tư, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ban đêm cho thấy thành phố đã nhận thức rõ yêu cầu phải có khung chính sách phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này.
Theo ông Sơn, nếu thiếu cơ chế riêng kinh tế đêm sẽ phát triển tự phát, thiếu định hướng hoặc bị bó buộc bởi những quy định vốn được thiết kế cho các hoạt động diễn ra vào ban ngày.
“Hà Nội có những lợi thế mà không nhiều đô thị sở hữu.
Đó là bề dày nghìn năm lịch sử, khu phố cổ, hồ Hoàn Kiếm, hồ Tây, sông Hồng, hệ thống làng nghề, kho tàng ẩm thực, kiến trúc, bảo tàng, nhà hát cùng không gian văn hóa cộng đồng phong phú.
Nếu Tp.HCM nổi bật với sức sống của một đô thị hiện đại thì Hà Nội lại có lợi thế về chiều sâu văn hóa. Chính vì vậy, Hà Nội càng không thể phát triển kinh tế đêm theo mô hình tiêu dùng nhanh hay sao chép từ những địa phương khác”, ông Sơn phân tích.
Theo vị chuyên gia, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thành phố vẫn chưa chuyển hóa hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa thành các sản phẩm trải nghiệm ban đêm đủ sức hấp dẫn và giữ chân du khách.
“Du khách có thể đi bộ quanh hồ Hoàn Kiếm, thưởng thức ẩm thực, uống cà phê hay khám phá phố cổ.
Nhưng sau đó, họ còn bao nhiêu lựa chọn để tiếp tục trải nghiệm và sẵn sàng chi tiêu? Chúng ta vẫn thiếu những sản phẩm đặc trưng như bảo tàng mở cửa về đêm, chương trình nghệ thuật biểu diễn thường kỳ, tour khám phá ký ức Hà Nội, không gian nghệ thuật ven sông hay những khu chợ đêm thực sự mang bản sắc sáng tạo”, ông Sơn đặt vấn đề.
Tuy nhiên, theo ông phát triển kinh tế đêm tại Hà Nội cũng đối mặt với những yêu cầu đặc thù. Là đô thị có mật độ dân cư cao, nhiều khu vực di sản nằm xen kẽ khu dân cư, mọi hoạt động phát triển đều phải tính đến bài toán về tiếng ồn, rác thải, giao thông, phòng cháy chữa cháy, an ninh trật tự và quyền lợi của người dân.
“Việc Hà Nội lựa chọn cách tiếp cận thận trọng là điều dễ hiểu. Nhưng thận trọng không đồng nghĩa với chậm trễ. Điều quan trọng là phải xây dựng được mô hình quản trị hiệu quả để vừa thúc đẩy phát triển, vừa bảo đảm chất lượng sống của cộng đồng”, ông nhấn mạnh.
Từ góc độ quy hoạch, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng Hà Nội nên phát triển một số không gian kinh tế đêm trọng điểm, song cần tránh tư duy xây dựng những khu vực quá lớn, quá ồn ào hoặc chỉ tập trung vào hoạt động ăn uống, giải trí.
Theo ông, mỗi khu vực cần được định vị với một bản sắc riêng. Khu vực hồ Hoàn Kiếm – phố cổ có thể phát triển theo hướng không gian di sản, nghệ thuật đường phố, ẩm thực truyền thống và các tour khám phá văn hóa đô thị.
Hồ Tây có thể trở thành trung tâm của các hoạt động giải trí, âm nhạc, ẩm thực cao cấp, thể thao đêm và sự kiện quốc tế.
Trong khi đó, trục sông Hồng có tiềm năng phát triển các lễ hội ánh sáng, du lịch đường sông và công viên văn hóa. Còn các làng nghề như Bát Tràng, Vạn Phúc có thể khai thác các sản phẩm trải nghiệm đêm gắn với nghề thủ công, trình diễn, workshop sáng tạo và mua sắm.
“Mỗi không gian phải có ‘tính cách’ riêng. Kinh tế đêm Hà Nội không thể chỉ xoay quanh một công thức chung là ăn uống, mua sắm và âm nhạc. Nếu hồ Hoàn Kiếm giống hồ Tây, hồ Tây lại giống phố cổ hay mọi chợ đêm khác thì Hà Nội sẽ đánh mất lợi thế cạnh tranh lớn nhất, đó là bản sắc văn hóa”, ông Sơn nhận định.
Để mô hình này vận hành hiệu quả, theo vị chuyên gia, các khu kinh tế đêm cũng cần được áp dụng cơ chế quản trị đặc thù, từ đầu mối điều phối thống nhất đến hệ thống quy chuẩn về tiếng ồn, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, giao thông, cấp phép biểu diễn, quản lý giá cả, thanh toán số và hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng dân cư tại khu vực phát triển kinh tế đêm, để người dân không chỉ là đối tượng chịu tác động bởi tiếng ồn, ùn tắc hay rác thải mà thực sự trở thành những chủ thể được hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Chỉ khi hài hòa được lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, kinh tế đêm mới có thể phát triển bền vững và trở thành động lực tăng trưởng mới của Thủ đô.
Góp ý thêm, TS. Hà Văn Siêu – Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam chia sẻ nếu chỉ dừng ở các tuyến phố đi bộ, mua sắm hay dịch vụ giải trí đơn thuần thì Hà Nội sẽ rất khó tạo được lợi thế cạnh tranh lâu dài.
Muốn phát triển bền vững, Thủ đô cần lấy công nghiệp văn hóa làm nền tảng và biến kho tàng di sản nghìn năm thành những trải nghiệm ban đêm giàu cảm xúc. Theo ông, với mục tiêu đến năm 2035, kinh tế đêm đóng góp khoảng 7-8% GRDP là mức khá thận trọng nếu so với tiềm năng của Hà Nội.
“Tôi cho rằng đây là mục tiêu an toàn, thậm chí còn khiêm tốn. Nếu có chiến lược đầu tư đúng và đủ Hà Nội hoàn toàn có thể đạt kết quả cao hơn. Tuy nhiên, để lượng hóa chính xác vẫn cần hệ thống dữ liệu và phương pháp đánh giá đủ tin cậy, bởi kinh tế đêm và công nghiệp văn hóa liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau”, ông nói.
TS. Hà Văn Siêu nhận định, ở Việt Nam hiện nay chỉ Hà Nội và Tp.HCM có quy mô đủ lớn để hình thành những không gian kinh tế đêm thực sự sôi động. Dù vậy, dư địa khai thác vẫn còn rất lớn.
“Chúng ta mới chỉ khai thác khoảng 5-6 giờ buổi tối, trong khi cả một ‘đời sống đêm’ đúng nghĩa vẫn gần như bỏ ngỏ. Đây lại là khoảng thời gian du khách sẵn sàng chi tiêu nhiều nhất cho trải nghiệm, giải trí và cảm xúc, những giá trị mà hoạt động ban ngày khó có thể thay thế”, ông phân tích.
Theo vị chuyên gia, ban đêm sở hữu nhiều lợi thế mà ban ngày không có như ánh sáng, không gian, nhiệt độ, trạng thái tâm lý thư giãn của du khách. Khi kết hợp những yếu tố này với nghệ thuật trình diễn, âm nhạc, công nghệ ánh sáng và các giá trị văn hóa bản địa, hiệu ứng trải nghiệm sẽ được nâng lên rõ rệt. Chính vì vậy, công nghiệp văn hóa phải trở thành trụ cột của kinh tế đêm.
Tuy nhiên để khai thác hiệu quả tiềm năng này, Hà Nội vẫn còn nhiều việc phải làm. Theo TS. Hà Văn Siêu rào cản đầu tiên là hệ thống thể chế, chính sách và quy hoạch vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển.
Những quy định liên quan đến thời gian hoạt động, tiếng ồn, phân khu chức năng, sự hài hòa với khu dân cư hay cơ chế quản lý các hoạt động ban đêm vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là hình thành văn hóa tiêu dùng và nhịp sống về đêm của chính người dân.
“Một khu kinh tế đêm không thể chỉ có khách du lịch. Điều hấp dẫn nhất đối với du khách chính là được hòa mình vào đời sống bản địa. Nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng cư dân, điểm đến sẽ rất khó có sức sống và bản sắc riêng”, ông chia sẻ.
Theo đó, phát triển kinh tế đêm không đồng nghĩa với việc toàn bộ thành phố đều hoạt động xuyên đêm. Hà Nội cần quy hoạch rõ từng không gian với thời gian hoạt động khác nhau, phù hợp đặc điểm từng khu vực và bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với chất lượng sống của người dân.
Về phát triển dài hạn, TS. Hà Văn Siêu cho rằng lợi thế lớn nhất của Hà Nội nằm ở chiều sâu văn hóa – yếu tố mà không nhiều đô thị trong khu vực có được.
“Nếu Bangkok nổi bật bởi sự sôi động, Singapore tạo dấu ấn bằng tính hiện đại thì Hà Nội có thể tạo nên sức hút từ chiều sâu văn hóa của một Thủ đô nghìn năm văn hiến.
Đây là nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của các vùng miền, đồng thời là không gian giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Đó là lợi thế mà Hà Nội cần phát huy thay vì chạy theo những mô hình đã có”.
Theo ông, Thủ đô không nên cạnh tranh bằng sự náo nhiệt hay những mô hình giải trí đại trà mà cần tạo nên những trải nghiệm chỉ Hà Nội mới có.
Đó có thể là các chương trình nghệ thuật chất lượng cao được dàn dựng trên nền tảng chèo, ca trù, múa rối nước; những đêm nhạc mang đậm bản sắc Việt; không gian phố nghề, ẩm thực đêm, trải nghiệm ven sông Hồng hay các chương trình kể chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
“Hà Nội vẫn cần những đại nhạc hội, những sự kiện quy mô lớn để tạo sức hút cho thị trường, nhưng đó không phải bản sắc cốt lõi. Điều tạo nên sức cạnh tranh bền vững phải là những giá trị truyền thống được kể lại bằng ngôn ngữ hiện đại, để du khách không chỉ đến vui chơi mà còn muốn cảm nhận, ghi nhớ và quay trở lại”, TS. Hà Văn Siêu nhấn mạnh.
Liên tiếp những vụ trẻ em bị chính người thân bạo hành dã man thời gian gần đây khiến dư luận xót xa, phẫn nộ. Điển hình là vụ bé gái 4 tuổi ở Hà Nội bị mẹ ruột và nhân tình của mẹ bạo hành dẫn đến tử vong hay vụ bé trai 2 tuổi ở xã Hiệp Hòa (Tp.Hồ Chí Minh) bị mẹ và người tình đánh đập tàn nhẫn, nhập viện trong tình trạng đa chấn thương nghiêm trọng.
Điểm chung đau lòng ở cả hai vụ việc là các em đều sống cùng mẹ và nhân tình của mẹ trong những khu nhà trọ chật hẹp. Đáng lẽ phải được yêu thương, chăm sóc, các em lại phải chịu đựng bạo hành trong thời gian dài. Người trực tiếp hủy hoại sức khỏe, thậm chí tước đi mạng sống của trẻ, không phải người xa lạ mà chính là người thân ruột thịt.
PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) bày tỏ sự xót xa: "Ngôi nhà đáng lẽ phải là nơi an toàn nhất của trẻ. Nhưng khi chính người thân trở thành người gây bạo lực, tổn thương ấy thường sâu hơn mọi vết thương thể chất".
Theo ông Nam, hàng loạt vụ trẻ bị mẹ ruột, cha dượng hoặc người tình của mẹ bạo hành thời gian qua tại Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác cho thấy đây không còn là những vụ việc cá biệt. Thực trạng này phản ánh một "khoảng trống bảo vệ" kéo dài nhiều năm ngay trong chính gia đình và cộng đồng.
Ông cho rằng điều đáng sợ nhất là phần lớn hành vi bạo hành diễn ra trong không gian khép kín của gia đình nơi trẻ gần như không có khả năng tự vệ hoặc tìm kiếm sự trợ giúp. Nhiều vụ việc chỉ bị phát hiện khi nạn nhân đã nguy kịch, thậm chí tử vong, cho thấy cơ chế phát hiện và can thiệp sớm vẫn còn nhiều lỗ hổng.
Phân tích nguyên nhân, ông Nam cho rằng có ba vấn đề lớn khiến tình trạng này kéo dài. Đó là tâm lý coi bạo lực gia đình là "chuyện riêng". Không ít người nghe tiếng trẻ khóc, nhận thấy dấu hiệu bất thường nhưng ngại can thiệp vì sợ phiền phức hoặc "mất lòng". Chính sự im lặng đó vô tình tạo ra khoảng tối để bạo hành tiếp diễn.
Cùng với đó là sự thiếu hụt kỹ năng nhận diện và quy trình xử lý rõ ràng. Nhiều giáo viên, cán bộ cơ sở hay nhân viên y tế phát hiện trẻ có biểu hiện bất thường nhưng chưa đủ nhạy cảm để nghi ngờ hoặc nếu nghi ngờ thì cũng không biết phải báo cho ai, xử lý như thế nào và trong thời gian bao lâu.
Và cuối cùng là sự nhầm lẫn giữa việc "giữ gìn gia đình" và "bảo vệ trẻ em". Có trường hợp sau khi vụ việc bị phát hiện, trẻ vẫn bị đưa trở lại môi trường nguy hiểm vì người lớn cho rằng "trẻ vẫn cần mẹ", trong khi người gây bạo lực chưa thay đổi hành vi, chưa được giám sát hoặc cách ly phù hợp.
"Chúng ta có luật, có chính sách nhưng từ khâu phát hiện đến can thiệp và theo dõi dài hạn vẫn đang bị nghẽn ở cấp cơ sở", ông Nam nhấn mạnh.
Phân tích sâu hơn về nguyên nhân khiến nhiều vụ bạo hành, xâm hại trẻ em kéo dài nhưng không được phát hiện kịp thời, trao đổi với Người Đưa Tin bà Nguyễn Thị Nga - Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) cho rằng, có cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan.
Theo bà, để công tác bảo vệ trẻ em đạt hiệu quả cần bảo đảm đồng bộ ba "trụ cột" quan trọng.
Trụ cột thứ nhất là hệ thống pháp luật và hoàn thiện thể chế, bà Nga cho rằng Việt Nam thời gian qua rất quan tâm đến công tác bảo vệ trẻ em với hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ từ chỉ thị của Bộ Chính trị, nghị quyết của Quốc hội đến các luật và văn bản hướng dẫn thi hành.
Đáng chú ý, Nghị quyết 263/2025 về tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội khóa XIV và khóa XV về giám sát chuyên đề và chất vấn đặt mục tiêu đến năm 2027, 100% cấp xã phải bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em và thiết lập đường dây nóng hoạt động 24/7.
"Luật có, nghị quyết có, vấn đề hiện nay là khâu tổ chức thực hiện", bà Nga nhấn mạnh.
Trụ cột thứ hai là hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, bao gồm cả công lập, ngoài công lập và các cơ sở chuyên biệt dành cho trẻ em.
Theo số liệu của Bộ Y tế, hiện cả nước có hơn 500 cơ sở, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục mở rộng cả về số lượng lẫn chất lượng để đáp ứng nhu cầu thực tế.
Trụ cột thứ ba là nguồn lực, gồm kinh phí và con người. Bà Nga cho biết, Luật Trẻ em được Quốc hội thông qua năm 2016, có hiệu lực từ ngày 1/6/2017, trong đó Điều 53 và Điều 72 đã quy định rõ trách nhiệm của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã. Tuy nhiên trên thực tế, lực lượng này đang trong tình trạng quá tải.
"Khi chúng ta không nắm được tình hình trẻ em trên địa bàn, không có danh sách trẻ thuộc nhóm nguy cơ cao như trẻ sống trong gia đình ly thân, ly hôn, bố mẹ đi bước nữa… thì rất khó phòng ngừa từ sớm. Vì vậy, nhiều vụ việc chỉ đến khi xảy ra hậu quả nghiêm trọng chính quyền mới biết và vào cuộc", bà Nga nói.
Theo thống kê của Bộ Công an, giai đoạn 2020-2025, trung bình mỗi năm cả nước xảy ra khoảng 2.200 vụ xâm hại trẻ em đến mức cơ quan công an phải xử lý. Dù số vụ việc trong giai đoạn 2024-2025 có thời điểm giảm nhẹ nhưng hiện nay đang có xu hướng gia tăng trở lại.
Riêng trong quý I năm nay, cơ quan chức năng đã khởi tố, điều tra 518 vụ với 649 đối tượng, xâm hại 535 trẻ em, tăng 25 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nhóm hành vi xâm hại tình dục trẻ em chiếm tới 89%.
Trong khi đó, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 chỉ riêng tháng 4 đã tiếp nhận hơn 46.111 cuộc gọi, tăng hơn 9.500 cuộc so với tháng trước. Gần một nửa số cuộc gọi là do trẻ em trực tiếp tìm kiếm sự hỗ trợ.
Số trường hợp trẻ bị bạo lực thể chất và tinh thần được tổng đài hỗ trợ, can thiệp cũng tăng gần 22%, tương ứng 36 trường hợp so với tháng 3. Đáng chú ý, gần 3/4 số trẻ bị bạo lực là do chính người thân trong gia đình như bố mẹ, ông bà, chú bác hoặc người chăm sóc gây ra.
Theo bà Nga, những con số này cho thấy công tác bảo vệ trẻ em hiện vẫn đối mặt với nhiều thách thức và trong 5 năm tới cần có những giải pháp quyết liệt hơn.
Đề cập khó khăn tại địa phương, bà Nga cho rằng điều cần tăng cường nhất hiện nay là đội ngũ làm công tác bảo vệ trẻ em và năng lực của lực lượng này. Muốn can thiệp kịp thời thì địa phương phải nắm chắc tình hình trẻ em và các hộ gia đình trên địa bàn.
Bà cũng nhấn mạnh, công tác bảo vệ trẻ em không thể do một cá nhân hay một ngành đơn lẻ đảm nhiệm mà cần sự phối hợp liên ngành.
Tháng 3 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Quyết định 427 kiện toàn Ủy ban Quốc gia về trẻ em. Nhiều địa phương cũng đã thành lập ban chỉ đạo hoặc ban điều hành công tác trẻ em cấp tỉnh.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy cán bộ cấp xã vẫn đang quá tải với nhiều nhiệm vụ cùng lúc. Vì vậy, sau khi các bộ phận được kiện toàn, cần có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, tổ chức giao ban thường xuyên để nắm bắt tình hình đến tận thôn, xóm.
"Chỉ khi hoạt động thực chất, hiệu quả thì việc thực hiện quyền trẻ em ở cấp xã mới ngày càng được đảm bảo tốt hơn", bà Nga nói.
Về lâu dài, theo bà Nga, giải pháp quan trọng nhất vẫn là phòng ngừa từ gốc thông qua nâng cao nhận thức của gia đình; tăng cường giáo dục kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng bảo vệ trẻ em; đồng thời xây dựng mạng lưới giám sát cộng đồng thực chất và hiệu quả hơn.
"Khi địa phương nắm chắc tình hình trẻ em đến tận thôn, xóm; người dân chủ động lên tiếng; các lực lượng phối hợp hiệu quả thì công tác bảo vệ trẻ em mới có thể chuyển biến tích cực và bền vững", bà Nga nhấn mạnh.
Năm 2008, cái tên Paul Karason bất ngờ phủ sóng khắp nước Mỹ sau khi ông xuất hiện trên chương trình Today Show với diện mạo khiến khán giả sửng sốt: gương mặt xanh tím, đôi môi xanh đậm, bàn tay đổi màu như nhân vật viễn tưởng.
Nhiều người khi đó tưởng hình ảnh của ông đã qua chỉnh sửa photoshop. Nhưng sự thật còn kỳ lạ hơn nhiều: màu da ấy là thật và tồn tại suốt nhiều năm.
Trước khi trở thành "người đàn ông da xanh" nổi tiếng toàn cầu, Paul Karason vốn có ngoại hình bình thường với làn da trắng và nhiều tàn nhang. Theo các tài liệu y khoa và báo chí Mỹ, bước ngoặt xảy ra vào đầu những năm 1990 khi ông bắt đầu sử dụng bạc keo (colloidal silver) như một phương thuốc dân gian để chữa viêm da, trào ngược axit, viêm xoang và đau khớp.
Karason tự chế dung dịch bạc tại nhà rồi uống mỗi ngày trong thời gian dài. Không dừng lại ở đó, ông còn bôi trực tiếp hỗn hợp chứa bạc lên mặt để điều trị các vùng da bong tróc. Sau nhiều năm, cơ thể ông bắt đầu xuất hiện biến đổi kỳ dị.
Da từ màu trắng chuyển sang xanh xám rồi dần thành xanh tím đậm trên toàn cơ thể. Các bác sĩ xác định ông mắc chứng argyria – tình trạng cực hiếm xảy ra khi bạc tích tụ quá mức trong cơ thể. Khi tiếp xúc ánh sáng, các hạt bạc dưới da phản ứng hóa học và khiến da đổi sang màu xanh vĩnh viễn.
Điều đáng nói là Karason ban đầu không nhận ra mình đang biến đổi. Ông chỉ thực sự sốc khi một người bạn lâu ngày gặp lại hỏi thẳng: "Ông đã làm gì với khuôn mặt mình vậy?".
Sau khi hình ảnh lan truyền, Paul Karason nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu. Trên internet, ông bị gọi là "Papa Smurf ngoài đời thật" vì ngoại hình giống nhân vật hoạt hình màu xanh nổi tiếng.
Nhưng phía sau sự tò mò của công chúng là cuộc sống nhiều áp lực. Theo truyền thông Mỹ, Karason dần sống khép kín vì những ánh nhìn soi mói mỗi khi ra đường. Ông gặp khó khăn trong công việc và hiếm khi xuất hiện nơi đông người.
Dù vậy, người đàn ông này từng khẳng định bạc keo giúp ông giảm triệu chứng trào ngược và đau khớp nên ông vẫn tin vào phương pháp mình lựa chọn.
Năm 2013, Paul Karason qua đời ở tuổi 62 sau cơn đau tim, đột quỵ và viêm phổi. Các bác sĩ cho biết cái chết của ông không liên quan trực tiếp tới chứng da xanh argyria.
Cho đến nay, câu chuyện của Paul Karason vẫn được xem là một trong những trường hợp y học kỳ lạ nhất từng gây chấn động thế giới.
Kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5 năm nay đang mở ra một xu hướng du lịch mới, khi nhiều người Việt lựa chọn những hành trình ngắn ngày nhưng giàu trải nghiệm thay vì những chuyến đi xa tốn kém. Trong dòng chảy ấy, các làng nghề truyền thống tại Hà Nội đang trở thành điểm đến đầy sức hút, nơi du khách không chỉ tham quan mà còn được chạm tay vào những giá trị văn hóa lâu đời của đất Thăng Long.
Làng lụa Vạn Phúc, nằm ở phường Hà Đông, cách trung tâm thành phố Hà Nội không xa, từ lâu đã nổi tiếng với nghề dệt lụa. Bước vào làng, du khách như lạc vào một thế giới đầy màu sắc, nơi những tấm lụa óng ả bay trong gió, nơi bức tường bích họa và chùa Vạn Phúc cổ kính tạo nên khung hình check-in hoàn hảo.
Nhưng điều đặc biệt hơn cả là được vào tận xưởng dệt, tận mắt chứng kiến quy trình tạo ra những thước lụa, trực tiếp trò chuyện với những nghệ nhân hay thậm chí tự tay thử làm một vài công đoạn. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ đẹp ấy là một nỗi niềm trăn trở. Trước "ma trận" lụa công nghiệp nhập lậu kém chất lượng, người dân Vạn Phúc vẫn ngày ngày chăm chút, cố gắng khẳng định vị thế.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề lụa Vạn Phúc chia sẻ: "Không thể cấm các hộ kinh doanh nhập hàng nơi khác, nhưng điều quan trọng là sản phẩm phải ghi rõ nguồn gốc, minh bạch về chất lượng". Sự minh bạch ấy chính là chìa khóa sống còn để du khách thêm yêu và tin tưởng vào những tấm lụa trứ danh nơi đây.
Làng nghề tăm hương Quảng Phú Cầu thuộc xã Ứng Thiên, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 35km, từ lâu đã được biết đến là một trong những làng nghề làm tăm hương nổi bật nhất ở vùng ngoại ô Thủ đô.
Theo các bậc cao niên trong làng, nghề làm hương ở Quảng Phú Cầu đã xuất hiện từ khoảng hơn 100 năm trước, gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt, nhất là trong những dịp lễ, Tết, giỗ chạp, thờ cúng tổ tiên. Ban đầu, chỉ là nghề phụ trong nông nhàn, giúp người dân cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, theo thời gian, nghề làm hương đã dần trở thành nghề chính, mang lại danh tiếng cho cả vùng.
Đến đây trong những ngày nghỉ lễ, bạn sẽ choáng ngợp trước những con đường, ngõ nhỏ đỏ rực chân hương. Chúng được xếp thành từng bó, xòe to như những đóa hoa nở rộ, tạo nên một khung cảnh vừa lãng mạn, vừa thiêng liêng.
Những năm gần đây, cùng với việc duy trì sản xuất truyền thống, Quảng Phú Cầu đã từng bước chuyển mình khi phát triển mô hình du lịch làng nghề, biến chính không gian lao động quen thuộc của người dân thành điểm đến trải nghiệm văn hóa độc đáo, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế, trở thành điểm đến cho cho những tín đồ yêu nhiếp ảnh.
Nếu muốn tìm một nét mộc mạc, bình dị, du khách có thể ghé làng chuồn chuồn tre Thạch Xá nằm bên chùa Tây Phương cổ kính thuộc xã Tây Phương, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Nghề làm chuồn chuồn trẻ tuy mới hình thành ở đây hơn 20 năm nhưng đã nhanh chóng ghi dấu ấn với những sản phẩm thủ công nhỏ xinh.
Đến với làng chuồn chuồn trẻ Thạch Xá, du khách sẽ được trở về tuổi thơ qua những chú chuồn chuồn tre đủ màu sắc, được cân bằng tinh tế trên đầu ngón tay đầy thú vị. Không chỉ mua làm quà, trải nghiệm tự tay tô vẽ màu sắc cho chú chuồn chuồn của riêng mình chắc chắn sẽ là kỷ niệm khó quên cho các gia đình có trẻ nhỏ.
Nằm bên dòng sông Đáy hiền hòa, làng Chuông thuộc xã Thanh Oai, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30km. Nơi đây không chỉ là một ngôi làng cổ kính mà còn là "thủ phủ" của những chiếc nón lá nức tiếng gần xa. Trải qua hàng trăm năm thăng trầm, tiếng kim khâu nón vẫn đều đặn vang lên dưới những nếp nhà, vẽ nên một bức tranh làng nghề sống động
Các sản phẩm nón tại đây vô cùng đa dạng, từ nón tơi, nón chóp dứa cho đến nón quai thao... để phục vụ nhu cầu của người dân tại mọi miền tổ quốc.
Ngày nay, làng Chuông không chỉ là một trong những trung tâm của nghề làm nón lá truyền thống, mà vẻ đẹp mộc mạc, yên bình của làng nghề đã và đang thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm. Nếu may mắn đến đúng dịp phiên chợ truyền thống, bạn sẽ cảm nhận rõ nét hơi thở văn hóa của một vùng đất cổ xưa.
Với những ai yêu thích sự mạnh mẽ và tinh xảo, làng rèn Đa Sỹ (phường Kiến Hưng) là một điểm dừng chân thú vị. Nơi đây lửa nghề chưa bao giờ tắt, tiếng búa, tiếng mài vang lên giữa không gian làng quê như nhịp đập của một truyền thống lâu đời. Với người dân Đa Sỹ, nghề rèn không chỉ là kế sinh nhai mà còn là niềm tự hào được truyền qua nhiều thế hệ.
Ngày nay, một số xưởng rèn đã mở cửa đón khách, như tại xưởng của Nghệ nhân Lê Ngọc Lâm, du khách không chỉ được chứng kiến những người thợ làm việc mà còn có thể trực tiếp tự tay rèn ra một con dao và khắc tên mình lên đó, trải nghiệm thú vị này khiến nhiều du khách nước ngoài vô cùng thích thú.
Theo anh Lâm, một lợi thế lớn của làng nghề chính là thương hiệu Đa Sỹ đã được khẳng định qua thời gian, và sự thích thú của du khách khi đến đây chính là minh chứng cho sức hút của những giá trị thủ công truyền thống.
Làng mây tre đan Phú Vinh thuộc xã Phú Nghĩa là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời của Hà Nội với lịch sử hình thành cách đây hơn 400 năm.
Đặt chân đến đây, du khách sẽ ngay lập tức cảm nhận được không khí nhộn nhịp, tràn đầy sức sống của một làng quê đang miệt mài gìn giữ nghề thủ công truyền thống. Từ những nan tre thô sơ, dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân chúng trở thành những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo như túi xách, bình hoa, thậm chí là nội thất cao cấp.
Đến với Phú Vinh, du khách không chỉ được tham quan không gian làng nghề mà còn có cơ hội trải nghiệm trực tiếp nhiều công đoạn làm ra sản phẩm tại nhà Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh và Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Văn Hạnh. Không gian sản xuất của hai gia đình nghệ nhân này đã trở thành điểm đến quen thuộc, thu hút du khách trong và ngoài nước, cũng như các đoàn học sinh, sinh viên đến tìm hiểu về nghề truyền thống.
Các nghệ nhân tại đây đều rất hiếu khách và cởi mở. Chia sẻ về mối quan hệ với du khách, nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh cho biết: "Khách du lịch không chỉ là người tiêu dùng mà còn là nguồn gợi ý rất hiệu quả về mẫu mã, công năng và đối tượng sử dụng sản phẩm cho làng nghề".
Với sự kết hợp giữa truyền thống và những ý tưởng mới từ du khách, làng mây tre đan Phú Vinh không chỉ giữ vững nghề cha ông mà còn không ngừng đổi mới, hướng tới việc nâng tầm giá trị sản phẩm mây tre Việt Nam trên bản đồ thủ công mỹ nghệ thế giới.
Nhắc đến các làng nghề truyền thống tại Thủ đô Hà Nội, không thể không nhắc đến làng gốm Bát Tràng, một địa danh vừa mang đậm dấu ấn văn hóa lịch sử, vừa là điểm đến du lịch nổi tiếng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Khi đặt chân đến Bát Tràng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hàng nghìn sản phẩm gốm sứ độc đáo, tinh xảo được tạo nên bởi bàn tay khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân lành nghề. Từ những chiếc bát, đĩa men lam cổ điển đến các bình hoa, tượng trang trí hay đồ dùng cao cấp với họa tiết rồng phượng, hoa văn cầu kỳ, tất cả đều toát lên vẻ đẹp hoàn hảo nhờ kỹ thuật tạo men và nung lò tỉ mỉ, được gìn giữ qua hàng trăm năm.
Không dừng lại ở việc quan sát, du khách còn có cơ hội tìm hiểu toàn bộ quy trình sản xuất gốm sứ từ khâu chọn đất sét, nhào nặn, vẽ men đến nung trong lò truyền thống. Đặc biệt hấp dẫn là hoạt động trải nghiệm tự tay làm gốm, du khách được ngồi vào bàn xoay, tự mình nặn tạo hình những tác phẩm độc đáo mang dấu ấn cá nhân.
Với sự kết hợp hài hòa giữa gìn giữ nghề truyền thống và phát triển du lịch trải nghiệm, làng gốm Bát Tràng ngày càng khẳng định vị thế là điểm đến không thể bỏ qua khi khám phá Hà Nội.