Theo Reuters dẫn báo cáo của Tổng thanh tra Bộ An ninh nội địa Mỹ ngày 2.7, mật vụ không nắm được các trao đổi vô tuyến ngày 13.7.2024 vì không thiết lập phòng liên lạc chung với cảnh sát địa phương. Khi đó, ông Trump là cựu tổng thống Mỹ và ứng viên tranh cử tổng thống.
Trong lúc Mật vụ Mỹ thiếu kênh liên lạc trực tiếp, lực lượng địa phương tiếp nhận thông tin về một người khả nghi, sau đó được xác định là Thomas Crooks.
“Thay vào đó, chúng tôi phát hiện mật vụ chỉ nhận được 5 cuộc gọi điện thoại và 3 tin nhắn văn bản về Crooks”, báo cáo nêu. Do thiếu thông tin, các thành viên Mật vụ đã không cảnh báo đội bảo vệ ông Trump về những lo ngại liên quan người khả nghi này.
Crooks sau đó leo lên một mái nhà gần khu vực mít tinh, nơi có tầm nhìn trực tiếp về phía ông Trump khi ông đang phát biểu vận động tranh cử. Tay súng đã bắn 8 phát đạn trước khi bị lực lượng an ninh tiêu diệt. Một người trong đám đông thiệt mạng, nhiều người khác bị thương, trong khi ông Trump bị thương ở tai do đạn sượt qua.
Báo cáo cũng cho biết Crooks đã điều khiển một máy bay không người lái bay (UAV) qua khu vực vài giờ trước vụ nổ súng. Chuyến bay này không bị phát hiện vì hệ thống chống UAV của mật vụ khi đó không hoạt động.
Theo Tổng thanh tra Bộ An ninh nội địa Mỹ, hệ thống chống UAV được giao cho một nhân sự “thiếu kinh nghiệm” vận hành và người này chưa từng thử nghiệm hệ thống trước sự kiện. Người điều khiển mất nhiều giờ để khắc phục sự cố. Trong thời gian đó, Crooks đã thực hiện chuyến bay UAV kéo dài gần 9 phút mà không bị phát hiện.
Các khuyến nghị trong báo cáo tập trung vào việc cải thiện chia sẻ thông tin, thiết lập cơ chế liên lạc phối hợp với lực lượng địa phương và xử lý các lỗ hổng an ninh trước khi sự kiện diễn ra.
Trong tuyên bố, Mật vụ Mỹ cho biết đồng ý với các khuyến nghị của tổng thanh tra. “Nhiều khuyến nghị trong số này đã được xác định… và đã được thực hiện như một phần trong nỗ lực cải cách đang diễn ra của chúng tôi”, một phát ngôn viên Mật vụ Mỹ cho biết.
Báo cáo ngày 2.7 là kết quả mới nhất trong loạt cuộc điều tra của các cơ quan giám sát chính phủ và Quốc hội Mỹ, chỉ ra những thiếu sót nghiêm trọng trong công tác bảo vệ ông Trump tại sự kiện ở Butler.
Vụ nổ súng được xem là một trong những nỗ lực ám sát nghiêm trọng nhất nhằm vào một tổng thống hoặc ứng viên tổng thống Mỹ trong nhiều thập niên, đồng thời làm dấy lên tranh cãi gay gắt về năng lực bảo vệ của nhân viên Mật vụ Mỹ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại hội nghị bộ trưởng quốc phòng NATO ở Brussels hôm 18/6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố liên minh "đã là hổ giấy và đường một chiều trong thời gian quá lâu", ám chỉ rằng Washington đang phải gánh phần lớn trách nhiệm về lực lượng và tài chính của khối.
"Điều này sẽ không tiếp diễn nữa. Chúng tôi đã truyền đạt rõ, nhưng dường như vẫn còn quá nhiều đồng minh chưa hiểu hết thông điệp đó. Quá nhiều đồng minh chưa nhận ra nhu cầu lịch sử mà Tổng thống Donald Trump đã nói rõ với họ và với chính NATO, đó là xây dựng lại tổ chức này thành liên minh quân sự hùng mạnh và phù hợp với thời cuộc", ông nói.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ kêu gọi cải tổ liên minh thành "NATO 3.0", có khả năng răn đe mọi mối đe dọa.
"NATO 3.0 là sự thừa nhận trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh rằng chúng ta cần quay trở lại là liên minh cứng rắn thật sự, sở hữu năng lực thực chất, đủ sức răn đe ngay tại lục địa này, đóng vai trò dẫn đầu trong nhiệm vụ bảo vệ châu Âu bằng năng lực quân sự thông thường", ông cho hay.
Để thực hiện mục tiêu đó, Washington sẽ đầu tư 1.500 tỷ USD cho lĩnh vực quốc phòng trong năm 2027, phát đến thế giới thông điệp rằng Mỹ đang xây dựng "kho vũ khí của sự tự do".
Theo ông, kho vũ khí này có nhiệm vụ bảo vệ Mỹ và những lợi ích liên quan, song cũng sẽ củng cố sức mạnh của NATO và các đồng minh. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho rằng các đồng minh phải "sẵn sàng đứng lên và hành động mạnh mẽ" để bảo vệ lục địa của chính mình.
Quan chức Mỹ thông báo Lầu Năm Góc sẽ tiến hành cuộc rà soát kéo dài 6 tháng về lực lượng Mỹ tại châu Âu, kết quả sẽ phụ thuộc vào việc các nước thành viên NATO có thể gánh vác trách nhiệm an ninh của chính mình nhanh đến mức nào.
"Đây sẽ là cuộc rà soát thật sự. Nó được thiết kế để đảm bảo NATO chuyển biến nhanh chóng và không thể đảo ngược theo hướng châu Âu đảm nhận vai trò dẫn dắt, đứng lên gánh trách nhiệm chính về phòng thủ của châu lục", ông nói trong cuộc họp.
Ông cũng chỉ trích các đồng minh vì không cho phép lực lượng Mỹ sử dụng căn cứ ở châu Âu trong chiến dịch tấn công Iran, gọi đây là điều "đáng xấu hổ".
Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Elbridge Colby hồi tháng 2 cho biết liên minh đã chuyển đổi thành "NATO 2.0" sau khi Liên Xô tan rã, nhấn mạnh phiên bản này không còn phù hợp.
Tổng thống Trump đã phàn nàn trong nhiều năm qua về trách nhiệm mà Mỹ phải gánh đối với NATO. Ông nhiều lần kêu gọi châu Âu làm nhiều hơn để có thể tự phòng thủ mà không cần sự hỗ trợ của Washington, cũng như đe dọa sẽ rút khỏi liên minh.
Tướng không quân Mỹ Alexus Grynkewich, người giữ chức Tư lệnh Tối cao NATO tại châu Âu, đang xây dựng các kế hoạch dự phòng để bảo vệ châu lục, sau khi Washington hôm 3/6 phát tín hiệu rằng sẽ ngừng cung cấp một tàu sân bay và các tàu hỗ trợ, cũng như đội máy bay tiếp dầu, hàng chục tiêm kích và những khí tài khác cho châu lục trong trường hợp xảy ra khủng hoảng.
Chính quyền Tổng thống Trump cho biết Mỹ cần có khả năng chuẩn bị cho hai xung đột diễn ra cùng lúc, thêm rằng muốn có thêm nguồn lực quân sự trong tay để đề phòng kịch bản xảy ra giao tranh với Trung Quốc ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo đó, Mỹ thông báo kể từ ngày 21.5, Bộ An ninh nội địa sẽ yêu cầu toàn bộ các chuyến bay đến Mỹ có hành khách từng đến CHDC Congo, Nam Sudan hoặc Uganda trong vòng 21 ngày phải hạ cánh tại sân bay quốc tế Washington-Dulles (bang Virginia) để tiến hành các biện pháp rà soát y tế chuyên sâu.
Trước đó, một chuyến bay của hãng hàng không Air France từ Paris (Pháp) đến Detroit (Mỹ) ngày 20.5 đã phải chuyển hướng hạ cánh xuống sân bay Canada, sau khi phát hiện có một hành khách đến từ CHDC Congo. Cơ quan Hải quan và biên phòng Mỹ (CBP) cho biết đây là trường hợp "sơ suất" khi để lọt hành khách này, do Mỹ đã ban hành những hạn chế nhập cảnh nhằm giảm nguy cơ lây lan dịch Ebola.
Trong một diễn biến khác, châu Âu cũng đang tiếp nhận các ca nhiễm Ebola là công dân Mỹ từ vùng dịch. Một bệnh nhân người Mỹ có kết quả xét nghiệm dương tính tại CHDC Congo đã được chuyển đến khu cách ly đặc biệt tại Berlin (Đức) hôm 20.5. Cùng ngày, CH Czech xác nhận đang tiếp nhận một bác sĩ người Mỹ từng điều trị cho bệnh nhân Ebola tại Uganda.
AP dẫn thông báo từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 20.5 cho hay số ca nghi nhiễm Ebola trong đợt bùng phát tại CHDC Congo và Uganda đã tăng lên 600, với 139 trường hợp tử vong. Thách thức hiện nay là vẫn chưa xác định được "bệnh nhân số không", trong khi hiện chưa có vắc xin tiềm năng và thuốc đặc hiệu để điều trị chủng vi rút hiếm Bundibugyo, chủng lây lan chính trong đợt bùng phát hiện nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

