Đầu năm nay, Schneider Electric hợp tác với Công ty Phân phối Petrosetco (PSD) để mở rộng phân phối sản phẩm và dịch vụ bảo vệ nguồn điện liên tục tại Việt Nam.
Tập đoàn Pháp dẫn dữ liệu cho biết, thị trường bộ lưu trữ điện (UPS) tại Việt Nam đạt quy mô hơn 203 triệu USD năm ngoái và có thể tăng lên gần 291 triệu USD vào 2034 nhờ bùng nổ trung tâm dữ liệu, xu hướng “xanh, thông minh hóa”.
“Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi số mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu về nguồn năng lượng ổn định và hạ tầng công nghệ thông minh tăng nhanh”, ông Đặng Nguyễn Ngữ, Tổng giám đốc Schneider Electric Việt Nam và Campuchia, nhận định.
Cũng trong nửa đầu năm, Saint-Gobain hoàn tất chuyển đổi một nhà máy ở Quảng Trị sang không phát thải (Zero Carbon phạm vi 1 và 2) sau khi nâng cấp hệ thống vận hành. Tập đoàn vật liệu xây dựng đến từ Pháp đặt mục tiêu tiếp tục xanh hóa 10 nhà máy khác trong bối cảnh nhu cầu vật liệu bền vững ở Việt Nam gia tăng.
Không chỉ Schneider hay Saint-Gobain nhìn thấy triển vọng mở rộng đầu tư ở Việt Nam. Hôm 15/7, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) công bố chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) quý II đạt 79,7 điểm, tiệm cận mức đỉnh 7 năm đạt được vào cuối 2025.
Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert cho biết cộng đồng doanh nghiệp bước vào 2026 với nhiều ẩn số địa chính trị. Nhưng bất chấp bất ổn bao trùm kinh tế toàn cầu, các doanh nghiệp thành viên vẫn đạt kết quả vượt kỳ vọng.
Trong nhóm kinh doanh cải thiện, 36% doanh nghiệp ghi nhận doanh thu tăng và lợi nhuận vượt kỳ vọng. Khoảng 32% đơn vị nói triển vọng tích cực hơn nhờ gia tăng đơn hàng và có hợp đồng mới, và 24% cho biết sức mua thị trường nội địa phục hồi rõ rệt.
“Kết quả quý này cho thấy khả năng phục hồi và sự bền bỉ của nền kinh tế Việt Nam lẫn cộng đồng doanh nghiệp châu Âu đang hoạt động tại đây”, ông Bruno nhận định. Theo khảo sát của EuroCham, 63% đánh giá điều kiện kinh doanh tích cực trong quý II và 69% kỳ vọng cải thiện tiếp quý III.
Trước đó, nghiên cứu của Ngân hàng UOB (Singapore) cũng cho thấy 85% doanh nghiệp Việt ghi nhận tâm lý kinh doanh tích cực, tăng mạnh so với mức 48% của năm ngoái. Trên 90% doanh nghiệp kỳ vọng kết quả hoạt động năm nay cải thiện.
“Các doanh nghiệp Việt đang cho thấy khả năng thích ứng và sức bền rất ấn tượng trong một môi trường toàn cầu ngày càng nhiều biến động”, bà Phạm Như Anh, Giám đốc Khối Ngân hàng bán buôn (Ngân hàng UOB Việt Nam) nhận định.
Niềm tin kinh doanh cải thiện nhờ đâu? Theo cuộc điều tra mới nhất với doanh nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), khoảng 83,4% đơn vị dự báo hoạt động quý III tốt và ổn định so với quý II. Mức này cao hơn kết quả cuộc khảo sát của quý trước.
Theo cơ quan này, tâm lý lạc quan của cộng đồng doanh nghiệp đến từ ba động lực chính, gồm dòng vốn đầu tư giúp mở rộng sản xuất, thị trường xuất khẩu phục hồi và hiệu ứng lan tỏa từ đầu tư công. Cùng với đó, đơn hàng, sản lượng, công suất và tồn kho đều cải thiện.
Trong nửa đầu năm nay, vốn FDI vào Việt Nam đạt 34,65 tỷ USD, tăng mạnh 61% so với cùng kỳ 2025. Trong đó, dòng vốn thực hiện đạt hơn 13 tỷ USD, tăng 11,2%, cao nhất của 6 tháng đầu năm trong vòng 5 năm qua.
Tuy nhiên, môi trường kinh doanh cũng còn tồn tại nhiều thách thức. 53% doanh nghiệp châu Âu vẫn nhận thấy sự chậm trễ trong thủ tục hành chính, thực thi chính sách thiếu nhất quán và vướng mắc quản lý thuế.
Ngoài thiếu hụt nhân sự, doanh nghiệp còn gặp khó về chứng nhận, kiểm nghiệm và tiêu chuẩn sản phẩm. Khoảng 27% đơn vị cho biết hệ thống quy định phức tạp đang làm giảm sức cạnh tranh và cản trở việc tiếp cận thị trường.
Theo Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert, Việt Nam ban hành hơn 80 luật và văn bản sửa đổi trong nửa đầu năm, đánh dấu cải cách đầy tham vọng. Nhưng theo kịp “làn sóng cải cách pháp lý” cũng là thách thức với doanh nghiệp ngoại.
Để chuyển hóa niềm tin thành những siêu dự án trong tương lai, ông cho rằng Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách và tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế và thủ tục. “Các quy định rõ ràng, thủ tục hành chính hiệu quả và việc thực thi nhất quán là những yếu tố giúp nhà đầu tư yên tâm cam kết vốn trong dài hạn”, ông khuyến nghị.
Cục Thống kê cũng nhận định sản xuất kinh doanh vẫn đối mặt nhiều rủi ro. Khảo sát của cơ quan này cho thấy, có tới 94,6% doanh nghiệp chịu áp lực chi phí sản xuất tăng; 47,4% đánh giá nhu cầu nội địa thấp, và 28,4% gặp khó về lãi suất.
Cả nước có 169.800 doanh nghiệp lập mới và trở lại hoạt động trong 6 tháng qua, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm ngoái (tương đương 28.300 đơn vị mỗi tháng). Tuy nhiên, bình quân mỗi tháng vẫn có gần 25.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Tại hội nghị đối thoại ở TP HCM ngày 10/7, nhiều doanh nghiệp cho biết vẫn khó tiếp cận vốn dù có hợp đồng xuất khẩu, phương án kinh doanh khả thi. Các đơn vị kiến nghị cơ quan quản lý sớm có chính sách hỗ trợ vốn tín dụng, xúc tiến thương mại.
Doanh nghiệp cũng đang chủ động xoay xở. Báo cáo của UOB chỉ ra, khoảng 40% doanh nghiệp dự kiến mở rộng mạng lưới nhà cung cấp để củng cố chuỗi cung ứng, 80% bắt đầu ứng dụng AI. Theo bà Phạm Như Anh, đây là “chuyển mình rõ rệt”.
“Các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư vào năng lực số, củng cố chuỗi cung ứng và mở rộng ra khu vực ASEAN để nắm bắt cơ hội tăng trưởng dài hạn”, bà nói.
Trong khi đó, Cục Thống kê khuyến nghị bình ổn giá nguyên vật liệu, năng lượng, tiếp tục giảm lãi suất, tiền thuê đất và cải cách thủ tục hành chính là ưu tiên hàng đầu để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh.
Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) vừa công bố Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức năm 2025, ghi nhận thu về 8.131 tỷ đồng cổ tức từ 42 doanh nghiệp trong danh mục đầu tư.
Vinamilk (mã chứng khoán: VNM) là doanh nghiệp đóng góp lớn nhất với hơn 3.649 tỷ đồng, tương đương gần 45% tổng giá trị cổ tức SCIC nhận được trong năm 2025 - cũng là khoản cổ tức lớn nhất trong toàn bộ danh mục đầu tư. Khi công ty sữa này chi cổ tức mức 1.850 đồng mỗi cổ phiếu, với việc đang sở hữu 36% vốn điều lệ, SCIC dự kiến sẽ tiếp tục thu về khoảng 1.392 tỷ đồng từ đợt chi trả này.
Theo thống kê, tại thời điểm cổ phần hóa năm 2003, giá trị phần vốn Nhà nước tại Vinamilk của SCIC là khoảng 1.500 tỷ đồng và tăng lên 44.095 tỷ đồng vào tháng 6 năm nay. Nếu tính cả cổ tức đã nhận, số tiền SCIC thu được từ Vinamilk đạt khoảng 106.468 tỷ đồng, gấp gần 71 lần so với giá trị vốn Nhà nước sau cổ phần hóa.
Xếp thứ hai về mức chia cổ tức cao cho SCIC là Tổng Công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, mã chứng khoán: SAB) với 1.385 tỷ đồng. Công ty Viễn thông FPT xếp thứ 3 với 1.236 tỷ đồng. Cùng với đó, nhóm các công ty dược gồm Dược Hậu Giang, Dược Việt Nam, Traphaco… cũng dự kiến chia hàng trăm tỷ đồng cho SCIC trong năm 2025.
SCIC là công ty quản lý vốn Nhà nước được thành lập từ năm 2005. Đến nay, công ty này đã tiếp nhận 120 doanh nghiệp, trong đó có 18 tập đoàn, tổng công ty, với tổng vốn Nhà nước là hơn 24.746 tỷ đồng, xử lý nhiều tồn tại lớn tại Vinaconex, Vinatex hay Seaprodex…
Từ năm 2014, SCIC đã bán vốn tại 396 doanh nghiệp, thu gần 48.000 tỷ đồng, gấp 4,4 lần giá vốn và chiếm 90% giá trị thu bán vốn từ khi thành lập.
Đáng chú ý, Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước có một trong các nội dung là sẽ tiếp tục cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời sẽ thực hiện đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có SCIC.
"Tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia", Nghị quyết nêu rõ.
Với Nghị quyết 79, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn cho rằng việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về mô hình Quỹ đầu tư Chính phủ là cần thiết. Các mô hình như Temasek, Khazanah hay Danatara mang lại nhiều bài học cho Việt Nam.
Tại buổi hội thảo sáng nay do Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) tổ chức, các chuyên gia chỉ ra chứng khoán đang chịu ảnh hưởng từ nhiều biến số vĩ mô như tỷ giá, diễn biến địa chính trị phức tạp và tâm lý chung của nhà đầu tư vẫn còn thận trọng. Song, thị trường vẫn còn kỳ vọng vào việc nâng hạng, dư địa để ổn định lãi suất và những động lực hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Trong bối cảnh thời cơ đan xen thách thức, việc xác định chiến lược chọn lọc cổ phiếu bài bản trở thành yếu tố sống còn đối với nhà đầu tư. Một trong những chiến lược được bà Nguyễn Thị Lan Hương, CEO Công ty Quản lý Quỹ Rồng Việt (VDAM), nhắc đến là bỏ qua những yếu tố biến động vĩ mô trong ngắn hạn để tập trung nhìn vào các doanh nghiệp chất lượng. Theo chuyên gia, trong giai đoạn thị trường biến động ngắn hạn, nếu chọn đúng doanh nghiệp có sức khỏe tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh ổn định, lợi nhuận tốt, nhà đầu tư như "bắt được vàng".
Bà Hương cho biết triết lý đầu tư trên cũng được VDAM tuân thủ nghiêm ngặt. Quỹ này tập trung tìm kiếm những doanh nghiệp đầu ngành có chất lượng và lợi nhuận tốt, song ưu tiên các cổ phiếu có mức giá hợp lý.
Chia sẻ với VnExpress, CEO VDAM nói việc tập trung vào các doanh nghiệp đầu ngành không chỉ là xu hướng mà còn là một nguyên tắc quản trị rủi ro cốt lõi. Một doanh nghiệp được coi là đầu ngành không chỉ dựa trên quy mô mà quan trọng hơn hết là lợi thế cạnh tranh bền vững trong mô hình kinh doanh. Lợi thế này được định nghĩa thông qua cả yếu tố định tính như bí quyết công nghệ, sự độc đáo của sản phẩm và yếu tố định lượng rõ nét nhất là tỷ suất sinh lời vượt trội như ROE, ROA so với các đối thủ cùng ngành.
Quan điểm ưu tiên cổ phiếu đầu ngành còn gắn liền với triết lý về sự hồi phục và giá trị của thời gian trong đầu tư. Bà Hương cho rằng đối với những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh rõ ràng, dù chịu ảnh hưởng tiêu cực từ các biến động vĩ mô khiến giá cổ phiếu sụt giảm, họ vẫn sở hữu đầy đủ nguồn lực và khả năng phục hồi mạnh mẽ khi chu kỳ mới bắt đầu. Thậm chí, doanh thu và lợi nhuận của nhóm này thường có xu hướng quay lại ấn tượng hơn cả mức đỉnh trong quá khứ.
"Nếu nhà đầu tư có phạm phải sai lầm về thời điểm giải ngân nhưng danh mục có nhiều cổ phiếu đầu ngành, thì chính chất lượng nội tại của doanh nghiệp và thời gian sẽ bù đắp những sai lầm đó. Ngược lại, việc chọn nhầm doanh nghiệp yếu kém có thể khiến nhà đầu tư không còn cơ hội để sửa sai", bà Hương cho biết.
Tuy nhiên, việc chọn cổ phiếu đầu ngành không đồng nghĩa với sự phó mặc hay tin tưởng mù quáng. Chuyên gia đặc biệt nhấn mạnh tính kỷ luật trong phương pháp đầu tư và việc theo dõi sát sao "checklist" các tiêu chí đã đề ra ngay từ khi rót vốn. Bà Hương nhắc đến Warren Buffett và Charlie Munger khi cả hai đều có cùng một ý tưởng: bạn phải có nguyên tắc đầu tư của riêng mình.
Dù là một doanh nghiệp đầu ngành, nếu các yếu tố nền tảng như tăng trưởng lợi nhuận không còn khớp với tiêu chí ban đầu hoặc mô hình kinh doanh cũ không còn phù hợp với xu hướng mới, nhà đầu tư cần quyết đoán trong việc thoái vốn. Sai lầm thường đến từ việc nhà đầu tư không bám sát các nguyên tắc của chính mình.
Chuyên gia lấy FPT - một cổ phiếu đầu ngành công nghệ - làm ví dụ. Nếu nhìn vào số liệu, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp này không sụt giảm. Song, nếu nhà đầu tư có nguyên tắc tập trung vào doanh nghiệp có sự tăng trưởng lợi nhuận dựa trên lợi thế cạnh tranh, họ vẫn quyết định bán ra. Lúc bấy giờ, nhà đầu tư bán không phải vì sức khỏe doanh nghiệp suy yếu, mà vì họ nhận thấy mô hình kinh doanh không còn phù hợp với xu hướng mới.
Trong giai đoạn hiện tại, việc chọn lọc cổ phiếu đầu ngành còn được đặt trong mối tương quan với các trụ cột tăng trưởng kinh tế như khu vực FDI và đầu tư công. Các nhóm ngành được chuyên gia ưu tiên bao gồm ngân hàng với chất lượng tài sản tốt và chính sách quản trị rủi ro an toàn, hay các doanh nghiệp hạ tầng logistics, cảng biển và bất động sản khu công nghiệp vốn đang hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng.
Đối với nhóm bán lẻ và công nghệ, sự ưu tiên dành cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng xu hướng gia tăng của tầng lớp trung lưu hoặc tiên phong trong chuyển đổi số và ứng dụng AI. Tựu trung lại, chiến lược của các chuyên gia là tập trung vào những doanh nghiệp xuất sắc nhất, có khả năng hấp thụ chi phí biến động để chuyển hóa thành lợi nhuận bền vững, vì "mua một công ty tuyệt vời với mức giá hợp lý sẽ tốt hơn nhiều so với việc mua một công ty bình thường với mức giá tuyệt vời".
Không còn dừng ở những thử nghiệm mang tính xu hướng, làn sóng AI đang dần đi sâu vào mô hình kinh doanh, quy trình vận hành, sản xuất và trở thành đòn bẩy tăng trưởng mới cho nhiều doanh nghiệp Việt.
Những năm gần đây, Công ty TNHH Việt Thắng Jean bắt đầu đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, trọng tâm là ứng dụng AI vào thiết kế, tự động hóa và số hóa toàn bộ quy trình sản xuất. Đến nay, nhiều hạng mục đã bắt đầu "gặt trái ngọt", mang lại hiệu quả rõ rệt về chi phí và năng suất.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Việt Thắng Jean, cho biết nhờ ứng dụng AI, doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 70 - 80% chi phí ở nhiều khâu, đặc biệt trong sản xuất và vận hành.
Theo ông Việt, sự thay đổi rõ nét nhất nằm ở hoạt động bán hàng. Trước đây, một video phục vụ bán hàng có thể mất khoảng 3 triệu đồng, nhưng nay với AI, chi phí được rút xuống chỉ còn khoảng 300.000 đồng cho mỗi video, đồng thời có thể triển khai gần như ngay lập tức.
Đặc biệt, các công đoạn như cắt vải, làm rập, làm sơ đồ được tự động hóa gần như hoàn toàn thông qua hệ thống máy cắt tích hợp AI. "Nếu trước đây để chuẩn bị cho một mùa hàng cần tới 6 tháng, thì nay toàn bộ quy trình, từ thiết kế đến hoàn thiện sản phẩm, có thể rút xuống chỉ còn khoảng 15 ngày", ông Việt nói.
Ở khâu nghiên cứu thị trường, với đặc thù ngành thời trang thay đổi liên tục, theo xu hướng, theo mùa, AI đang trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp.
Ông Võ Thành Phước, Trưởng Phòng phát triển sản phẩm tại Công ty cổ phần kết nối thời trang Faslink, cho biết AI giúp đội ngũ sáng tạo phát triển ý tưởng mới nhanh hơn, đánh trúng nhu cầu thị trường hơn thông qua phân tích và gợi ý xu hướng, dự đoán màu sắc và thiết kế dựa trên số liệu thực.
"Hệ thống ứng dụng AI có thể nhanh chóng so sánh sản phẩm, phân tích xu hướng, thậm chí đánh giá cảm xúc khách hàng, tạo lợi thế lớn trong việc ra quyết định", ông Phước cho biết.
Trong khi đó, ông Trần Quốc Bảo, Phó tổng giám đốc Tập đoàn KIDO kiêm Giám đốc điều hành kênh thương mại điện tử E2E, cho hay KIDO hiện đã ứng dụng AI trong hầu hết các hoạt động marketing, từ sản xuất TVC quảng cáo đến thiết kế video với người ảo.
"Với video quảng cáo 45 giây, khi áp dụng AI, chi phí sản xuất chỉ còn khoảng 20% so với cách làm truyền thống", ông Bảo chia sẻ.
Không chỉ các "ông lớn", mà nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đang nhanh chóng ứng dụng AI, tận dụng làn sóng công nghệ để bứt phá, tối ưu hiệu quả kinh doanh.
"AI giờ đây không còn là một "giấc mơ đắt đỏ", là đặc quyền của các "ông lớn" đòi hỏi ngân sách hàng triệu USD, mọi doanh nghiệp đều có thể tiếp cận nếu có đủ quyết tâm và một lộ trình phù hợp chỉ với khoảng 100 - 200 triệu đồng", ông Nguyễn Văn Hiệp, Giám đốc Công ty TNHH giáo dục Tiến Bộ (Step Up), nói với Tuổi Trẻ.
Ông Hiệp dẫn lại chính câu chuyện của Step Up để minh chứng cho khả năng "phá kén" của doanh nghiệp nhỏ khi biết tận dụng công nghệ. Từ một đơn vị xuất bản sách truyền thống, doanh nghiệp này đã chuyển mình sang mô hình công nghệ giáo dục (edtech), với ứng dụng học tiếng Anh The Coach hiện nằm trong nhóm 10 ứng dụng giáo dục có lượt tải cao trên App Store tại Việt Nam sau hơn hai năm ra mắt.
Theo ông Hiệp, doanh nghiệp nhỏ không nhất thiết phải bắt đầu từ con số 0 hay đầu tư ngay một đội ngũ kỹ sư AI "hạng A" với quỹ lương lên tới hàng tỉ đồng. Thay vào đó, điều quan trọng là thay đổi "DNA doanh nghiệp", bắt đầu từ những nhu cầu rất cụ thể trong vận hành, từ marketing, chăm sóc khách hàng đến tối ưu quy trình nội bộ.
Tại Step Up, một "đội đặc nhiệm AI" đã được thành lập, trực tiếp làm việc với từng phòng ban để rà soát các điểm nghẽn, từ đó triển khai các công cụ phù hợp. Cách tiếp cận này giúp AI không dừng ở khẩu hiệu mà đi thẳng vào bài toán hiệu quả.
Tham vọng hơn, trong năm 2026, doanh nghiệp này đang phát triển robot gia sư học tiếng Anh dành cho trẻ em. Theo ông Hiệp, dự án khó có thể triển khai nếu không có bước phát triển mạnh mẽ của AI trong những năm gần đây.
Theo AI Diffusion Report 2025 của Viện Kinh tế AI thuộc Microsoft (AIEI), Việt Nam đang xếp thứ 38 toàn cầu về tỉ lệ người sử dụng AI. Đáng chú ý, mức độ phổ biến của AI tại Việt Nam đã tăng từ 21,2% trong nửa đầu năm lên 23,5% vào cuối năm 2025, tương ứng mức tăng 2,3 điểm phần trăm.
Nhiều doanh nghiệp cho biết AI đang tham gia trực tiếp vào quá trình tương tác với khách hàng thông qua chatbot tự động, giúp phản hồi tức thời và tối ưu tỉ lệ chuyển đổi. "Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nhân sự, hệ thống có thể xử lý đồng thời lượng lớn yêu cầu, từ tư vấn đến chốt đơn", lãnh đạo một doanh nghiệp cho biết.