Sau khi trình Quốc hội thông qua 10 luật, ban hành 33 nghị định cùng nhiều cơ chế, chính sách mới, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết trọng tâm hiện nay không còn là xây dựng thể chế mà là tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai, đưa chính sách nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Thông tin được đưa ra tại Hội nghị “Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển” được tổ chức ngày 15/7
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh nhiều chủ trương lớn của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được thể chế hóa bằng hệ thống luật, nghị định và các cơ chế, chính sách mới.
Tuy nhiên, theo Bộ KH&CN, yêu cầu cấp thiết hiện nay là đưa những chính sách này vào thực tiễn, phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế – xã hội.
Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng khẳng định, đất nước đang đứng trước thời khắc lịch sử: hoặc phát triển thành quốc gia giàu mạnh, thu nhập cao vào năm 2045, hoặc chấp nhận dừng lại ở mức thu nhập trung bình.
Đảng và Nhà nước đã quyết định từ giai đoạn 2026 trở đi chúng ta phải đạt mức tăng trưởng hai con số. Khi các động lực truyền thống không còn đủ sức kéo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính.
Đáng chú ý, theo Phó Thủ tướng, Chính phủ đã thống nhất tới đây sẽ trình Quốc hội một Nghị quyết đặc thù để chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học.
Nếu chúng ta làm khoa học vô tư trong sáng, không vụ lợi, không tham ô, tham nhũng mà thất bại cần được miễn trừ trách nhiệm. Không thể cứ thành công được khen thưởng, còn thất bại là bị xử lý.
Cũng theo Phó Thủ tướng, các nghiên cứu khoa học cần xuất phát từ yêu cầu của đất nước, từ nhu cầu của doanh nghiệp và người dân. Tiêu chí đánh giá phải là hiệu quả ứng dụng và khả năng thương mại hóa.
Thách thức lớn nhất là đưa chính sách vào cuộc sống
Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân cho biết, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 luật, trình Chính phủ ban hành 33 nghị định và một nghị quyết, đồng thời tiếp tục hoàn thiện nhiều quyết định, thông tư hướng dẫn.
Theo Bộ trưởng, đây là khối lượng công việc rất lớn, chưa từng có trong lịch sử của Bộ trong một khoảng thời gian ngắn.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ là bước khởi đầu.
“Có thể làm ngày làm đêm để xây dựng các luật, nghị định, thông tư, nhưng để các quy định đó đi vào người thực thi và được vận dụng đúng thì không hề đơn giản”, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nói.
Theo ông, thách thức lớn nhất hiện nay là giúp các quy định mới được hiểu thống nhất, áp dụng đúng và triển khai hiệu quả tại các bộ, ngành, địa phương cũng như cộng đồng doanh nghiệp.
Chính vì vậy, hội nghị được tổ chức nhằm giới thiệu những điểm mới của hệ thống chính sách, đồng thời lắng nghe, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Hoàn thiện cơ chế cho công nghệ chiến lược, tham chiếu chuẩn quốc tế
Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết nhiều cơ chế, chính sách mới được xây dựng theo hướng đổi mới tư duy, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Trong đó, các quy định về công nghệ chiến lược không chỉ được đưa vào Luật Khoa học và Công nghệ mà còn được cụ thể hóa trong Luật Công nghệ cao (sửa đổi) cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý phục vụ phát triển các công nghệ chiến lược của đất nước.
Một điểm mới khác là việc xây dựng chính sách đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế.
Theo Bộ trưởng, Bộ KH&CN đã nghiên cứu chính sách thu hút và chế độ thu nhập dành cho đội ngũ nghiên cứu của một số quốc gia như Singapore, Thái Lan và Indonesia để xây dựng các quy định phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đổi mới hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ
Tại hội nghị, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng chia sẻ nhiều nội dung liên quan đến đổi mới cơ chế hoạt động của các quỹ khoa học và công nghệ.
Theo đó, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia sẽ được đổi mới theo đúng mô hình của một quỹ tài chính, thay vì vận hành theo cơ chế dự toán ngân sách như trước.
Việc thay đổi này nhằm tăng tính chủ động trong sử dụng nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới.
Chức năng của Quỹ cũng được mở rộng. Nếu trước đây chủ yếu hỗ trợ nghiên cứu cơ bản thì nay sẽ có thể đồng hành với các dự án từ giai đoạn nghiên cứu, phát triển đến tạo sản phẩm mẫu.
Ở giai đoạn thương mại hóa, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Theo Bộ trưởng, việc đổi mới cơ chế tài chính không thể thực hiện trong thời gian ngắn do hệ thống pháp luật có tính liên thông, tác động đến nhiều quy định hiện hành. Các chính sách cần được triển khai từng bước, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi.
Đánh giá về giai đoạn hiện nay, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng hệ thống thể chế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cơ bản đã được hoàn thiện.
Một số quy định vẫn cần tiếp tục điều chỉnh về mặt kỹ thuật để phù hợp với thực tiễn, như cơ chế lập dự toán đối với công nghệ chiến lược hay mô hình vận hành các quỹ khoa học và công nghệ ở bộ, ngành, địa phương.
“Trọng tâm thời gian tới sẽ chuyển từ xây dựng thể chế sang tổ chức thực hiện”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Ông cho biết Bộ KH&CN mong muốn cùng các bộ, ngành, địa phương bước sang giai đoạn thực thi quyết liệt, đưa các cơ chế, chính sách mới phát huy hiệu quả thực chất, tạo động lực cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tại hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận bốn chuyên đề gồm: thể chế cho công nghệ chiến lược; cơ chế đầu tư, mua sắm và thử nghiệm trong chuyển đổi số; đổi mới vai trò của các quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tháo gỡ vướng mắc trong lập, phân bổ và sử dụng ngân sách cho khoa học và công nghệ.
Bộ KH&CN khẳng định sẽ không chỉ đóng vai trò cơ quan tham mưu chính sách mà còn đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương, nhà khoa học và doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cơ chế mới, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đất nước.
Theo tờ báo Thairath, sự việc xảy ra tại xã Thong Lang (tỉnh Nakhon Nayok) vào cuối tuần trước, khi cụ bà Sawang Prakatphon, 69 tuổi, đang nằm ngủ trên võng thì bất ngờ bị một con rắn hổ mang cắn vào tay.
Chia sẻ với phóng viên, bà Prakatphon cho biết khi nằm ngủ trên võng, hai tay của bà buông thõng xuống đất nên bị con rắn trườn qua cắn trúng. Cú cắn đau khiến bà tỉnh giấc.
Ban đầu, cụ bà đã bị giật mình khi nhìn thấy con rắn độc, nhưng bà đã nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, sử dụng con dao trong nhà chém liên tiếp cho đến khi giết chết con rắn.
Cụ bà Prakatphon sau đó nhờ con gái chở mình đến bệnh viện, không quên mang theo xác con rắn đã cắn mình để các bác sĩ định danh và sử dụng loại huyết thanh kháng nọc rắn phù hợp.
Con rắn được xác định là một cá thể rắn hổ đất, một trong những loài rắn hổ mang phân bố khá phổ biến tại Thái Lan. Việc định danh con rắn nhanh chóng đã giúp các bác sĩ sử dụng loại huyết thanh phù hợp, cứu mạng cụ bà Prakatphon.
Rắn hổ đất, còn có tên gọi là rắn hổ mang một mắt kính, rắn hổ phì… tên khoa học Naja kaouthia. Loài rắn này phân bố từ Ấn Độ, Bangladesh đến một phần nhỏ phía Tây Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam…
Tại nước ta, rắn hổ đất được phân bố tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh, thành ở phía Nam.
Rắn hổ đất có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau, bao gồm cả rừng ngập mặn, ruộng lúa, đầm lầy, đồng cỏ, khu vực đất nông nghiệp… Rắn cũng có thể được bắt gặp ở những khu vực con người sinh sống, bao gồm cả ở những thành phố, do vậy chúng có thể chạm mặt với con người.
Rắn hổ đất thường dài từ 1,3 đến 1,5 m và có thể dài đến hơn 2 m nhưng hiếm gặp. Màu sắc da của rắn hổ đất cũng thường đậm màu, đôi khi có màu đen tuyền.
Khi cảm thấy bị đe dọa, rắn hổ đất sẽ ngóc cao đầu và phình rộng mang. Phía sau của phần mang có thể quan sát thấy một hoa văn hình tròn giống như mắt kính. Thức ăn của loài rắn này bao gồm động vật gặm nhấm, cá, ếch và cả một số loài rắn khác…
Rắn hổ đất cũng có thể phun nọc để tấn công kẻ thù, nhưng chúng chủ yếu sử dụng răng nanh để cắn và tiêm nọc độc.
Tại Thái Lan có hơn 220 loài rắn, trong đó có khoảng hơn 30 loài rắn sở hữu nọc độc chết người.
Có 4 loài rắn hổ mang khác nhau được phân bố tại Thái Lan (không kể rắn hổ chúa vì đây là loài rắn không thuộc chi rắn hổ mang thực sự), bao gồm rắn hổ mang một mắt kính (còn gọi là rắn hổ đất), rắn hổ mang phun nọc Sumatra, rắn hổ mang phun nọc Đông Dương (còn gọi là rắn hổ mèo) và rắn hổ mang Trung Quốc. Đây đều là những loài rắn sở hữu nọc độc chết người.
Một nghiên cứu của Đại học Chulalongkorn (trụ sở tại Bangkok) cho biết mỗi năm có khoảng 7.000 người bị rắn cắn tại Thái Lan, khiến ít nhất 30 người thiệt mạng. Các loài hổ mang là thủ phạm gây ra số vụ rắn độc cắn nhiều nhất tại quốc gia này.
Cần làm gì nếu bị rắn độc cắn?
Theo các chuyên gia, trong trường hợp bị rắn độc cắn trúng, cần phải giữ nạn nhân bình tĩnh, tránh vận động nhiều khiến tim đập nhanh, đặt vị trí vết cắn thấp hơn tim để tránh nọc độc lan truyền nhanh hơn.
Các loài rắn độc thường sở hữu nọc độc khác nhau (nọc độc gây tê liệt thần kinh hoặc nọc độc máu gây hoại tử), do đó không nên sơ cứu nạn nhân bằng cách băng ga rô vì điều này có thể khiến vết thương bị hoại tử trầm trọng hơn. Cần phải lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được chăm sóc vết thương đúng cách.
Những biện pháp như rạch vết thương, hút chất độc, đắp lá thuốc hoặc sơ cứu không đúng cách… có thể khiến tình trạng nạn nhân càng thêm nghiêm trọng.
Hiện tại đã có huyết thanh giải độc cho vết cắn của các loài rắn độc phổ biến. Trong trường hợp không có huyết thanh kháng nọc hoặc không rõ loài rắn độc nào đã cắn, các bác sĩ sẽ điều trị bệnh nhân dựa vào triệu chứng giúp giảm nguy cơ tử vong và không để lại hậu quả sau khi bị rắn cắn.
Ngày 26/5, tại Hải Phòng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương và Thành ủy Hải Phòng tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng để thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu, xu hướng chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ ngày càng mạnh mẽ.
Sau 40 năm thực hiện công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Quy mô GDP năm 2025 đứng thứ 32 thế giới, nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất toàn cầu. Việt Nam cũng chính thức trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao từ năm 2025.
Đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được nâng lên. Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố thông qua quá trình hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng mô hình phát triển hiện nay đang bộc lộ những giới hạn mới. Nền kinh tế vẫn chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động giá rẻ. Chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực còn chậm. Năng lực làm chủ công nghệ lõi, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị quốc gia vẫn là những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.
Chuyển đổi toàn diện mô hình phát triển
Phát biểu tại hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước.
Theo ông, đây không chỉ là sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng mà còn là quá trình chuyển đổi toàn diện phương thức phát triển quốc gia nhằm tạo ra các động lực tăng trưởng mới.
Ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời tăng cường khả năng tự chủ chiến lược và tự cường của nền kinh tế.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, việc đổi mới mô hình phát triển sẽ giúp Việt Nam tận dụng cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới và thích ứng hiệu quả với quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số toàn cầu.
Tại hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận về cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam. Nhiều ý kiến phân tích sâu những cơ hội và thách thức đặt ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Các chuyên gia cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm xây dựng mô hình phát triển mới cho giai đoạn 2026-2045, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Con người là trung tâm của phát triển
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thắng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương cho biết Đại hội XIV của Đảng đã xác định yêu cầu chuyển đổi mạnh mô hình tăng trưởng.
Theo đó, Việt Nam cần chuyển từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào vốn, tài nguyên và lao động kỹ năng thấp sang lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị hiện đại làm động lực chính.
Ông Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là tăng quy mô GDP hay tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải nâng cao chất lượng sống, hạnh phúc và cơ hội phát triển của người dân.
Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển không chỉ dừng ở đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế mà còn là đổi mới tổng thể tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, quản trị quốc gia, tổ chức xã hội và cách thức huy động, phân bổ nguồn lực.
Theo ông, trong mô hình phát triển mới, con người vừa là mục tiêu, vừa là nguồn lực và động lực nội sinh quan trọng nhất của quá trình phát triển.
Nhiều tham luận tại hội thảo cũng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị quốc gia để tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới.
Các đại biểu cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng khả năng làm chủ công nghệ lõi và thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu.
Các tham luận và kiến nghị tại hội thảo sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng phục vụ xây dựng Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, trình Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Những ngày qua, câu chuyện về nền sân bê tông của gia đình ông Lò Văn Mi ở xã Yên Châu, tỉnh Sơn La liên tục xuất hiện các đốm lửa nhỏ giữa trời nắng đã thu hút sự chú ý của dư luận.
Theo ghi nhận, các đốm lửa thường xuất hiện vào khoảng giữa trưa hoặc đầu giờ chiều, thời điểm nhiệt độ ngoài trời tăng cao. Ngọn lửa đi kèm khói trắng, để lại phần tro màu vàng trên bề mặt bê tông.
Hiện tượng lạ khiến không ít người dân địa phương hiếu kỳ kéo đến xem. Trên mạng xã hội, hàng loạt giả thuyết được đưa ra, từ "ma trơi", "núi lửa dưới lòng đất", "mỏ dầu khí" cho đến việc bê tông chứa phốt pho nên tự bốc cháy.
Theo TS Vũ Thị Tần, chuyên gia hóa học, đây là hiện tượng cần được tiếp cận bằng phương pháp khoa học thay vì suy đoán.
Phốt pho trong bê tông có thể tự cháy?
Một trong những giả thuyết được nhắc đến nhiều nhất là bê tông có chứa phốt pho trắng, chất có khả năng tự bốc cháy khi tiếp xúc với không khí.
Tuy nhiên, theo TS Vũ Thị Tần, giả thuyết này tồn tại nhiều điểm chưa hợp lý.
Phốt pho trắng là chất rất hoạt động hóa học, có thể tự bốc cháy ở nhiệt độ khoảng 30-40 độ C khi tiếp xúc với oxy. Tuy nhiên, loại hóa chất này không phải thành phần thông thường trong sản xuất bê tông.
"Nếu giả sử trong vật liệu xây dựng có lẫn một lượng rất nhỏ phốt pho thì khả năng tồn tại ổn định suốt thời gian dài là rất thấp. Hơn nữa, nếu nguyên nhân đến từ vật liệu xây dựng, hiện tượng có xu hướng xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau thay vì chỉ tập trung tại một điểm cố định", TS Tần phân tích.
Theo chuyên gia, việc nhận định phốt pho tự cháy là chưa có căn cứ.
Một số người lại đặt câu hỏi liệu dưới khu vực này có tồn tại nguồn nhiệt địa chất bất thường hay hoạt động núi lửa ngầm.
TS Vũ Thị Tần cho rằng khả năng này càng khó thuyết phục hơn.
"Nếu có nguồn nhiệt địa chất mạnh đủ để gây cháy, nền bê tông thường sẽ xuất hiện dấu hiệu bất thường như nóng kéo dài, nứt vỡ, biến dạng hoặc ảnh hưởng tới khu vực xung quanh. Trong khi đó hiện tượng được ghi nhận chỉ là những đốm lửa cục bộ xuất hiện trên bề mặt", TS Tần nhận định.
Việt Nam hiện không nằm trong khu vực có hoạt động núi lửa đang diễn ra. Các núi lửa ở nước ta đều đã ngừng hoạt động từ rất lâu.
Khả năng tồn tại chất hữu cơ hoặc hóa chất dễ cháy
Một giả thuyết khác được cộng đồng mạng nhắc tới là khí hydrocarbon hoặc khí dễ cháy từ dưới lòng đất thoát lên và bắt lửa dưới tác động của nhiệt độ cao.
Theo TS Vũ Thị Tần, để một hỗn hợp khí cháy được cần đồng thời đáp ứng nhiều điều kiện như có nguồn khí, có đường thoát, đạt nồng độ thích hợp trong không khí và có nguồn kích hoạt.
"Không thể chỉ nhìn thấy lửa rồi kết luận ngay bên dưới có khí đốt hoặc dầu khí. Muốn chứng minh điều đó cần có kết quả khảo sát địa chất, phân tích khí và các bằng chứng cụ thể khác", bà cho biết.
Bên cạnh đó, nhiệt độ mặt sân trong những ngày nắng nóng dù có thể lên tới 50-60 độ C nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với nhiệt độ tự bốc cháy của phần lớn các loại khí hydrocarbon.
Theo chuyên gia hóa học, một hướng cần được xem xét là sự hiện diện của các chất hữu cơ hoặc hóa chất dễ cháy vô tình lẫn trong bê tông hoặc khu vực nền đất bên dưới.
Trong thực tế, một số vật liệu hữu cơ, dầu mỡ, hóa chất công nghiệp hoặc tàn dư từ quá trình sản xuất, xây dựng có thể trải qua các phản ứng oxy hóa chậm khi gặp điều kiện nhiệt độ cao kéo dài.
Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là giả thuyết cần được kiểm chứng bằng kết quả phân tích mẫu thực tế.
Theo TS Vũ Thị Tần, phương án tối ưu hiện nay là tiến hành lấy mẫu tại hiện trường để phân tích.
Cụ thể, cơ quan chuyên môn cần thu thập mẫu bê tông tại vị trí xảy ra cháy, mẫu bê tông ở khu vực đối chứng không xảy ra hiện tượng tương tự, mẫu tro hoặc cặn còn sót lại sau khi cháy và nếu cần có thể lấy thêm mẫu đất bên dưới nền sân.
Các xét nghiệm sẽ tập trung tìm kiếm dấu vết của phốt pho, lưu huỳnh, hợp chất hữu cơ dễ cháy, hydrocarbon, kim loại hoặc các hóa chất bất thường khác.
"Chỉ cần có mẫu vật và kết quả phân tích, chúng ta hoàn toàn có thể khoanh vùng nguyên nhân khá nhanh. Đó có thể là một phản ứng hóa học đặc biệt, một hiện tượng tự nhiên hiếm gặp hoặc cũng có thể liên quan đến tác động từ bên ngoài", chuyên gia cho biết.
Trong khi chờ kết luận chính thức từ cơ quan chức năng, TS Vũ Thị Tần khuyến cáo người dân không nên lan truyền các thông tin thiếu kiểm chứng hoặc gắn hiện tượng này với các yếu tố mê tín.