Công ty Mi Hồng tăng giá vàng miếng SJC 200.000 đồng mỗi lượng ở chiều mua vào, lên 167,7 triệu đồng, trong khi bán ra giữ nguyên ở mức 169,2 triệu đồng. ACB giữa giá mua vào ở mức 166,5 triệu đồng, bán ra 169,2 triệu đồng. Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC giảm giá vàng miếng 500.000 đồng mỗi lượng, xuống còn 166,2 triệu đồng chiều mua vào, bán ra 168,7 triệu đồng. Trang website của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn – SJC bị trục trặc, không thể truy cập. Sự cố này khiến Công ty SJC đưa ra giá giao dịch đầu ngày chậm hơn mọi khi, kéo theo các đơn vị kinh doanh khác cũng chậm niêm yết giá. Phía Công ty SJC cho biết đang khắc phục sự cố.
Giá vàng thế giới tăng nhẹ 6 USD mỗi ounce, lên 4.699 USD. Trong phiên giao dịch Mỹ (đêm 23.4), kim loại quý tăng giảm lên xuống trong biên độ từ 4.681 – 4.739 USD. Giá vàng tăng khi số lượng người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu cao hơn dự báo của các nhà kinh tế. Bộ Lao động Mỹ hôm thông báo số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu tại các tiểu bang trong tuần kết thúc ngày 18.4, sau khi điều chỉnh theo mùa, đạt 214.000 đơn. Con số này cao hơn dự kiến, vì ước tính đồng thuận dự báo con số là 212.000 đơn. Con số của tuần trước đã được điều chỉnh tăng lên 208.000 từ 207.000.
Theo bà Rhona O’Connell, Trưởng bộ phận Phân tích thị trường tại StoneX cho rằng, xung đột Iran đang diễn ra và những căng thẳng xung quanh việc kế nhiệm người đứng đầu Cục Dự trữ liên bang (Fed) sẽ khiến dòng tiền lớn tránh xa kim loại quý trong những tuần tới. Các vị thế mua vàng do các nhà đầu tư quản lý trên sàn COMEX đã giảm trong tuần cuối tháng 3 nhưng đã dần phục hồi kể từ đó, mặc dù vẫn thấp hơn 15 tấn so với mức 3.190 tấn ghi nhận vào ngày 17 tháng 3. Giá vàng đang củng cố dưới các mức kháng cự quan trọng và cho biết việc vàng không thể lấy lại mức 4.880 USD làm tăng khả năng áp lực giảm giá trở lại nếu mức hỗ trợ bắt đầu suy yếu, cho thấy vàng vẫn dễ bị giảm giá hơn nữa trừ khi có sự đột phá rõ ràng xác nhận sự thay đổi động lực.
Tin Gốc: Thanh Niên

Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 - 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần "thủng" các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình "tăng đỉnh - sập sâu - đi ngang kéo dài".
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn "ngủ đông" kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 - 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 - 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
"Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới", ông Nhân nói.
Các đợt "sập giá" của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
"Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn", ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 - 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 - 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 - 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
"Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 - 2025", ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
"Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 - 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 - 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn", bà Trang Anh nói.
Kinh Tế
Bốn giá trị tạo nên sức hút của The Tropic giữa làn sóng dịch chuyển về đảo Vũ Yên

Vị trí chiến lược giữa tam giác phát triển mới của Hải Phòng
Bản đồ phát triển của Hải Phòng đang được vẽ lại quanh "tam giác chiến lược" gồm Thủy Nguyên, Vũ Yên và nội đô lịch sử. Trong đó, Thủy Nguyên giữ vai trò trung tâm hành chính mới. Phố cổ tiếp tục là lõi văn hóa và thương mại truyền thống. Còn đảo Vũ Yên vươn lên thành cực phát triển đô thị, nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp của thành phố Cảng.
The Tropic nằm tại giao điểm hai trục Hạnh Phúc và Tương Lai của đại đô thị Vinhomes Royal Island - vị trí trung tâm của "tam giác vàng". Từ đây, cư dân chỉ mất khoảng 5 phút di chuyển qua cầu Hoàng Gia để vào phố cổ hoặc qua cầu Vũ Yên 1 để tới khu hành chính mới Thủy Nguyên. Vị trí này đặc biệt thuận tiện với nhóm doanh nhân, chuyên gia thường xuyên di chuyển giữa trung tâm thành phố và các khu công nghiệp, cảng biển hàng đầu phía Bắc.
Sắp tới, cầu Ngô Quyền sẽ bổ sung thêm trục kết nối từ khu The Tropic tới cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, hoàn thiện mạng lưới giao thông liên vùng.
Ở quy mô rộng hơn, bộ tứ sân bay Cát Bi, Nội Bài, Vân Đồn, Gia Bình, cùng tuyến đường sắt quốc tế Lào Cai - Hải Phòng và đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Hạ Long đang đưa thành phố Cảng trở thành đầu mối trung chuyển chiến lược của khu vực phía Bắc.
Với lợi thế nằm ngay trung tâm mạng lưới ấy, The Tropic trở thành điểm đến lý tưởng cho các doanh nhân chọn Hải Phòng làm "đại bản doanh", nhưng vẫn cần kết nối linh hoạt tới Hà Nội, Quảng Ninh và các trung tâm kinh tế trọng điểm của miền Bắc.
Kiến trúc nhiệt đới hiện đại kiến tạo chuẩn sống xanh
Trong đại đô thị Vinhomes Royal Island, The Tropic là khu duy nhất mang phong cách kiến trúc nhiệt đới hiện đại. Không gian sống tại đây được thiết kế để đón sáng, đón gió tự nhiên và tối ưu sự kết nối với cảnh quan bên ngoài.
Trần cao, ban công rộng cùng hệ mái hiên lớn tạo cảm giác thoáng đãng, dễ chịu ngay cả trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Vật liệu đá, gỗ, cát cùng tông màu trung tính mang lại sự thư thái, phù hợp với gu sống của thế hệ thành đạt hiện đại.
Những nguyên lý thiết kế ấy không chỉ tạo khác biệt về thẩm mỹ, mà còn bắt nhịp với xu hướng wellness toàn cầu. Nghiên cứu COGfx của Harvard chỉ ra rằng, người sống trong công trình xanh có hiệu quả tư duy cao hơn khoảng 101% so với môi trường thông thường. Đây là yếu tố được giới doanh nhân và trí thức đặc biệt quan tâm.
Báo cáo từ các đơn vị nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy, nhà ở gắn với yếu tố wellness được thị trường định giá cao hơn tới 25% so với các dự án cùng phân khúc. Điều này phản ánh sức hút ngày càng lớn của những không gian sống xanh, riêng tư và chú trọng trải nghiệm như The Tropic.
Cộng đồng chọn lọc phản chiếu vị thế của chủ nhân
Với hàng nghìn cư dân đã chuyển về sinh sống, Vinhomes Royal Island đang hình thành một cộng đồng văn minh, sôi động bậc nhất Hải Phòng. Tại đây, các hoạt động văn hóa, thể thao và giải trí diễn ra thường xuyên, từ golf, pickleball, chạy bộ tới lễ hội âm nhạc, pháo hoa và các sự kiện quy mô lớn. Nhịp sống ấy góp phần gia tăng sự kết nối giữa những cư dân "đồng chất, hợp gu".
Chính cộng đồng cư dân đang hiện hữu cùng hệ tiện ích và nhịp sống đô thị thượng lưu là yếu tố góp phần tạo nên sức hút riêng cho The Tropic. Trong xu hướng dịch chuyển của tầng lớp thành đạt, địa chỉ sống chính là "tấm danh thiếp định danh" phản chiếu vị thế, phong cách và cộng đồng mà chủ nhân lựa chọn đồng hành.
Quỹ sản phẩm giới hạn tạo nền tảng gia tăng giá trị
Toàn khu The Tropic chỉ bao gồm 440 căn, chiếm một phần rất nhỏ trong quy mô đại đô thị Vinhomes Royal Island 877ha.
Bên cạnh đó, giá trị của The Tropic còn nằm ở vị trí trung tâm của đô thị đảo all-in-one quy mô lớn hiếm hoi tại miền Bắc. Trong bối cảnh quỹ đất thấp tầng trung tâm ngày càng khan hiếm, đây là dòng sản phẩm "limited" đúng nghĩa, khó có bản sao trên thị trường và cũng khó tái lập trong tương lai.
Với cư dân, sự khan hiếm của The Tropic tạo nên môi trường sống riêng tư và ít bị pha loãng theo thời gian. Với giới đầu tư, đây là yếu tố quan trọng tạo nền tảng cho khả năng gia tăng giá trị trong dài hạn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Từ tháng 4 đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhiều lần kêu gọi các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động, qua đó tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay. Thế nhưng trên thực tế mặt bằng lãi vay vẫn âm thầm nhích nhẹ.
Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Xuân Nguyên, chia sẻ lãi vay của doanh nghiệp (DN) hiện dao động từ 8,5% đến 9,2%/năm đối với các khoản vay có kỳ hạn khoảng 6 tháng, tăng đáng kể so với mức khoảng 7,5%/năm của cùng kỳ năm trước. "Đó là lãi suất cho vay của khối NH thương mại nhà nước, còn NH thương mại cổ phần thì cao hơn, lãi suất ưu đãi đối với DN sản xuất kinh doanh cũng đã trên 10%/năm, thậm chí khoảng 10 - 10,5%/năm", ông Nguyên nói. Theo ông, mức lãi vay này vẫn có thể chấp nhận đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở chi phí vốn mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng. Một số NH, nhất là khối NH thương mại có vốn nhà nước đang có dấu hiệu thận trọng hơn trong cấp tín dụng. Dù chưa có thông báo chính thức, nhiều chi nhánh lựa chọn khách hàng kỹ lưỡng hơn và hạn chế giải ngân đối với các khoản vay mới.
Tương tự, ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút (TP.HCM), cho biết lãi suất vay của DN hiện vẫn ở mức gần 10%/năm và hầu như không thay đổi trong vài tháng qua. Do ký khoản vay kỳ hạn 6 tháng từ tháng 4 nên đến nay vẫn chưa đến thời điểm điều chỉnh lãi suất. Dù vậy, ông Phong nói ông không kỳ vọng lãi vay giảm bởi mặt bằng lãi suất huy động của nhiều NH vẫn ở mức trên 8%/năm, cao hơn so với vài tháng trước.
Để giảm chi phí vốn vay, bà Nguyễn Hoa, giám đốc một DN chế biến gỗ dăm xuất khẩu, thay vì vay kỳ hạn 6 tháng với lãi suất 8,5%/năm thì chọn vay kỳ hạn 2 tháng với lãi suất 7,9%/năm. Việc thay đổi thời gian vay buộc DN phải tính toán chặt chẽ dòng tiền để đảm bảo nguồn thu về đúng thời điểm thanh toán khoản vay, nếu không sẽ đối mặt rủi ro phát sinh nợ quá hạn. "Khoản vay hiện nay chủ yếu phục vụ vốn lưu động. Do chi phí vốn còn cao nên DN chưa dám vay để đầu tư mở rộng sản xuất vì rủi ro tài chính khá lớn", bà Hoa nói thêm.
Diễn biến trên thị trường cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đang có xu hướng nhích lên. Vietcombank ghi nhận lãi suất cho vay bình quân tháng 5 đạt 7,2%/năm, đánh dấu tháng tăng thứ tư liên tiếp và cao hơn 0,8% so với tháng 2. Tại BIDV, lãi suất cho vay bình quân đến cuối tháng 5 ở mức 7,06%/năm. Agribank cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi lãi suất cho vay bình quân tăng lên 8,63%/năm, cao hơn khoảng 1,7% sau 5 tháng đầu năm. Theo biểu lãi suất của NH này, lãi suất cho vay ngắn hạn hiện từ 6,1%/năm, trong khi các khoản vay trung và dài hạn ở mức khoảng 7,8%/năm. Đây là mức lãi suất cho vay bình quân, đối với từng khoản vay sẽ có mức lãi cao thấp khác nhau, có những khoản vay lên trên 10%/năm.
Ở nhóm NH thương mại cổ phần, mặt bằng lãi suất cho vay cao hơn. Đơn cử tại ACB, lãi suất cho vay bình quân hiện ở mức 9,3%/năm, tăng 1,84 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. KienlongBank công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 6 là 8,84%/năm, tăng 0,12 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái, còn chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động ở mức 1,67%/năm.
Lãi suất cho vay mua nhà cũng đã nhích lên đáng kể. Nhiều NH hiện triển khai các gói tín dụng mua nhà với lãi suất ưu đãi quanh 10%/năm. Như BIDV áp dụng lãi suất từ
9,2 - 9,7%/năm trong 6 tháng đầu đối với khoản vay có thời hạn tối thiểu 36 tháng; với khoản vay từ 60 tháng trở lên, lãi suất ưu đãi là 10,3%/năm trong 18 tháng đầu. So với cùng kỳ năm trước, mức lãi suất ưu đãi này đã tăng khoảng 3 - 4%.
Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ VN, nói thẳng các NH công bố mức lãi suất bình quân, không có nghĩa mọi DN đều được vay với mức này. Trong thực tế, ngoài lãi suất danh nghĩa, DN còn phải tính đến chi phí định giá tài sản, bảo hiểm, phí tín dụng và một số điều kiện sử dụng dịch vụ đi kèm. Qua phản ánh bước đầu từ một số DN hội viên, mặt bằng lãi suất vay hiện có sự phân hóa khá lớn. Những DN có tình hình tài chính tốt, dòng tiền ổn định và tài sản bảo đảm đầy đủ có thể tiếp cận mức lãi suất thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nhiều DN nhỏ và vừa vẫn đang vay với lãi suất khoảng 8 - 10%/năm; một số khoản vay trung, dài hạn hoặc thuộc lĩnh vực được đánh giá có mức độ rủi ro cao có thể trên 10%/năm. "Đây mới là phản ánh bước đầu, chưa phải kết quả khảo sát diện rộng. Mức lãi suất thực tế còn phụ thuộc vào từng NH, kỳ hạn vay, tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và mức độ tín nhiệm của DN", ông Hồng Anh lưu ý.
Với DN sử dụng nhiều vốn vay, theo ông Đặng Hồng Anh lãi suất tăng thêm 1 - 2% có thể làm giảm đáng kể biên lợi nhuận, thậm chí khiến một phương án đầu tư không còn hiệu quả. Lãi suất không chỉ là một con số trong hợp đồng tín dụng, chi phí này được tính vào từng sản phẩm, từng đơn hàng và từng quyết định đầu tư. Khi chi phí vốn cao, DN buộc phải trì hoãn đầu tư, thu hẹp sản xuất hoặc hạn chế tuyển dụng. Một khó khăn khác là nhiều chương trình ưu đãi chỉ áp dụng trong thời gian ngắn. Sau đó, lãi suất được điều chỉnh theo lãi suất cơ sở cộng biên độ, khiến DN khó dự báo chi phí vốn trong trung và dài hạn.
Từ góc nhìn đó, ông Đặng Hồng Anh đề nghị các NH chủ động rà soát, giảm lãi suất đối với cả dư nợ hiện hữu của những khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả và sử dụng vốn đúng mục đích. Bên cạnh đó, cần hạn chế cạnh tranh huy động vốn bằng lãi suất cao, bởi khi chi phí đầu vào tăng, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị thu hẹp. Hội cũng đề nghị các NH đổi mới phương pháp thẩm định tín dụng, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, tăng đánh giá dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, dữ liệu thuế và tính khả thi của phương án kinh doanh. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. "DN hiểu điều hành lãi suất phải gắn với kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống. Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng, vốn phải đi vào sản xuất, kinh doanh với chi phí hợp lý. Lãi suất giảm thực chất, ổn định và minh bạch sẽ giúp DN mạnh dạn đầu tư, tạo thêm việc làm và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế", ông Đặng Hồng Anh nhấn mạnh.
Theo dữ liệu từ NHNN, tính đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương đương bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỉ đồng cho nền kinh tế. Nhìn vào bảng cơ cấu dư nợ tín dụng, dòng vốn vẫn đi khá đúng định hướng. Trong đó, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chiếm 77% tổng dư nợ, riêng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,09%; DN nhỏ và vừa chiếm 19,84%; bất động sản chiếm 25,73%... Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, tương đương 2,79 triệu tỉ đồng được bơm ra nền kinh tế. Như vậy, những tháng còn lại của năm sẽ còn khoảng 1,39 triệu tỉ đồng chờ giải ngân.
Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, lãi vay chỉ giảm khi lãi huy động giảm. Thế nhưng trong bối cảnh huy động vốn khó khăn như hiện nay thì việc giảm lãi suất là khó. Đó là lý do lãi vay với các DN đã nhích lên. "Để tính lãi vay cho các DN, có thể tham chiếu theo nguyên tắc lãi suất huy động bằng mức lạm phát cộng khoảng 2%, còn lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động khoảng 3%. Với giả định lạm phát được kiểm soát quanh 4,5%, lãi suất huy động hợp lý sẽ vào khoảng 6,5 - 7%/năm, còn lãi suất cho vay dao động 9 - 10%/năm. Đây là mức lãi suất mà các DN lớn có thể tiếp cận", ông Hiếu phân tích. Tuy nhiên DN nhỏ và vừa nhiều khả năng phải vay với mức lãi suất cao hơn đáng kể do mức độ rủi ro tín dụng cao hơn.
Ông Nguyễn Trí Hiếu thừa nhận điều kiện hiện nay không thực sự thuận lợi để vừa hạ lãi suất, vừa hỗ trợ DN, vừa kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh đó, DN cần chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp, tính toán kỹ dòng tiền và chấp nhận mặt bằng lãi suất hiện nay thay vì kỳ vọng lãi suất sẽ sớm giảm trở lại.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng: Thay vì tập trung vào mục tiêu giảm lãi suất bằng mọi giá, cần ưu tiên các giải pháp tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định và có dư địa giảm một cách bền vững. Trước hết là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát. Đồng thời, tín dụng cần được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và những ngành nghề có mức độ rủi ro thấp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn. Một giải pháp quan trọng khác là đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công. Khi nguồn vốn đầu tư công được giải ngân hiệu quả, dòng tiền sẽ quay trở lại hệ thống NH, góp phần cải thiện thanh khoản và giảm áp lực huy động vốn. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đối với hộ kinh doanh và DN, đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế, qua đó giúp DN bổ sung nguồn vốn lưu động. Việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, kể cả trong hoạt động chi trả bồi thường, giải phóng mặt bằng, cũng được xem là giải pháp góp phần đưa dòng tiền quay trở lại hệ thống NH, đồng thời giảm chi phí xã hội và hạn chế các rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt. Ngoài ra, cần rà soát các quy định về ký quỹ đối với một số ngành nghề để phù hợp hơn với thực tiễn, trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của từng nhóm DN nhằm giảm áp lực về dòng tiền nhưng vẫn bảo đảm an toàn quản lý.
Ông Cấn Văn Lực phân tích thời gian qua NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ thanh khoản và tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, như điều chỉnh một số quy định liên quan đến hoạt động tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro. Đối với các NH thương mại, dư địa giảm lãi suất cho vay chủ yếu đến từ việc cắt giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và nâng cao hiệu quả quản trị. Trên cơ sở đó, các NH có thể giảm lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực ưu tiên hoặc các DN gặp khó khăn nhưng có triển vọng phục hồi, thay vì giảm đồng loạt trên toàn thị trường.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối NH đầu tư, Phó giám đốc khối kinh doanh Công ty CP chứng khoán An Bình - ABS, cũng đồng quan điểm: Từ đầu năm đến nay, NHNN đã hỗ trợ thông qua thị trường mở (OMO) và thị trường liên NH khá nhiều nhưng dư địa giảm lãi suất hiện không còn nhiều. Lý do là từ cuối năm ngoái đến nay, huy động vốn từ các NH tăng chậm hơn nhiều. Do vậy giải pháp trong giai đoạn này là các NH tăng bộ đệm vốn, trong đó tăng vốn điều lệ lên để có thể duy trì nguồn vốn cho vay. "Hàng loạt NH tăng vốn gần đây hy vọng sẽ tạo bộ đệm cho hệ thống nhà băng", ông Minh dẫn chứng.
Một giải pháp khác đó là phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu nước ngoài. Điều kiện huy động vốn nước ngoài hiện nay thuận lợi hơn năm 2024 khi lãi suất USD ở mức 4,5 - 5%/năm, thêm vào đó tỷ giá năm nay lại ổn định, nếu có tăng lên thì cao lắm khoảng 2%. Do vậy, huy động vốn từ nước ngoài hiện nay sẽ rẻ hơn so với trong nước. Ông Nguyễn Thế Minh lưu ý dù giải pháp nào đi nữa cũng cần thời gian nên từ nay đến cuối năm lãi suất cho vay ổn định ở mức hiện nay cũng là tốt. Lãi suất cho vay không thể tăng mạnh vì yêu cầu hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế đòi hỏi nguồn vốn cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

