Giảm lãi vay được không?

Giảm lãi vay được không?

Từ tháng 4 đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhiều lần kêu gọi các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động, qua đó tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay. Thế nhưng trên thực tế mặt bằng lãi vay vẫn âm thầm nhích nhẹ.

Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Xuân Nguyên, chia sẻ lãi vay của doanh nghiệp (DN) hiện dao động từ 8,5% đến 9,2%/năm đối với các khoản vay có kỳ hạn khoảng 6 tháng, tăng đáng kể so với mức khoảng 7,5%/năm của cùng kỳ năm trước. “Đó là lãi suất cho vay của khối NH thương mại nhà nước, còn NH thương mại cổ phần thì cao hơn, lãi suất ưu đãi đối với DN sản xuất kinh doanh cũng đã trên 10%/năm, thậm chí khoảng 10 – 10,5%/năm”, ông Nguyên nói. Theo ông, mức lãi vay này vẫn có thể chấp nhận đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở chi phí vốn mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng. Một số NH, nhất là khối NH thương mại có vốn nhà nước đang có dấu hiệu thận trọng hơn trong cấp tín dụng. Dù chưa có thông báo chính thức, nhiều chi nhánh lựa chọn khách hàng kỹ lưỡng hơn và hạn chế giải ngân đối với các khoản vay mới.

Tương tự, ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút (TP.HCM), cho biết lãi suất vay của DN hiện vẫn ở mức gần 10%/năm và hầu như không thay đổi trong vài tháng qua. Do ký khoản vay kỳ hạn 6 tháng từ tháng 4 nên đến nay vẫn chưa đến thời điểm điều chỉnh lãi suất. Dù vậy, ông Phong nói ông không kỳ vọng lãi vay giảm bởi mặt bằng lãi suất huy động của nhiều NH vẫn ở mức trên 8%/năm, cao hơn so với vài tháng trước.

Để giảm chi phí vốn vay, bà Nguyễn Hoa, giám đốc một DN chế biến gỗ dăm xuất khẩu, thay vì vay kỳ hạn 6 tháng với lãi suất 8,5%/năm thì chọn vay kỳ hạn 2 tháng với lãi suất 7,9%/năm. Việc thay đổi thời gian vay buộc DN phải tính toán chặt chẽ dòng tiền để đảm bảo nguồn thu về đúng thời điểm thanh toán khoản vay, nếu không sẽ đối mặt rủi ro phát sinh nợ quá hạn. “Khoản vay hiện nay chủ yếu phục vụ vốn lưu động. Do chi phí vốn còn cao nên DN chưa dám vay để đầu tư mở rộng sản xuất vì rủi ro tài chính khá lớn”, bà Hoa nói thêm.

Diễn biến trên thị trường cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đang có xu hướng nhích lên. Vietcombank ghi nhận lãi suất cho vay bình quân tháng 5 đạt 7,2%/năm, đánh dấu tháng tăng thứ tư liên tiếp và cao hơn 0,8% so với tháng 2. Tại BIDV, lãi suất cho vay bình quân đến cuối tháng 5 ở mức 7,06%/năm. Agribank cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi lãi suất cho vay bình quân tăng lên 8,63%/năm, cao hơn khoảng 1,7% sau 5 tháng đầu năm. Theo biểu lãi suất của NH này, lãi suất cho vay ngắn hạn hiện từ 6,1%/năm, trong khi các khoản vay trung và dài hạn ở mức khoảng 7,8%/năm. Đây là mức lãi suất cho vay bình quân, đối với từng khoản vay sẽ có mức lãi cao thấp khác nhau, có những khoản vay lên trên 10%/năm.

Ở nhóm NH thương mại cổ phần, mặt bằng lãi suất cho vay cao hơn. Đơn cử tại ACB, lãi suất cho vay bình quân hiện ở mức 9,3%/năm, tăng 1,84 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. KienlongBank công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 6 là 8,84%/năm, tăng 0,12 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái, còn chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động ở mức 1,67%/năm.

Lãi suất cho vay mua nhà cũng đã nhích lên đáng kể. Nhiều NH hiện triển khai các gói tín dụng mua nhà với lãi suất ưu đãi quanh 10%/năm. Như BIDV áp dụng lãi suất từ

9,2 – 9,7%/năm trong 6 tháng đầu đối với khoản vay có thời hạn tối thiểu 36 tháng; với khoản vay từ 60 tháng trở lên, lãi suất ưu đãi là 10,3%/năm trong 18 tháng đầu. So với cùng kỳ năm trước, mức lãi suất ưu đãi này đã tăng khoảng 3 – 4%.

Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ VN, nói thẳng các NH công bố mức lãi suất bình quân, không có nghĩa mọi DN đều được vay với mức này. Trong thực tế, ngoài lãi suất danh nghĩa, DN còn phải tính đến chi phí định giá tài sản, bảo hiểm, phí tín dụng và một số điều kiện sử dụng dịch vụ đi kèm. Qua phản ánh bước đầu từ một số DN hội viên, mặt bằng lãi suất vay hiện có sự phân hóa khá lớn. Những DN có tình hình tài chính tốt, dòng tiền ổn định và tài sản bảo đảm đầy đủ có thể tiếp cận mức lãi suất thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nhiều DN nhỏ và vừa vẫn đang vay với lãi suất khoảng 8 – 10%/năm; một số khoản vay trung, dài hạn hoặc thuộc lĩnh vực được đánh giá có mức độ rủi ro cao có thể trên 10%/năm. “Đây mới là phản ánh bước đầu, chưa phải kết quả khảo sát diện rộng. Mức lãi suất thực tế còn phụ thuộc vào từng NH, kỳ hạn vay, tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và mức độ tín nhiệm của DN”, ông Hồng Anh lưu ý.

Với DN sử dụng nhiều vốn vay, theo ông Đặng Hồng Anh lãi suất tăng thêm 1 – 2% có thể làm giảm đáng kể biên lợi nhuận, thậm chí khiến một phương án đầu tư không còn hiệu quả. Lãi suất không chỉ là một con số trong hợp đồng tín dụng, chi phí này được tính vào từng sản phẩm, từng đơn hàng và từng quyết định đầu tư. Khi chi phí vốn cao, DN buộc phải trì hoãn đầu tư, thu hẹp sản xuất hoặc hạn chế tuyển dụng. Một khó khăn khác là nhiều chương trình ưu đãi chỉ áp dụng trong thời gian ngắn. Sau đó, lãi suất được điều chỉnh theo lãi suất cơ sở cộng biên độ, khiến DN khó dự báo chi phí vốn trong trung và dài hạn.

  Vingroup, Novaland lên kế hoạch lợi nhuận như thế nào?

Từ góc nhìn đó, ông Đặng Hồng Anh đề nghị các NH chủ động rà soát, giảm lãi suất đối với cả dư nợ hiện hữu của những khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả và sử dụng vốn đúng mục đích. Bên cạnh đó, cần hạn chế cạnh tranh huy động vốn bằng lãi suất cao, bởi khi chi phí đầu vào tăng, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị thu hẹp. Hội cũng đề nghị các NH đổi mới phương pháp thẩm định tín dụng, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, tăng đánh giá dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, dữ liệu thuế và tính khả thi của phương án kinh doanh. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. “DN hiểu điều hành lãi suất phải gắn với kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống. Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng, vốn phải đi vào sản xuất, kinh doanh với chi phí hợp lý. Lãi suất giảm thực chất, ổn định và minh bạch sẽ giúp DN mạnh dạn đầu tư, tạo thêm việc làm và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế”, ông Đặng Hồng Anh nhấn mạnh.

Theo dữ liệu từ NHNN, tính đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương đương bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỉ đồng cho nền kinh tế. Nhìn vào bảng cơ cấu dư nợ tín dụng, dòng vốn vẫn đi khá đúng định hướng. Trong đó, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chiếm 77% tổng dư nợ, riêng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,09%; DN nhỏ và vừa chiếm 19,84%; bất động sản chiếm 25,73%… Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, tương đương 2,79 triệu tỉ đồng được bơm ra nền kinh tế. Như vậy, những tháng còn lại của năm sẽ còn khoảng 1,39 triệu tỉ đồng chờ giải ngân.

Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, lãi vay chỉ giảm khi lãi huy động giảm. Thế nhưng trong bối cảnh huy động vốn khó khăn như hiện nay thì việc giảm lãi suất là khó. Đó là lý do lãi vay với các DN đã nhích lên. “Để tính lãi vay cho các DN, có thể tham chiếu theo nguyên tắc lãi suất huy động bằng mức lạm phát cộng khoảng 2%, còn lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động khoảng 3%. Với giả định lạm phát được kiểm soát quanh 4,5%, lãi suất huy động hợp lý sẽ vào khoảng 6,5 – 7%/năm, còn lãi suất cho vay dao động 9 – 10%/năm. Đây là mức lãi suất mà các DN lớn có thể tiếp cận”, ông Hiếu phân tích. Tuy nhiên DN nhỏ và vừa nhiều khả năng phải vay với mức lãi suất cao hơn đáng kể do mức độ rủi ro tín dụng cao hơn.

Ông Nguyễn Trí Hiếu thừa nhận điều kiện hiện nay không thực sự thuận lợi để vừa hạ lãi suất, vừa hỗ trợ DN, vừa kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh đó, DN cần chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp, tính toán kỹ dòng tiền và chấp nhận mặt bằng lãi suất hiện nay thay vì kỳ vọng lãi suất sẽ sớm giảm trở lại.

TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng: Thay vì tập trung vào mục tiêu giảm lãi suất bằng mọi giá, cần ưu tiên các giải pháp tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định và có dư địa giảm một cách bền vững. Trước hết là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát. Đồng thời, tín dụng cần được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và những ngành nghề có mức độ rủi ro thấp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn. Một giải pháp quan trọng khác là đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công. Khi nguồn vốn đầu tư công được giải ngân hiệu quả, dòng tiền sẽ quay trở lại hệ thống NH, góp phần cải thiện thanh khoản và giảm áp lực huy động vốn. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đối với hộ kinh doanh và DN, đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế, qua đó giúp DN bổ sung nguồn vốn lưu động. Việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, kể cả trong hoạt động chi trả bồi thường, giải phóng mặt bằng, cũng được xem là giải pháp góp phần đưa dòng tiền quay trở lại hệ thống NH, đồng thời giảm chi phí xã hội và hạn chế các rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt. Ngoài ra, cần rà soát các quy định về ký quỹ đối với một số ngành nghề để phù hợp hơn với thực tiễn, trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của từng nhóm DN nhằm giảm áp lực về dòng tiền nhưng vẫn bảo đảm an toàn quản lý.

  Loạt quy định mới về thuế giá trị gia tăng có hiệu lực từ 20.6

Ông Cấn Văn Lực phân tích thời gian qua NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ thanh khoản và tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, như điều chỉnh một số quy định liên quan đến hoạt động tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro. Đối với các NH thương mại, dư địa giảm lãi suất cho vay chủ yếu đến từ việc cắt giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và nâng cao hiệu quả quản trị. Trên cơ sở đó, các NH có thể giảm lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực ưu tiên hoặc các DN gặp khó khăn nhưng có triển vọng phục hồi, thay vì giảm đồng loạt trên toàn thị trường.

Ông Nguyễn Thế Minh – Giám đốc Khối NH đầu tư, Phó giám đốc khối kinh doanh Công ty CP chứng khoán An Bình – ABS, cũng đồng quan điểm: Từ đầu năm đến nay, NHNN đã hỗ trợ thông qua thị trường mở (OMO) và thị trường liên NH khá nhiều nhưng dư địa giảm lãi suất hiện không còn nhiều. Lý do là từ cuối năm ngoái đến nay, huy động vốn từ các NH tăng chậm hơn nhiều. Do vậy giải pháp trong giai đoạn này là các NH tăng bộ đệm vốn, trong đó tăng vốn điều lệ lên để có thể duy trì nguồn vốn cho vay. “Hàng loạt NH tăng vốn gần đây hy vọng sẽ tạo bộ đệm cho hệ thống nhà băng”, ông Minh dẫn chứng.

Một giải pháp khác đó là phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu nước ngoài. Điều kiện huy động vốn nước ngoài hiện nay thuận lợi hơn năm 2024 khi lãi suất USD ở mức 4,5 – 5%/năm, thêm vào đó tỷ giá năm nay lại ổn định, nếu có tăng lên thì cao lắm khoảng 2%. Do vậy, huy động vốn từ nước ngoài hiện nay sẽ rẻ hơn so với trong nước. Ông Nguyễn Thế Minh lưu ý dù giải pháp nào đi nữa cũng cần thời gian nên từ nay đến cuối năm lãi suất cho vay ổn định ở mức hiện nay cũng là tốt. Lãi suất cho vay không thể tăng mạnh vì yêu cầu hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế đòi hỏi nguồn vốn cao.

Tin Gốc: Thanh Niên