Ngày 15/6, HĐND TP Hà Nội thông qua nhóm nghị quyết lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường, trong đó có Đề án vùng phát thải thấp trong vành đai 1.
Theo đề án, giai đoạn 1 từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, thành phố thí điểm vùng phát thải thấp ở khu vực 1, 2 phường Hoàn Kiếm. Khu vực 1 được bao quanh bởi 11 tuyến phố gồm: Tràng Tiền, Hàng Khay, Lê Thái Tổ, Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Buồm, Mã Mây, Hàng Bạc, Hàng Mắm, Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ.
Khu vực 2 bao quanh bởi các tuyến phố: Hàng Đậu, Phùng Hưng, Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật.
Ở giai đoạn 1, thành phố mong muốn hình thành mô hình và tổ chức hoạt động bước đầu vùng phát thải thấp, nâng cao nhận thức, mức độ sẵn sàng tham gia của người dân, tổ chức, doanh nghiệp và thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá hiệu quả.
Các quy định hạn chế phương tiện được áp dụng theo hướng tuyên truyền, vận động, khuyến khích chuyển đổi. Song song với đó, thành phố hoàn thiện các cơ chế, chính sách, hạ tầng cho việc triển khai khu vực phát thải thấp từ giai đoạn 2.
Do đó tại khu vực 1, thành phố tiếp tục triển khai các biện pháp của khu phố đi bộ: Cấm toàn bộ xe môtô, xe gắn máy, ôtô các loại từ 19h đến 24h các ngày thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Xe ưu tiên và phương tiện có giấy phép lưu thông được phép hoạt động 24h/24h.
Thành phố khuyến khích hạn chế hoạt động xe môtô, xe gắn máy chạy xăng với xe ôm công nghệ. Với xe xăng không kinh doanh, thành phố khuyến khích hạn chế lưu thông xe môtô sản xuất, nhập khẩu trước năm 2008 và xe gắn máy sản xuất, nhập khẩu trước 2016; đồng thời khuyến khích chuyển đổi phương tiện xanh, sử dụng phương tiện công cộng.
Với xe buýt, ôtô xăng chở học sinh, chở cán bộ công nhân viên đi làm, thành phố khuyến khích chuyển đổi xe sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường, xe đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên.
Ôtô xăng trên 16 chỗ (trừ xe buýt; ôtô chở học sinh, chở cán bộ công nhân viên đi làm), thành phố chỉ cho phép hoạt động ngoài giờ cao điểm (6h-9h và 16h-19h30), trường hợp chạy trong giờ cao điểm phải được công an thành phố chấp thuận bằng văn bản; khuyến khích chuyển đổi sang xe sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường, xe đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên.
Với ôtô xăng dưới 16 chỗ và xe pick-up, thành phố khuyến khích chuyển đổi sang phương tiện giao thông công cộng, giao thông phi cơ giới; xe cơ giới sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường; xe đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên.
Ôtô tải dưới 2 tấn chỉ được phép hoạt động ngoài giờ cao điểm, trường hợp chạy trong giờ cao điểm phải được công an thành phố chấp thuận bằng văn bản; khuyến khích chuyển đổi xe cơ giới sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường, xe đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên.
Ôtô tải từ 2 đến 3,5 tấn chỉ được phép hoạt động từ 21h đến 6h sáng hôm sau; ngoài khung giờ này phải được công an thành phố chấp thuận bằng văn bản. Thành phố khuyến khích chuyển đổi xe cơ giới sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, thân thiện môi trường, xe đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên.
Ôtô tải trên 3,5 tấn chỉ được phép hoạt động từ 21h đến 6h hôm sau, ngoài khung giờ trên phải được công an thành phố hoặc Sở Xây dựng chấp thuận.
Giai đoạn 2 từ ngày 1/1 đến 31/12/2027, thành phố mở rộng khu vực thí điểm tại khu vực 3, gồm phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, được bao quanh bởi 14 tuyến phố: Nguyễn Du, Hàn Thuyên, Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Hàng Đậu, Cửa Đông, Lý Nam Đế, Tôn Thất Thiệp, Điện Biên Phủ, Hàng Bông, Cửa Nam và Lê Duẩn.
Sau giai đoạn tuyên truyền, vận động và chuẩn bị hạ tầng, ở giai đoạn 2, thành phố bắt đầu siết quy định lưu thông với phương tiện. Cụ thể, Hà Nội cấm xe ôm công nghệ chạy xăng lưu thông; cấm ôtô các loại không đạt quy chuẩn khí thải mức 4 trở lên; cấm ôtô tải trên 3,5 tấn.
Giai đoạn 3 từ ngày 1/1/2028 đến 31/12/2029, thành phố mở rộng vùng phát thải thấp ra toàn bộ vành đai 1 (Khu vực 4) và duy trì thực hiện từ ngày 1/1/2030 trở đi. Vành đai 1 gồm 9 phường, được bao quanh bởi các tuyến phố: Hoàng Cầu, Đê La Thành, Ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Đại Cồ Việt, Trần Khát Chân, Nguyễn Khoái, Trần Khánh Dư, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ, Nghi Tàm, Âu Cơ, An Dương Vương, Lạc Long Quân, Bưởi và Cầu Giấy.
Ở giai đoạn này, cùng với việc tiếp tục hạn chế phương tiện của giai đoạn 1 và 2, thành phố đồng thời bổ sung việc cấm xe môtô, xe gắn máy sử dụng xăng (không phải xe ôm công nghệ) không đạt quy chuẩn khí thải mức 3 trở lên.
Theo Luật Thủ đô, vùng phát thải thấp là khu vực được xác định để hạn chế các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường nhằm cải thiện chất lượng không khí. Thành phố triển khai Đề án vùng phát thải thấp nhằm kiểm soát, giảm thiểu khí thải từ hoạt động giao thông, cải thiện chất lượng môi trường không khí, nhất là bụi mịn PM2.5; đồng thời góp phần giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện các cam kết của Việt Nam về ứng phó với biến đổi khí hậu.
Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2016-2020 cho thấy bụi PM2.5 tại Hà Nội cao gần gấp đôi quy chuẩn quốc gia, bụi PM10 vượt 1,3-1,6 lần. Phương tiện giao thông được xác định là nguồn phát thải lớn nhất, chiếm 58-74% tùy thời điểm, trong đó xe máy là tác nhân chính.
Toàn thành phố hiện có hơn 8 triệu phương tiện (gồm 1,1 triệu ôtô, 6,9 triệu xe máy) và khoảng 1,2 triệu phương tiện từ các tỉnh thành khác lưu thông mỗi ngày. Trong đó khu vực vành đai 1 có khoảng 600.000 xe môtô, xe gắn máy và khoảng 180.000 ôtô, phần lớn sử dụng nhiên liệu hóa thạch, nhiều xe đã sử dụng lâu năm, công nghệ lạc hậu, tiêu chuẩn khí thải thấp, dẫn đến mức phát thải cao.
Quan điểm trên được PGS-TS Vũ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giao thông Vận tải - Đại học Việt Đức, nêu tại tọa đàm về bài toán phát triển xe buýt ở TP HCM do Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn và Viện Sáng kiến Việt Nam tổ chức ngày 15/4. Sự kiện diễn ra trong bối cảnh thành phố chuẩn bị miễn phí xe buýt để khuyến khích người dân chuyển sang phương tiện công cộng.
"Mức độ cung cấp hạ tầng và số lượng xe buýt trên đầu người ở TP HCM quá thấp, trở thành một trong những điểm yếu lớn nhất của hệ thống", ông Tuấn nói. So với các đô thị tương đồng như Jakarta hay Bangkok - nơi có khoảng 900-1.000 xe buýt trên mỗi triệu dân để đáp ứng 15-20% nhu cầu đi lại, TP HCM hiện mới đạt chưa tới 1/3 mức này.
Theo ông Tuấn, sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, dân số TP HCM tăng lên khoảng 14-15 triệu người, song toàn hệ thống mới có hơn 2.400 xe buýt. Quy mô này khiến nhiều khu vực vẫn "trắng" dịch vụ, buộc người dân tiếp tục phụ thuộc xe cá nhân. Vì vậy, tỷ lệ đáp ứng của giao thông công cộng chỉ đạt khoảng 4-5%, kể cả khi tính thêm metro Bến Thành - Suối Tiên.
Với tỷ lệ trên, ông cho rằng hệ thống hiện mới dừng ở mức đáp ứng nhu cầu đi lại tối thiểu cho nhóm yếu thế hoặc người không có phương tiện riêng, chưa đủ sức cạnh tranh với xe cá nhân.
Để nâng tỷ lệ đảm nhận lên 15-20% theo mục tiêu, cùng với phát triển thêm metro, TP HCM cần mở rộng số lượng xe buýt ít nhất gấp 3 lần, lên khoảng 14.000-15.000 xe. Mục tiêu là tăng độ phủ, giúp người dân dễ tiếp cận và hình thành thói quen sử dụng, từ đó chính sách miễn vé mới phát huy hiệu quả.
TS Huỳnh Thế Du, thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, cũng cho rằng quy mô vận tải công cộng chủ lực của thành phố hiện quá thấp so với nhu cầu. Toàn hệ thống mới có gần 20 km metro và hơn 2.400 xe buýt; thậm chí so với một số giai đoạn trước, số lượng xe còn bị thu hẹp.
Theo ông, dù thành phố đang có tham vọng mở rộng mạnh, mức tăng cần đủ lớn, có thể gấp 3-4 lần mới tạo chuyển biến rõ rệt.
Ông Du đánh giá chính sách miễn vé sẽ tạo tác động tích cực, nhưng để đạt hiệu quả tổng thể cần thêm các giải pháp "kéo" người dân sử dụng: nâng chất lượng dịch vụ, bảo đảm xe đúng giờ, tần suất cao, sạch sẽ, an toàn, đồng thời tối ưu độ phủ để người dân chỉ cần đi bộ khoảng 500 m là tiếp cận được trạm dừng.
Ngoài ra, xe buýt cần kết nối tốt hơn với metro, xe đạp và hạ tầng đi bộ; hệ thống vé phải thông minh, liên thông và mở rộng thanh toán điện tử. Về dài hạn, thành phố cần đẩy nhanh TOD và ứng dụng công nghệ để hình thành hệ sinh thái giao thông công cộng hiệu quả.
Song song với đó là các giải pháp "đẩy" như thu phí ùn tắc, tăng phí đỗ xe hoặc điều chỉnh thuế nhiên liệu nhằm hạn chế xe cá nhân.
Tại tọa đàm, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP HCM Bùi Hòa An cho biết thành phố hiện có 180 tuyến xe buýt, chủ yếu nằm ở địa bàn trước sáp nhập nên phân bổ chưa đều. Ngoài độ phủ hạn chế, hệ thống còn bất cập về khả năng đúng giờ, kết nối và tiếp cận.
Một trong những giải pháp quan trọng, theo ông, là tổ chức làn ưu tiên xe buýt trên một số trục lớn để cải thiện tốc độ và tính đúng giờ. Khi dịch vụ ổn định và thuận tiện hơn, xe buýt mới có thể từng bước thay đổi thói quen dùng xe cá nhân.
Bổ sung thêm, ông Phạm Ngọc Dũng, Giám đốc Trung tâm Quản lý giao thông công cộng, cho biết thành phố đang rà soát, điều chỉnh lại mạng lưới, đồng thời phát triển các tuyến xe quy mô nhỏ, sử dụng phương tiện xanh để đi sâu vào khu dân cư, giúp người dân tiếp cận thuận tiện hơn.
Một trong những hướng mới đang được nghiên cứu là DRT (giao thông đáp ứng theo nhu cầu). Mô hình sử dụng xe nhỏ từ 9-16 chỗ, vận hành linh hoạt về lộ trình và thời gian, phù hợp các tuyến đường hẹp, khu vực hẻm - nơi xe buýt cỡ lớn khó tiếp cận.
Ngoài ra, thành phố cũng dự kiến mở thêm nhiều tuyến kết nối các khu vực mở rộng như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) và sân bay Long Thành, qua đó tăng độ phủ toàn hệ thống.
Nhiều năm qua, những chuyến xe chở đồng đội trở về đã nối dài hành trình bền bỉ, thấm đẫm nghĩa tình. Hành trình ấy được tiếp nối bằng nỗ lực không mệt mỏi của lực lượng chức năng VN và sự giúp đỡ chân thành của nhân dân Lào anh em.
Giữa đại ngàn Trường Sơn, nơi mây trắng quẩn quanh trên những tán rừng già, nơi từng tấc đất thấm đẫm mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ, tình nghĩa Việt - Lào luôn bền bỉ. Trong chiến tranh, nhân dân 2 nước đã kề vai sát cánh, khi tiếng súng lùi xa thì nghĩa tình ấy lại tiếp tục được vun đắp bằng những việc làm lặng thầm mà cao cả: giúp nhau tìm lại những người đã ngã xuống.
Bên gốc một cây cổ thụ ở bản Na Mạc Cừa (H.Assaphon, tỉnh Savannakhet, Lào), già làng Bunlot Homkhamnhan chậm rãi kể về ký ức đã hơn nửa thế kỷ. Nơi ông đang đứng ngày trước từng là trận địa khốc liệt với nhiều chiến sĩ quân tình nguyện VN hy sinh. "Chúng tôi coi bộ đội VN như anh em ruột thịt. Hồi chiến tranh, họ bảo vệ bản làng chúng tôi. Nay hòa bình rồi, giúp đưa họ về với gia đình là điều chúng tôi phải làm. Làm bằng cả tấm lòng", giọng ông chùng xuống.
Với người dân các tỉnh Savannakhet, Salavan hay Champasak, việc dẫn đường cho đội quy tập, cung cấp thông tin hoặc trực tiếp cùng bộ đội VN băng rừng, lội suối tìm hài cốt liệt sĩ đã là chuyện quá quen thuộc. Nhiều người dân Lào vẫn nhớ như in những vị trí chôn cất tạm thời của bộ đội VN từ hàng chục năm trước. Họ nhớ từng gốc cây, con suối, sườn đồi…
Thượng úy Phongphasong Kensuphon, trợ lý Ban Chỉ huy quân sự H.Assaphon, chia sẻ rằng suốt nhiều năm qua, chính quyền và nhân dân Lào đã cung cấp hàng nghìn thông tin quan trọng. Nhờ đó, hàng nghìn hài cốt liệt sĩ đã được tìm thấy. "Những thông tin ấy có khi chỉ là một lời kể, một ký ức mơ hồ, nhưng khi được ghép nối lại trở thành "bản đồ" dẫn đường cho những cuộc tìm kiếm đầy gian nan", thượng úy Phongphasong Kensuphon tâm đắc nói.
Cũng nhờ tấm lòng của những người bạn Lào son sắt, nhất là giữa đại ngàn, những người lính VN được tiếp thêm động lực trong hành trình tìm đồng đội đầy gian nan. Những bữa cơm, những đêm nghỉ chân trong nhà sàn, những câu chuyện kể bên bếp lửa… đã tiếp thêm sức mạnh để hành trình tìm kiếm không bị đứt đoạn.
Chiến tranh đã lùi xa, nhiều khu vực từng được xác định là nơi chôn cất liệt sĩ nay đã bị rừng già phủ kín. Mưa rừng tây Trường Sơn, thời gian và sự biến đổi của thiên nhiên đã làm mất đi những dấu tích ban đầu. Có những chuyến đi kéo dài hàng tháng trời mà vẫn chưa tìm được kết quả... Thế nhưng, với những người lính Đội quy tập 584, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, hành trình ấy chưa bao giờ dừng lại.
Thiếu tá Nguyễn Công Quyền, một quân nhân chuyên nghiệp của Đội quy tập 584, chia sẻ mỗi khi tìm thấy một hài cốt liệt sĩ, cảm giác không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ mà còn là sự thanh thản. "Chúng tôi vui mừng khôn tả vì biết ngay lúc này đây, ở quê hương VN mình sẽ có thêm một gia đình nào đó thôi chờ đợi mòn mỏi, họ sẽ có cơ hội được "gặp" lại người thân…", thiếu tá Quyền nói.
Từ năm 1984 đến nay, Đội quy tập 584 đã kiên trì băng rừng, vượt suối trên đất bạn Lào, tìm kiếm và quy tập hơn 5.500 hài cốt liệt sĩ. Con số ấy không chỉ là thành quả, mà còn là minh chứng cho sự bền bỉ và lòng tri ân không bao giờ vơi cạn.
Trung tá Ngô Thanh Liêm, Đội trưởng Đội quy tập 584, khẳng định nếu không có sự giúp đỡ của phía bạn Lào, từ chính quyền, lực lượng vũ trang đến người dân, thì hành trình tìm kiếm sẽ không thể đạt được kết quả như hôm nay. Mỗi thông tin, mỗi lời chỉ dẫn của bà con đều quý giá như một "tọa độ ký ức".
Trên tất cả, điều giữ chân những người lính ở lại với công việc đầy gian nan này không chỉ là trách nhiệm, mà còn là lời hứa với những người đã ngã xuống, rằng họ sẽ không bị lãng quên. "Có nhiều ngày hành quân dưới cái nắng gắt, có những đêm ngủ rừng giữa tiếng côn trùng và sương lạnh, có những lúc tưởng chừng phải quay về tay trắng... Nhưng rồi, chỉ cần một tín hiệu nhỏ, một mảnh di vật, một đoạn xương được phát hiện… tất cả lại bừng lên hy vọng. Chúng tôi lại động viên nhau tiếp tục sứ mệnh của mình", trung tá Liêm chia sẻ.
Những buổi lễ đón hài cốt liệt sĩ là các chiến sĩ quân tình nguyện và các chuyên gia VN hy sinh tại Lào luôn diễn ra hết sức trang trọng, thiêng liêng. Ngay từ cửa ngõ biên giới Lao Bảo, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị phối hợp tỉnh Savannakhet (Lào) phụ trách lễ đón với sự tham gia của lãnh đạo 2 bên, lực lượng vũ trang và nhân dân 2 tỉnh với rực rỡ cờ hoa.
Tại đây, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân tỉnh Quảng Trị xếp hàng ngay ngắn, nghiêm trang để đón các liệt sĩ về với quê hương. Sau lễ bàn giao và nghi thức phủ Quốc kỳ VN, hài cốt liệt sĩ được di chuyển lên xe và đưa về VN tổ chức lễ truy điệu, an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9.
Trong lễ đón gần nhất diễn ra hồi tháng 5.2025, đại tá Nguyễn Bá Duẩn, khi ấy là Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị (cũ), xúc động phát biểu: "Hôm nay, trên đường về rợp bóng cờ hoa của 2 nước Việt - Lào, chúng tôi đón các anh về với đất mẹ…".
Mỗi lần đón nhận hài cốt liệt sĩ là một lần Quảng Trị lặng lẽ nhắc nhớ về quá khứ. Những hàng bia trắng ở Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9 hay Nghĩa trang liệt sĩ Ba Dốc không chỉ là nơi yên nghỉ, mà còn là nơi hội tụ của ký ức, của lòng biết ơn và của trách nhiệm với lịch sử. Hành trình "đưa các anh về từ đất bạn" có thể còn kéo dài. Vẫn còn đó những người lính chưa được tìm thấy, những gia đình vẫn chờ đợi. Nhưng với những gì đã và đang diễn ra, có thể tin rằng, sẽ sớm có thêm những cuộc "đoàn tụ".