Theo Hãng tin AFP, trong đoạn video đăng trên mạng xã hội X ngày 28-5, Đại sứ Israel tại Liên hợp quốc Danny Danon gọi quyết định đưa Israel vào danh sách đen liên quan cáo buộc sử dụng bạo lực tình dục tại các khu vực xung đột là “điều vô lý”.
“Tổng thư ký Antonio Guterres và đội ngũ của ông ấy tiếp tục lan truyền những điều giả dối chống lại Israel. Việc xếp chúng tôi cùng danh sách với các tay súng Hamas là điều không thể chấp nhận”, ông Danon tuyên bố.
Phái bộ Israel tại Liên hợp quốc thông báo sẽ không duy trì bất kỳ liên lạc nào với văn phòng Tổng thư ký chừng nào ông Guterres còn tại nhiệm. “Chúng tôi đã chấm dứt quan hệ với vị tổng thư ký này”, ông Danon nhấn mạnh.
Đáp lại, người phát ngôn của Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Stephane Dujarric, cho biết phía tổ chức đã ghi nhận các phát biểu từ phía Israel. “Về phần mình, cánh cửa của tổng thư ký vẫn luôn rộng mở”, ông Dujarric nói.
Theo AFP, báo cáo thường niên của Tổng thư ký Liên hợp quốc về bạo lực tình dục trong xung đột thường được gửi trước cho các quốc gia liên quan trước khi công bố chính thức.
Hồi tháng 8 năm ngoái, báo cáo này từng cảnh báo Israel có thể bị đưa vào danh sách các bên bị nghi ngờ hoặc chịu trách nhiệm về bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. Hamas hiện cũng nằm trong danh sách này.
Liên hợp quốc cho biết họ có “thông tin đáng tin cậy” về các hành vi bạo lực tình dục bị cáo buộc do lực lượng an ninh Israel thực hiện đối với tù nhân Palestine trong các nhà tù và cơ sở giam giữ khác.
Cơ quan này cũng cho hay các thanh tra viên Liên hợp quốc đã không được phép tiếp cận những địa điểm trên.
Đại sứ Danon ngay lập tức bác bỏ cáo buộc, khẳng định Israel từng mời đại diện Liên hợp quốc tới kiểm tra thực tế, nhưng phía tổ chức “đã không tới”.
Giới chức Israel nhiều lần chỉ trích ông Antonio Guterres cùng nhiều quan chức Liên hợp quốc vì lên án các cuộc không kích của Israel tại Gaza. Năm 2024, ông Guterres từng bị Israel tuyên bố là “người không được hoan nghênh”.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Loạt tàu chở 7 triệu thùng dầu Iran đi qua Hormuz bất chấp phong tỏa từ Mỹ

Bốn tàu chở dầu treo cờ Iran đã đi qua eo biển Hormuz vào ngày 1/6, đánh dấu lần đầu tiên kể từ ngày 15/4 và sau khi Mỹ phong tỏa các cảng của Tehran, theo công ty theo dõi hàng hải Kpler.
Trong dữ liệu công bố ngày 4/6, Kpler ghi nhận sự di chuyển của các tàu Hilda I, Amber, Silvia 1 và Happiness I, chở tổng cộng 7 triệu thùng dầu.
Tất cả số dầu này được bốc lên tàu vào giữa tháng 4 tại đảo Kharg, cảng xuất khẩu dầu mỏ chính của Iran, nơi thông thường xử lý khoảng 90% lượng dầu thô xuất khẩu của phía Tehran.
Các tàu đã đi qua eo biển Hormuz vào ngày 1/6 trong tình trạng tắt thiết bị phát đáp AIS. Kpler chủ yếu dựa vào hình ảnh vệ tinh để theo dõi các tàu vận chuyển nguyên liệu thô.
Bốn tàu chở dầu này thường vận chuyển dầu thô Iran tới các khu vực khác, nơi hàng hóa được chuyển từ tàu này sang tàu khác trên biển trước khi được đưa tới khách hàng cuối cùng. Theo Reuters, đây được xem là phương thức nhằm né tránh các lệnh trừng phạt quốc tế.
Ban đầu, 4 tàu chở dầu trên vẫn tiếp tục hoạt động bất chấp xung đột với Israel và Mỹ, nhưng đã ngừng hoạt động kể từ ngày 13/4, khi Washington áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của Iran nhằm đáp trả việc Tehran siết kiểm soát eo biển Hormuz.
Theo Kpler, 3 tàu chở dầu khác có liên hệ với Iran đã từng phá vỡ lệnh phong tỏa vào ngày 15/4. Kể từ đó đến nay, không có tàu nào khác thực hiện điều tương tự.
Quân đội Mỹ thường xuyên thông báo các hành động nhằm vào những tàu chở dầu cố gắng vi phạm lệnh phong tỏa.
Ngày 2/6, Mỹ tuyên bố đã vô hiệu hóa một tàu chở dầu bằng cách bắn vào khoang động cơ để ngăn con tàu tiếp cận đảo Kharg. Đây là chiếc tàu thứ 6 bị lực lượng quân sự Mỹ làm hư hại trong khuôn khổ chiến dịch phong tỏa.
Trước đó, đã có những đồn đoán về áp lực mà Iran phải đối mặt khi Mỹ siết chặt phong tỏa. Phần lớn dầu của Iran mắc kẹt trong vịnh Ba Tư do mệnh lệnh này, buộc Tehran phải bơm lượng dầu tồn đọng vào các bể chứa đang nhanh chóng đầy lên cũng như lên một đội tàu neo đậu gần đó.
Các quan chức Mỹ đã đặt cược rằng khi Iran cạn kiệt nơi lưu trữ dầu, nước này sẽ phải đối mặt với việc đóng cửa các mỏ dầu với chi phí cao và rủi ro lớn, buộc Tehran phải nhượng bộ trong đàm phán về chương trình hạt nhân cũng như cuộc đối đầu rộng lớn hơn.
Cuối tháng 4, Tổng thống Donald Trump cho biết Iran chỉ còn khoảng 3 ngày trước khi các đường ống dẫn dầu có nguy cơ phát nổ do tắc nghẽn. Vào giữa tháng 5, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent nói rằng kho chứa dầu của Iran đã đầy và Tehran sẽ phải ngừng sản xuất dầu.
Tuy nhiên, những ước tính này cho tới nay chưa thành hiện thực, cho thấy Iran vẫn đang tìm được cách để thích ứng với áp lực ngày càng gia tăng từ Mỹ, nhằm thể hiện sự cứng rắn chiến lược trong các cuộc đàm phán với Washington.
Tin Gốc: Dân Trí

"Đã có những đề xuất mới, trong đó có hai bên ngừng các cuộc tập kích tầm xa. Rõ ràng đề xuất được đưa ra vì các đòn phản công của chúng ta mạnh mẽ hơn, gây tác động lớn hơn và thẳng thắn mà nói là mang tính hủy diệt cao hơn", Tổng thống Vladimir Putin cho biết trong cuộc phỏng vấn với truyền hình nhà nước Nga hôm 28/6.
Theo ông Putin, Ukraine còn đưa ra một đề xuất là giới hạn giao tranh ở 4 tỉnh mà Nga tuyên bố sáp nhập hồi năm 2022, gồm Donetsk, Lugansk, Zaporizhzhia và Kherson, chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở các vùng lãnh thổ khác.
Tổng thống Putin cho rằng thỏa thuận này sẽ cho phép quân đội Ukraine rút lực lượng khỏi tỉnh Mykolaiv, Dnipropetrovsk, Kharkov, Sumy và một số khu vực ở biên giới để triển khai đến 4 vùng nêu trên. "Ukraine dường như tin rằng đây có thể là phương án giúp họ đối phó tình trạng thiếu nhân lực trầm trọng, song cứu giúp họ không nằm trong kế hoạch của chúng ta", ông nói.
Lãnh đạo Nga cũng bày tỏ kỳ vọng nỗ lực ngoại giao do Mỹ dẫn đầu nhằm chấm dứt xung đột sẽ được nối lại, cũng như đặc phái viên Mỹ Jared Kushner và Steve Witkoff sẽ một lần nữa thăm Moskva sau khi "giai đoạn nóng" trong xung đột giữa Mỹ - Iran được giải quyết.
Tổng thống Putin dường như đồng tình với bình luận mà Ngoại trưởng Marco Rubio đưa ra gần đây, trong đó quan chức Mỹ nói rằng không có thỏa thuận nào được ký trong hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo hai nước tại Alaska năm ngoái, dù hai bên đã thảo luận về các đề xuất từ Washington.
"Không ai ký kết gì cả, nhưng chúng tôi đã trao đổi về một số khả năng nhằm chấm dứt xung đột Ukraine", ông cho hay.
Ông Putin cho biết Mỹ đã đề nghị có những sự nhượng bộ và nội dung này được nêu trong những đề xuất mà Washington đưa ra trong tiến trình đàm phán. Tổng thống Nga gợi ý rằng người đồng cấp Belarus Alexander Lukashenko có thể hỗ trợ nỗ lực hòa đàm, sau khi hai lãnh đạo có cuộc đối thoại kéo dài hai ngày hồi tuần trước.
Văn phòng Tổng thống Ukraine chưa đưa bình luận về thông tin.
Nga và Ukraine thường xuyên tiến hành các cuộc tập kích tầm xa nhằm vào lãnh thổ của nhau kể từ đầu xung đột. Trong những tuần gần đây, Kiev liên tiếp tập kích hệ thống hậu cần, cơ sở năng lượng và những mục tiêu ở bán đảo Crimea và khu vực mà Moskva giành được trong chiến sự, cũng như các vùng đô thị nằm sâu trong lãnh thổ Nga.
Các đợt tấn công bằng UAV đã khiến nhà máy lọc dầu Moskva phải ngừng hoạt động, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nhiên liệu tại Nga. Reuters dẫn nguồn thạo tin cho biết nhà máy này cần ít nhất 6 tháng để sửa chữa trước khi có thể hoạt động trở lại.
Trong cuộc họp với các bộ trưởng tại Điện Kremlin hôm 28/6, Tổng thống Putin thừa nhận chiến dịch tập kích của Ukraine đã gây ra tình trạng "thiếu hụt nhiên liệu nhất định" trong ngắn hạn ở nhiều vùng tại Nga, thêm rằng chính phủ đang giải quyết vấn đề này.
Những cuộc tấn công quy mô lớn của Nga cũng gây nhiều tổn thất cho Ukraine. Hồi đầu tháng, 23 người đã thiệt mạng và 130 người bị thương sau cuộc tập kích bằng hàng loạt tên lửa siêu vượt âm, đạn đạo, hành trình và UAV của Nga, trong đó nhiều cơ sở quốc phòng và công nghiệp ở thủ đô Kiev đã hứng thiệt hại nặng.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
4 yếu tố quyết định cục diện chiến sự Nga - Ukraine giai đoạn 2026-2027

Sau hơn 4 năm kể từ khi xung đột Nga - Ukraine bùng phát toàn diện, chiến trường Đông Âu đang bước vào một giai đoạn mang tính quyết định đối với tương lai an ninh châu Âu cũng như trật tự địa chính trị quốc tế.
Nếu giai đoạn 2022-2024 được đặc trưng bởi những chiến dịch phản công quy mô lớn, các cuộc tranh giành lãnh thổ quyết liệt và những biến động khó lường trên chiến trường, thì từ đầu năm 2025 đến nay, cuộc chiến chuyển dần sang hình thái “chiến tranh tiêu hao” kéo dài, nơi sức mạnh quân sự không còn là yếu tố duy nhất quyết định thắng bại.
Nhiều trung tâm nghiên cứu hàng đầu của phương Tây và Nga cho rằng cục diện xung đột Nga - Ukraine giai đoạn 2026-2027 sẽ không được định đoạt bởi một trận đánh mang tính bước ngoặt, mà phụ thuộc vào năng lực duy trì chiến tranh lâu dài của mỗi bên.
Trong bối cảnh đó, 4 yếu tố nổi lên như những biến số chiến lược có khả năng định hình toàn bộ tiến trình xung đột gồm: nguồn nhân lực quân sự, cuộc cách mạng công nghệ UAV, sức chịu đựng của nền kinh tế Nga và khả năng duy trì viện trợ phương Tây dành cho Ukraine.
Nhân lực là biến số quyết định của “chiến tranh tiêu hao”
Giới chuyên gia nhận định, trong mọi cuộc chiến tranh hiện đại, con người vẫn là yếu tố trung tâm quyết định hiệu quả sử dụng vũ khí, công nghệ và năng lực tác chiến. Đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine, vấn đề nhân lực đang nổi lên như thách thức chiến lược lớn nhất của cả hai bên khi chiến tranh bước sang năm thứ năm.
Bản chất của chiến tranh tiêu hao là cuộc cạnh tranh về khả năng duy trì lực lượng chiến đấu trong thời gian dài. Sau hàng triệu lượt quân nhân được huy động và hàng trăm nghìn thương vong tích lũy từ năm 2022 đến nay, cả Nga và Ukraine đều phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn trong việc bổ sung quân số, bảo đảm chất lượng huấn luyện và duy trì tinh thần chiến đấu của lực lượng tiền tuyến.
Nga vẫn sở hữu lợi thế đáng kể về quy mô dân số và nguồn dự bị quân sự. Với dân số trên 140 triệu người, Nga có dư địa huy động lớn hơn Ukraine. Những năm qua, chính quyền Nga triển khai hàng loạt biện pháp nhằm duy trì nguồn tuyển quân, bao gồm tăng lương thưởng quân nhân hợp đồng, mở rộng tuyển mộ tại các khu vực ngoài trung tâm và đẩy mạnh các chương trình khuyến khích tình nguyện nhập ngũ.
Tuy nhiên, lợi thế về dân số không đồng nghĩa với việc Nga không gặp khó khăn. Việc duy trì lực lượng lớn trên nhiều mặt trận làm gia tăng áp lực đối với thị trường lao động và nền kinh tế dân sự. Nhiều ngành công nghiệp thiếu lao động có tay nghề do một bộ phận đáng kể lực lượng lao động đã chuyển sang phục vụ quân đội hoặc các nhà máy quốc phòng. Một số chuyên gia Nga thừa nhận rằng vấn đề nhân lực đang trở thành điểm nghẽn đối với cả nền kinh tế và quân đội trong dài hạn.
Về phía Ukraine, thách thức thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Sau nhiều năm chiến tranh, nguồn nhân lực quân sự của Kiev bị thu hẹp bởi thương vong, làn sóng di cư và sự suy giảm dân số trong độ tuổi lao động. Những cuộc tranh luận gay gắt trong xã hội Ukraine về chính sách động viên quân sự thời gian qua cho thấy bài toán nhân lực đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia mang tính sống còn.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW), và Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), khả năng duy trì lực lượng chiến đấu có chất lượng cao trong hai năm tới sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực kiểm soát chiến trường của cả Moscow lẫn Kiev. Trong điều kiện mọi hoạt động quân sự đều bị UAV giám sát liên tục và hỏa lực chính xác có thể tiêu diệt mục tiêu chỉ trong vài phút, việc bảo toàn nhân lực đang trở thành ưu tiên hàng đầu.
Nói cách khác, xung đột Nga - Ukraine không còn đơn thuần là cuộc đua về số lượng binh sĩ, mà là cuộc cạnh tranh về khả năng sử dụng hiệu quả từng quân nhân trên chiến trường.
UAV và robot chiến trường
Nếu nhân lực là yếu tố quyết định sức bền chiến tranh thì công nghệ UAV đang trở thành công cụ giúp giảm thiểu tổn thất và gia tăng hiệu quả tác chiến. Đây được xem là nhân tố làm thay đổi sâu sắc nhất bản chất của cuộc chiến Nga - Ukraine trong giai đoạn hiện nay.
Chưa có cuộc xung đột nào trong lịch sử hiện đại chứng kiến việc sử dụng thiết bị không người lái quy mô lớn như chiến trường Ukraine. Từ những chiếc UAV trinh sát cỡ nhỏ giá vài trăm USD đến các loại UAV tấn công tầm xa có khả năng bay hàng nghìn km, toàn bộ chiến trường đang được bao phủ bởi mạng lưới cảm biến và phương tiện không người lái dày đặc.
Các chuyên gia quân sự phương Tây cho rằng Ukraine đã trở thành phòng thí nghiệm quân sự lớn nhất thế giới về chiến tranh không người lái. Kiev đang đầu tư mạnh vào sản xuất UAV nội địa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận dạng mục tiêu và phát triển các phương tiện mặt đất không người lái (UGV) nhằm thay thế con người trong những nhiệm vụ nguy hiểm nhất.
Xu hướng này phản ánh một thực tế quan trọng: trong bối cảnh nguồn nhân lực ngày càng hạn chế, các quốc gia buộc phải sử dụng công nghệ để duy trì hiệu quả chiến đấu. Một chiếc UAV FPV trị giá vài trăm USD có thể phá hủy xe bọc thép trị giá hàng triệu USD. Một đội robot mặt đất có thể thực hiện nhiệm vụ tiếp tế, rà phá vật cản hoặc sơ tán thương binh mà trước đây phải sử dụng binh sĩ.
Nga cũng đang thích nghi nhanh chóng với môi trường tác chiến mới. Trong 2 năm qua, Moscow mở rộng đáng kể năng lực sản xuất UAV, phát triển nhiều dòng máy bay không người lái tấn công tầm xa và tăng cường sử dụng các hệ thống chiến tranh điện tử nhằm vô hiệu hóa UAV của Ukraine. Giới phân tích quân sự cho rằng cuộc cạnh tranh công nghệ hiện nay không chỉ là cuộc đua giữa các loại UAV, mà là cuộc cạnh tranh giữa hai hệ sinh thái tác chiến số hóa. Bên nào có khả năng kết nối UAV, vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, pháo binh và hệ thống chỉ huy thành một mạng lưới thống nhất sẽ giành được ưu thế chiến trường.
Đặc biệt, việc Ukraine liên tục mở rộng các cuộc tấn công UAV vào sâu trong lãnh thổ Nga gần đây và việc Nga gia tăng các đòn đánh tầm xa vào cơ sở hạ tầng của Ukraine để đáp trả mạnh mẽ cho thấy khái niệm “hậu phương an toàn” đang dần biến mất. Chiến tranh không người lái đã mở rộng không gian tác chiến từ tiền tuyến tới toàn bộ lãnh thổ của các bên tham chiến.
Nhiều chuyên gia quốc phòng châu Âu nhận định rằng những bài học từ chiến trường Ukraine đang làm thay đổi tư duy quân sự toàn cầu và có thể định hình học thuyết tác chiến của các cường quốc trong nhiều thập niên tới.
Sức chịu đựng của kinh tế Nga
Trong các cuộc xung đột kéo dài, chiến trường cuối cùng luôn là nền kinh tế. Khả năng sản xuất vũ khí, duy trì ngân sách quốc phòng và bảo đảm ổn định xã hội quyết định trực tiếp tới sức bền chiến lược của một quốc gia.
Sau hơn 4 năm chịu các lệnh trừng phạt chưa từng có từ Mỹ/phương Tây, nền kinh tế Nga đã thể hiện khả năng thích nghi đáng kể. Trái với nhiều dự báo bi quan thời điểm năm 2022, Nga không rơi vào khủng hoảng tài chính và sụp đổ mà vẫn duy trì được tăng trưởng ở mức nhất định nhờ xuất khẩu năng lượng, mở rộng thương mại với châu Á và đẩy mạnh sản xuất quốc phòng.
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng vẫn tồn tại nhiều thách thức mang tính cơ cấu. Các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại (FPRI) cho rằng nền kinh tế Nga đang vận hành theo mô hình kinh tế thời chiến với chi tiêu quốc phòng ở mức rất cao. Mô hình này giúp duy trì hoạt động sản xuất quân sự trong ngắn hạn nhưng đồng thời tạo ra những sức ép ngày càng lớn đối với nền kinh tế dân sự. Tình trạng thiếu hụt lao động, lãi suất cao, áp lực lạm phát và sự phụ thuộc vào nguồn thu năng lượng đặt ra nhiều thách thức đối với khả năng duy trì tăng trưởng lâu dài.
Cùng với đó, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của phương Tây tiếp tục ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến của Nga. Mặc dù Nga xây dựng được nhiều kênh nhập khẩu thay thế, song việc tiếp cận các linh kiện điện tử, thiết bị công nghệ cao và một số loại máy móc công nghiệp vẫn gặp khó khăn hơn trước.
Một yếu tố khác là sự biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Dầu khí vẫn là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách Nga. Trong trường hợp giá năng lượng suy giảm kéo dài hoặc các biện pháp trừng phạt được siết chặt hơn, áp lực đối với ngân sách quốc phòng của Moscow có thể gia tăng đáng kể.
Viện trợ phương Tây - nhân tố quyết định khả năng trụ vững của Ukraine
Nếu sức mạnh kinh tế là nền tảng của Nga thì viện trợ quốc tế lại là yếu tố sống còn đối với Ukraine. Thực tế chiến trường trong hơn 4 năm qua cho thấy khả năng kháng cự của Kiev gắn chặt với mức độ hỗ trợ từ Mỹ và đồng minh châu Âu.
Ukraine xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng đáng kể, song vẫn phụ thuộc vào phương Tây với nhiều loại khí tài chiến lược như hệ thống phòng không, tên lửa tầm xa, đạn pháo cỡ lớn và hỗ trợ tài chính cho ngân sách nhà nước. Vì vậy, sự ổn định của dòng viện trợ có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì chiến tranh của Kiev.
Diễn biến đáng chú ý nhất đầu tháng 6 vừa qua là việc Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật hỗ trợ Ukraine với tỷ lệ 226 phiếu thuận và 195 phiếu chống. Đạo luật bao gồm hơn 1 tỷ USD viện trợ trực tiếp, mở đường cho tối đa 8 tỷ USD hỗ trợ dưới hình thức các khoản vay, đồng thời bổ sung các biện pháp trừng phạt nhằm vào lĩnh vực tài chính, năng lượng và khai khoáng của Nga. Ý nghĩa của cuộc bỏ phiếu này không chỉ nằm ở giá trị tài chính mà còn ở thông điệp chính trị. Việc một bộ phận nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ đạo luật cho thấy vẫn tồn tại sự đồng thuận nhất định trong Quốc hội Mỹ về việc tiếp tục hỗ trợ Ukraine, bất chấp những tranh luận ngày càng gay gắt trong nội bộ chính trường Washington.
Tại châu Âu, xu hướng hỗ trợ Ukraine tiếp tục được duy trì. Nhiều quốc gia NATO đang tăng chi tiêu quốc phòng, mở rộng năng lực sản xuất đạn dược và đẩy nhanh các chương trình hỗ trợ quân sự dài hạn cho Kiev. Đồng thời, Liên minh châu Âu cũng tiếp tục thúc đẩy các gói hỗ trợ tài chính 90 tỷ euro nhằm bảo đảm khả năng vận hành của nền kinh tế Ukraine trong điều kiện chiến tranh.
Tuy nhiên, giới quan sát lưu ý rằng viện trợ phương Tây không phải là nguồn lực vô hạn. Áp lực ngân sách, các cuộc bầu cử và những ưu tiên chiến lược mới có thể tác động tới mức độ hỗ trợ dành cho Ukraine trong tương lai. Vì vậy, thách thức lớn nhất đối với Kiev hiện nay không chỉ là nhận được nhiều viện trợ hơn, mà là bảo đảm tính liên tục và khả năng dự báo của dòng hỗ trợ đó. Đối với một cuộc chiến kéo dài, sự ổn định thường quan trọng hơn những gói viện trợ đột biến mang tính ngắn hạn.
Giai đoạn 2026 - 2027, triển vọng xung đột Nga - Ukraine sẽ phụ thuộc vào khả năng duy trì sức bền tổng hợp của cả hai bên. Nhân lực quyết định khả năng trụ vững trên chiến trường; công nghệ UAV quyết định hiệu quả tác chiến; sức mạnh kinh tế quyết định khả năng duy trì chiến tranh; còn viện trợ quốc tế quyết định mức độ bền vững của nỗ lực kháng cự từ phía Ukraine.
Trong bối cảnh chưa xuất hiện dấu hiệu rõ ràng về một giải pháp chính trị toàn diện, cuộc cạnh tranh giữa 4 yếu tố này sẽ tiếp tục định hình cục diện chiến trường cũng như tương lai an ninh của châu Âu trong những năm tới. Cuộc chiến có thể chưa được quyết định bởi một trận đánh mang tính lịch sử, nhưng chắc chắn sẽ được quyết định bởi khả năng huy động và duy trì nguồn lực quốc gia của mỗi bên trong cuộc đua sức bền khốc liệt nhất của thế kỷ 21.
Tin Gốc: Dân Trí

