Khơi thông vàng trong dân: Các quốc gia khác đã làm như thế nào?

Khơi thông vàng trong dân: Các quốc gia khác đã làm như thế nào?

Mới đây, Công ty cổ phần Vinhomes (mã chứng khoán: VHM) của tỷ phú Phạm Nhật Vượng vừa công bố chương trình cho phép khách hàng sử dụng nguồn vàng nhàn rỗi để giao dịch mua bất động sản tại các dự án do doanh nghiệp phát triển. Chương trình được triển khai trong khuôn khổ hợp tác giữa Vingroup, Vinhomes và các công ty vàng bạc đá quý.

Sau rất nhiều ý kiến về việc khơi thông vàng trong dân. Theo ước tính, Việt Nam có đến 500 tấn vàng trong dân, có thể tạo ra nguồn vốn 80 tỷ USD cho nền kinh tế. Tỷ phú Phạm Nhật Vượng được biết là người tiên phong khởi đầu cho công cuộc này.

Trước đó, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV về ngân sách, đầu tư công, rất nhiều ý kiến đã được đề xuất như thành lập sở giao dịch vàng quốc gia, phát triển sản phẩm tài chính hóa vàng (chứng chỉ vàng, lưu ký, quỹ đầu tư vàng, trái phiếu vàng…), miễn phí lưu ký ưu đãi lãi suất hoặc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng vàng…

Chiều ngược lại, các chuyên gia cùng cho rằng đây là việc lớn, cần nghiên cứu và thực hiện một cách thận trọng, nhất là với xuất xem vàng như phương tiện thanh toán.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nếu vàng lưu thông rộng rãi thay thế vai trò của đồng nội tệ trong thanh toán, nền kinh tế có thể đối mặt với nguy cơ “vàng hóa”, làm suy giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ, gia tăng đầu cơ tài sản và ảnh hưởng đến ổn định tỷ giá, lãi suất cũng như niềm tin vào đồng tiền quốc gia.

Dưới góc nhìn quỹ đầu tư, trong chia sẻ tại sự kiện tài chính cuối năm 2025, ông Lê Anh Tuấn – Tổng giám đốc Dragon Capital – cho rằng khơi thông vàng trong dân là một đề tài rất thú vị nhưng cũng rất khó, mang tính cực kỳ kỹ thuật nếu muốn làm đúng. Ông Tuấn kiến nghị học hỏi từ các mô hình trên thế giới.

“Để trả lời câu hỏi là có nên chuyển từ vàng vật chất sang vàng số hóa hay không, thì tôi cho rằng là nên. Tuy nhiên, làm như thế nào lại là câu chuyện cực kỳ phức tạp, và trong phạm vi của diễn đàn hôm nay, có lẽ không đủ thời lượng để bàn sâu về những khía cạnh kỹ thuật đó”, ông đánh giá.

Nhìn từ thế giới, rất nhiều nền kinh tế mới nổi đã khơi thông vàng trong dân. Theo đó, vàng không chỉ là tài sản trú ẩn mà còn vận hành như một “hệ thống tài chính song song” nằm ngoài ngân hàng.

Ấn Độ: Tăng thuế nhập vàng, khuyến khích gửi vàng ngân hàng nhận lãi

Đầu tiên phải nhắc đến Ấn Độ. Ít quốc gia nào phụ thuộc vào vàng như nước này. Các hộ gia đình nước này được ước tính nắm giữ khoảng 30.000-35.000 tấn vàng, trị giá hàng nghìn tỷ USD. Vàng tại đây gắn chặt với văn hóa cưới hỏi, tôn giáo và thói quen tiết kiệm của người dân.

Theo tìm hiểu, Chính phủ từng nhiều lần tăng thuế nhập khẩu vàng, từ khoảng 4% năm 2010 lên tới 10-15% trong giai đoạn 2013-2015. Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ cũng siết tín dụng phục vụ mua vàng.

Đến năm 2015, nước này triển khai hai sáng kiến lớn: Gold Monetization Scheme nhằm khuyến khích người dân gửi vàng vào ngân hàng để nhận lãi, và Sovereign Gold Bonds – trái phiếu gắn với giá vàng nhằm thay thế nhu cầu nắm giữ vàng vật chất.

Tuy nhiên, kết quả khá khiêm tốn. Đến cuối năm 2024, chương trình huy động vàng chỉ thu hút được khoảng 31 tấn – quá nhỏ so với lượng vàng người dân đang nắm giữ.

Thổ Nhĩ Kỳ: Cho phép ngân hàng dùng vàng như phần dự trữ bắt buộc

  Hơn 60% trong tổng 3,8 tỉ USD vốn ngoại rót vào TP.HCM đến từ các thương vụ M&A

Nếu Ấn Độ chủ yếu dùng biện pháp hành chính, Thổ Nhĩ Kỳ lại chọn cách tích hợp vàng vào hệ thống tài chính và kết quả thu được khả quan hơn.

Trước năm 2020, người dân Thổ Nhĩ Kỳ được cho là nắm giữ khoảng 3.500 tấn vàng. Đến năm 2026, giá trị lượng vàng này đã tăng lên khoảng 600-750 tỷ USD, tương đương gần một nửa GDP quốc gia.

Được biết, Ngân hàng trung ương cho phép các ngân hàng thương mại sử dụng vàng như một phần dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng cũng triển khai tài khoản tiết kiệm bằng vàng với mức gửi tối thiểu cực thấp, chỉ từ 0,01 gram.

Theo đó, người dân có thể gửi vàng vật chất vào ngân hàng, nhận lãi suất và rút lại bằng vàng hoặc tiền mặt. Hệ thống còn mở rộng sang ATM vàng, quỹ hưu trí vàng và các khoản vay thế chấp bằng vàng…

Kết quả, khoảng 80 tỷ USD vàng đã được đưa vào hệ thống ngân hàng – một trong những chương trình huy động vàng thành công nhất thế giới. Dù vậy, khoảng 90% lượng vàng vẫn còn “nằm trong dân”.

Trung Quốc: Lập sàn giao dịch vàng

Trung Quốc cũng là quốc gia có nhu cầu vàng lớn nhất thế giới, chủ yếu dưới dạng trang sức.

Dù vậy, khác với Ấn Độ hay Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Kinh không coi vàng hộ gia đình là vấn đề cần “huy động”. Chính phủ tập trung xây dựng thị trường minh bạch hơn thông qua việc thành lập Shanghai Gold Exchange và mở rộng giao dịch vàng.

Gần đây, giới chức Trung Quốc điều chỉnh thuế và quy định nhập khẩu nhằm hạn chế đầu cơ khi giá vàng tăng mạnh, nhưng tránh các biện pháp cực đoan như cấm sở hữu hoặc cưỡng chế huy động vàng trong dân.

Cách tiếp cận của Trung Quốc phản ánh thực tế rằng quy mô nền kinh tế đủ lớn để hấp thụ nhu cầu vàng mà không gây áp lực quá mạnh lên cán cân thanh toán.

Indonesia: Nổi trội với mô hình “ngân hàng kim loại quý”

Gần nhất, Indonesia đang nổi lên như một trường hợp thành công mới.

Thông qua đạo luật cải cách tài chính năm 2023 và quy định năm 2024, nước này hợp pháp hóa mô hình “bullion banking” (ngân hàng kim loại quý). Mô hình này cho phép ngân hàng cung cấp tài khoản tiết kiệm vàng, giao dịch vàng và các khoản vay thế chấp bằng vàng.

Các tổ chức như Bank Syariah Indonesia và Pegadaian đã nhanh chóng triển khai sản phẩm. Đến đầu năm 2026, khoảng 5,7 triệu người Indonesia đã sử dụng dịch vụ ngân hàng vàng…

Tin Gốc: Dân Trí