Kết luận được Liên Hợp Quốc nêu trong báo cáo mới công bố, trước thềm các cuộc họp mùa Xuân sắp diễn ra ở Washington của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) – hai định chế tài chính toàn cầu chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng.
Ông Li Junhua, Phó tổng thư ký Liên Hợp Quốc phụ trách các vấn đề kinh tế và xã hội, cho rằng căng thẳng địa chính trị khiến các nước đang phát triển khó thu hút tài chính hơn. “Đây là thời điểm đáng lo ngại với hợp tác quốc tế, khi các yếu tố địa chính trị ngày càng chi phối quan hệ kinh tế và chính sách tài chính”, ông nói.
Năm ngoái, 25 quốc gia đã cắt viện trợ phát triển cho các nước nghèo, khiến tổng mức viện trợ giảm kỷ lục 23% so với 2024. Mỹ là quốc gia cắt viện trợ mạnh nhất, tới 59%. Liên Hợp Quốc dự báo viện trợ năm nay giảm thêm 5,8%.
Trong khi đó, các mức thuế quan, gồm những biện pháp của Mỹ, tác động lớn đến các nước đang phát triển. Thuế nhập khẩu trung bình áp lên hàng hóa từ các nước nghèo nhất tăng từ 9% lên 28% năm qua. Với các quốc gia đang phát triển (không gồm Trung Quốc), mức thuế trung bình tăng từ 2% lên 19%.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc nhằm đánh giá Cam kết Seville, được lãnh đạo nhiều quốc gia – không gồm Mỹ – thông qua tại Seville (Tây Ban Nha) vào tháng 6/2025. Cam kết này nhất trí thu hẹp khoảng trống tài chính phát triển trị giá 4.000 tỷ USD mỗi năm, kêu gọi tăng cường đầu tư vào các nước đang phát triển và cải cách cấu trúc tài chính quốc tế, bao gồm World Bank và IMF.
Tổng thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres nhiều lần kêu gọi cải cách sâu rộng hai tổ chức này, cho rằng IMF đang mang lại lợi ích cho các nước giàu thay vì nước nghèo. Còn World Bank không hoàn thành sứ mệnh, đặc biệt trong đại dịch, khiến hàng chục quốc gia rơi vào nợ nần nghiêm trọng.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho rằng thực hiện Cam kết Seville là “hy vọng tốt nhất” để thu hẹp khoảng cách tài chính đang ngày càng tăng.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/khoang-cach-giau-ngheo-toan-cau-noi-rong-5061494.html

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư hướng dẫn thuế với giao dịch tài sản mã hóa. Trong đó, nhà đầu tư là cá nhân có hoạt động chuyển nhượng tài sản mã hóa qua tổ chức cung cấp dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân. Tỷ lệ được xác định là 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Quy định này áp dụng với mọi nhà đầu tư cá nhân, không phân biệt cá nhân cư trú hay không cư trú. Mức này tương đương cách tính thuế với giao dịch chứng khoán.
Nói với VnExpress, Luật sư Đào Tiến Phong, Giám đốc Hãng luật Investpush, đánh giá áp thuế dựa trên giá trị chuyển nhượng từng giao dịch là cách tính đơn giản và nhanh gọn. Ở góc độ chính sách, ông cho rằng đây là cách tiếp cận khá thận trọng và phù hợp với giai đoạn đầu: ưu tiên thiết lập được cơ chế thu và kiểm soát dòng tiền trước, thay vì theo đuổi ngay một mô hình đánh thuế theo lợi nhuận vốn, đòi hỏi hệ thống dữ liệu, chuẩn mực kế toán và cơ chế đối soát rất chặt chẽ.
Cách tính thuế thu nhập cá nhân với tài sản mã hóa được thiết kế tương tự chứng khoán, theo ông, xuất phát từ ba lý do chính.
Thứ nhất, đây là mô hình đã "chạy được" trong thực tế. Cơ chế này khấu trừ thuế trực tiếp trên giá trị chuyển nhượng qua công ty chứng khoán trong nhiều năm và cơ bản kiểm soát được dòng tiền, hạn chế thất thu.
Thứ hai, đặc điểm giao dịch của tài sản mã hóa khá gần với chứng khoán, ở góc độ kỹ thuật quản lý. Cả hai đều là tài sản có thể giao dịch liên tục, giá biến động theo thị trường và có thể phát sinh số lượng lớn lệnh trong thời gian ngắn. Nếu áp dụng cách tính thuế dựa trên lợi nhuận thực tế ngay từ đầu, cơ quan quản lý sẽ phải giải bài toán rất phức tạp về việc xác định giá vốn, lịch sử giao dịch, chuyển tài sản giữa các ví và các nền tảng khác nhau. Trong khi đó, cách đánh thuế trên giá trị chuyển nhượng giúp bỏ qua toàn bộ các yếu tố này và tập trung vào một điểm dữ liệu duy nhất: giá trị của giao dịch tại thời điểm phát sinh.
Thứ ba, việc áp dụng mô hình tương tự chứng khoán còn giúp tạo sự nhất quán trong hệ thống pháp luật thuế khi chưa đủ thời gian triển khai và trải nghiệm mô hình. Điều này rất quan trọng trong giai đoạn đầu khi mục tiêu ưu tiên là đưa thị trường vào khuôn khổ và tạo được thói quen tuân thủ.
Chủ một doanh nghiệp chuyên tiếp thị liên kết (affiliate) cho các sàn giao dịch lớn, có trụ sở tại TP HCM, cũng cho rằng áp dụng cách tính thuế tương tự chứng khoán tạo ra cách hiểu và cách vận dụng đơn giản, không chỉ với cơ quan quản lý mà còn với nhà đầu tư. Cách tính thuế dựa trên giá chuyển nhượng từng lần có thể giúp ghi nhận giá trị giao dịch và khấu trừ ngay tại tổ chức cung cấp dịch vụ. Điều này không khác so với cơ chế công ty chứng khoán khấu trừ thuế khi nhà đầu tư bán cổ phiếu đã được thực hiện thông suốt nhiều năm qua.
Tuy nhiên, ông cho rằng cần làm rõ thu thuế trên mỗi giao dịch chuyển thành tiền, hay mỗi lệnh trên sàn. Bởi khác với chứng khoán, giao dịch tài sản mã hóa không chỉ là bán ra để thu tiền, mà còn có thể trao đổi từ coin này sang coin khác (ví dụ từ Bitcoin sang Ether), bán ra stablecoin (ví dụ bán Bitcoin ra USDT), chuyển về ví nội bộ hoặc ví lạnh (thiết bị lưu trữ không kết nối mạng)...
"Nếu không làm rõ sự kiện chịu thuế (taxable event), nhà đầu tư sẽ đứng trước nguy cơ bị đánh thuế trùng", ông lo ngại.
Khi gửi góp ý cho Bộ Tài chính hồi tháng 9/2025, sàn giao dịch tiền số lớn nhất thế giới Binance từng cho rằng việc đánh thuế trên tổng giá trị giao dịch, ngay cả ở mức "có vẻ thấp", cũng làm giảm đáng kể động lực giao dịch. Điều này tác động tiêu cực đến ngành do thuế này đánh vào mọi giao dịch, ngay cả khi người bán đang chịu lỗ. Ngoài ra, việc này cũng khiến hoạt động giao dịch tần suất cao của một nhóm nhà giao dịch trở nên không khả thi vì họ thường thực hiện khối lượng lớn các giao dịch có biên lợi nhuận thấp thông qua thuật toán tự động.
Theo Binance, việc áp dụng thuế một cách đồng loạt đối với hoạt động này có thể dẫn đến nghĩa vụ thuế vượt quá lợi nhuận thực tế, từ đó làm suy giảm các giao dịch thường xuyên và làm giảm thanh khoản thị trường. Những tác động tiêu cực lan tỏa này đã được ghi nhận ở những khu vực pháp lý áp dụng thuế giao dịch tương tự.
Ví dụ, Indonesia áp thuế 0,22% đối với giao dịch chuyển nhượng tài sản mã hóa. Trong năm 2023, thu ngân sách thuế tài sản mã hóa của đất nước vạn đảo giảm 63% sau khi cách tính thuế này được áp dụng vào tháng 5/2022, bất chấp giá Bitcoin tăng vọt.
Luật sư Đào Tiến Phong cũng cho rằng với những nhà đầu tư ngắn hạn, mức thuế 0,1% có thể ăn mòn đáng kể lợi nhuận của họ. Theo ông, vấn đề ở đây không nằm hoàn toàn ở mức thuế mà ở cơ chế đánh thuế theo giá trị giao dịch thay vì theo lợi nhuận thực tế. Cách làm này giúp cơ quan quản lý thu được thuế ngay, dễ kiểm soát và hạn chế tranh chấp, nhưng lại chưa phản ánh đúng bản chất thu nhập của nhà đầu tư.
"Trong thị trường có tần suất giao dịch cao như tài sản số, yếu tố này trở nên nhạy cảm hơn so với các thị trường truyền thống", ông nhận định.
Do đó, về dài hạn, khi thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam phát triển ổn định và hệ thống quản lý đủ năng lực theo dõi giá vốn, chi phí và lịch sử giao dịch, chuyên gia đề xuất nên cân nhắc chuyển dần sang mô hình đánh thuế dựa trên lợi nhuận thực tế. Đây cũng là cách mà nhiều thị trường lớn đang áp dụng để đảm bảo tính công bằng và tăng sức cạnh tranh.
Tất Đạt
Nguồn: https://vnexpress.net/vi-sao-ap-thue-tai-san-ma-hoa-tuong-tu-chung-khoan-5058098.html

Ngày 1-6, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam - ACV phối hợp tổ chức chương trình "Kết nối hàng không và du lịch Việt Nam - Trung Quốc" tại Thượng Hải, Trung Quốc. Sự kiện có sự tham dự của đại diện cơ quan ngoại giao, địa phương, doanh nghiệp hàng không và lữ hành hai nước.
Đoàn ACV do ông Nguyễn Cao Cường, Phó tổng giám đốc tổng công ty, dẫn đầu. Cùng tham dự có lãnh đạo các cảng hàng không Tân Sơn Nhất, Long Thành, Cát Bi, Đồng Hới, Phú Bài, Cần Thơ và các đơn vị thành viên.
Phía Việt Nam còn có Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Thượng Hải, lãnh đạo TP Huế, tỉnh Quảng Trị cùng các sở du lịch, ngoại vụ, trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch.
Phía Trung Quốc có đại diện Vietnam Airlines tại Trung Quốc và 10 đại lý lữ hành, đơn vị khai thác chuyến bay thuê chuyến (charter).
Theo ACV, chương trình nhằm tạo kênh trao đổi trực tiếp giữa các cảng hàng không, địa phương, hãng bay và doanh nghiệp lữ hành về nhu cầu thị trường, khả năng mở đường bay mới và tăng tần suất khai thác giữa hai nước.
Tại hội thảo, các bên thảo luận về xu hướng du lịch quốc tế, nhu cầu đi lại giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như cơ hội đưa khách Trung Quốc đến các điểm đến mới của Việt Nam.
Đại diện TP Huế và tỉnh Quảng Trị giới thiệu sản phẩm du lịch, chính sách thu hút khách quốc tế và tiềm năng phát triển dòng khách đi theo đoàn, khách MICE.
ACV cũng giới thiệu năng lực hạ tầng tại các cảng hàng không trọng điểm, đặc biệt là những sân bay có khả năng tiếp nhận thêm chuyến bay quốc tế và chuyến bay thuê chuyến.
Dự án sân bay Long Thành cũng được giới thiệu như một cửa ngõ hàng không mới, hướng đến vai trò trung chuyển trong khu vực.
Theo ACV, các chuyến bay thuê chuyến có thể là bước thử thị trường trước khi chuyển sang khai thác thường lệ nếu nhu cầu ổn định. Mô hình này giúp địa phương mở rộng nguồn khách quốc tế, đồng thời tăng hiệu quả khai thác hạ tầng sân bay.
"Trung Quốc là một trong những thị trường khách quốc tế lớn của du lịch Việt Nam. Việc tăng kết nối hàng không được kỳ vọng hỗ trợ phục hồi du lịch, thúc đẩy giao thương và mở thêm dư địa phát triển cho các địa phương có sân bay nhưng chưa khai thác hết công suất", ông Cường chia sẻ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

