Theo thông báo được đưa ra: “Việc khôi phục tên gọi USPACOM nhằm tôn vinh nguồn gốc lịch sử sâu sắc của bộ tư lệnh này”. Và thông báo cũng khẳng định khu vực hoạt động của USPACOM vẫn như USINDOPACOM là trải dài từ vùng biển ngoài khơi bờ Tây của Mỹ đến biên giới phía tây của Ấn Độ, với cam kết vững chắc trong việc duy trì khu vực tự do và cởi mở cùng với các đồng minh và đối tác trong khu vực như trước.
Được thành lập từ năm 1947, bộ tư lệnh trên mang tên USPACOM (còn gọi là PACOM) cho đến năm 2018 thì được đổi tên thành USINDOPACOM (còn gọi là INDOPACOM) để phản ánh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific) dưới thời Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiệm kỳ 1. Chính vì thế, việc giờ đây Mỹ khôi phục lại tên PACOM được đánh giá là sự thay đổi quan điểm của Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ thứ 2.
Trả lời Thanh Niên ngày 20.6, cựu đại tá Carl O.Schuster (cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp – Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ) chỉ ra: “Việc “hồi sinh” PACOM phản ánh mối quan ngại và sự tập trung ngày càng tăng của Mỹ đối với Trung Quốc. Thực tế, INDOPACOM không hoạt động trên toàn bộ Ấn Độ Dương, mà chỉ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương phía tây và tây bắc Sri Lanka. Trong khi đó, tên gọi INDOPACOM có thể được hiểu là hoạt động trên toàn bộ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nên điều này không còn đúng”.
“PACOM chịu trách nhiệm về quan hệ quân sự với Ấn Độ và Sri Lanka cũng như các quốc gia phía đông của 2 nước này. Nhưng hoạt động trên biển của PACOM lại kết thúc ở phía tây và tây bắc Sri Lanka. Vùng biển đó thuộc quyền quản lý của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM)”, cựu đại tá Schuster giải thích thêm.
GS Stephen Robert Nagy (ĐH Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) thì nhận định: “Tôi nghĩ việc đổi tên INDOPACOM trở lại thành PACOM phản ánh trọng tâm chính của bộ tư lệnh này là phòng thủ ở khu vực Thái Bình Dương. Washington dưới thời Tổng thống Trump hiện nay dường như cho rằng Ấn Độ và các nước khác trong khu vực nên tự lo cho an ninh của mình nhiều hơn là trông chờ Mỹ gánh vác trách nhiệm phòng thủ các tuyến đường biển giao thông xuyên qua Indo-Pacific”.
“Xu hướng chung của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 là các đồng minh và đối tác như Ấn Độ phải gánh vác trách nhiệm lớn hơn về an ninh và ổn định trong khu vực, bởi Nhà Trắng đang có quan điểm chỉ hợp tác với các quốc gia sẵn sàng hy sinh nguồn lực, nếu đồng minh hay đối tác nào không sẵn sàng tự vệ và không ủng hộ Mỹ khi xảy ra khủng hoảng hay xung đột, thì tại sao Mỹ lại phải bảo vệ các đồng minh hay đối tác này?
Việc thiếu sự hợp tác giữa các đồng minh và đối tác với Mỹ để đối phó với Iran và ổn định eo biển Hormuz, hoặc thực sự tăng cường bảo vệ Ukraine trong cuộc xung đột với Nga, đã củng cố quan điểm trên và được phản ánh trong việc đổi tên. Nói một cách đơn giản, các đồng minh và bạn bè cần phải tự lo cho bản thân nhiều hơn, nếu không Washington sẽ tiếp tục chuyển đổi các thể chế quốc phòng và chính sách đối ngoại theo lợi ích của Mỹ chứ không phải lợi ích của các đồng minh và đối tác”, GS Nagy phân tích thêm.
Trong khi đó, TS Satoru Nagao (Viện nghiên cứu Hudson, Mỹ) cho rằng việc Washington “hồi sinh” PACOM là một động thái quan trọng vì ba lý do sau.
“Thứ nhất, INDOPACOM có liên quan Indo-Pacific, nên việc loại bỏ từ “INDO” khỏi INDOPACOM có nghĩa là Mỹ muốn hạ thấp tầm quan trọng của khu vực này”, TS Nagao phân tích.
Thứ hai, theo ông, việc hạ thấp tầm quan trọng của Indo-Pacific đồng nghĩa với việc Mỹ đang hạ thấp lợi ích của Ấn Độ. Khái niệm Indo-Pacific xuất phát từ bài phát biểu của cố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Quốc hội Ấn Độ hồi năm 2007. Mang chủ đề “Sự giao thoa của hai vùng biển”, bài phát biểu này cũng đề cập sự hợp tác với Mỹ và Úc. Nhóm “Bộ tứ” (gồm Mỹ – Nhật Bản – Úc – Ấn Độ) cũng xuất phát từ bài phát biểu này. Đến năm 2012, ông Abe đã giải thích ý tưởng này trong bài viết “Kim cương an ninh dân chủ của châu Á”.
Để đối phó với Trung Quốc, “Bộ tứ” cần sự hợp tác. Khái niệm Indo-Pacific và “Bộ tứ” chỉ hình thành khi nhóm tập trung vào Ấn Độ. Sinh thời, Thủ tướng Abe có quan hệ tốt với cả Tổng thống Trump lẫn Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, nên ông Abe đã thuyết phục hai nhà lãnh đạo còn lại về Indo-Pacific và “Bộ tứ” không chỉ dành cho Nhật Bản mà còn cho cả Mỹ và Ấn Độ. Kết quả là vào năm 2018, Mỹ đã đổi tên PACOM thành INDOPACOM.
“Nhưng thực tế là Mỹ chưa làm được nhiều ở Ấn Độ Dương. Kế hoạch thành lập hạm đội 1 phụ trách Ấn Độ Dương vẫn chưa được thực hiện. Và Ấn Độ đã do dự trong việc biến “Bộ tứ” thành một liên minh. Mỹ đã thất vọng trước sự do dự của Ấn Độ”, TS Nagao đánh giá và cho rằng đó là lý do chữ “INDO” mất đi trong tên của bộ tư lệnh trên.
Thứ ba, theo vị chuyên gia, Ấn Độ không phải là quốc gia duy nhất bị Mỹ hạ thấp tầm quan trọng. Gần đây, thái độ của Mỹ đối với NATO là một ví dụ điển hình. Phát biểu trong Đối thoại Shangri-La vừa qua tại Singapore, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Peter Hegseth cho biết: “Chúng tôi yêu cầu các đồng minh và đối tác tăng ngân sách quốc phòng lên mức 3,5% GDP, chúng tôi đang vượt xa con số đó. Nhưng đối với những ai tin rằng họ có thể tiếp tục hưởng lợi từ sự hào phóng của người đóng thuế Mỹ, hãy nghe chúng tôi nói. Những ngày đó đã qua rồi”. Đối chiếu với thông điệp này, Mỹ đang “hạ bậc” mức quan hệ hợp tác với Ấn Độ và châu Âu.
Chính vì thế, việc đổi tên INDOPACOM thành PACOM thực sự là một thông điệp quan trọng trong chính sách quốc phòng của Mỹ.
Tại cuộc tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh ở trụ sở Trung ương Đảng sáng 19/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam đánh giá cao vai trò và những đóng góp của Ấn Độ đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực, theo Bộ Ngoại giao.
Việt Nam luôn coi Ấn Độ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, ủng hộ Ấn Độ tiếp tục phát huy vai trò lớn hơn tại khu vực và thế giới. Việt Nam cũng ủng hộ và sẵn sàng tham gia tích cực vào các sáng kiến toàn cầu của Ấn Độ, cũng như làm cầu nối hỗ trợ Ấn Độ tăng cường hợp tác với khu vực, qua đó góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, thượng tôn luật pháp quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống, tin cậy chính trị cao và việc hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường có ý nghĩa quan trọng, giúp củng cố tin cậy chính trị và mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng trong nhiều lĩnh vực.
Ông đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường hơn nữa trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, thúc đẩy hợp tác thương mại và đầu tư, mở rộng hợp tác khoa học công nghệ, tăng cường kết nối, giao lưu nhân dân giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá cao kết quả hội đàm giữa Bộ trưởng Rajnath Singh và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang, cũng như những kết quả hợp tác thiết thực giữa Bộ Quốc phòng hai nước thời gian qua. Ông đề nghị hai bên tiếp tục triển khai đầy đủ, hiệu quả các văn bản hợp tác đã ký kết, đưa hợp tác quốc phòng giữa hai nước đi vào chiều sâu.
Bộ trưởng Rajnath Singh khẳng định Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất trong chính sách "Hành động Hướng Đông" và các chiến lược phát triển quan hệ với khu vực của Ấn Độ.
Ông đánh giá cao vai trò, vị thế cũng như những đóng góp tích cực, chủ động của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực. Bộ trưởng khẳng định Ấn Độ sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng giữa hai nước, mở rộng các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực chất lượng cao; cam kết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam hoàn tất các dự án hợp tác đang triển khai trong khuôn khổ các gói tín dụng, hỗ trợ quốc phòng hiện có và xem xét tiếp tục cung cấp gói hỗ trợ mới phù hợp với nhu cầu và năng lực mỗi bên.
Bộ trưởng cũng nhất trí sẽ tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan của Ấn Độ để thúc đẩy hơn nữa hợp tác khoa học công nghệ, tăng cường kết nối hàng không, hàng hải giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có tầm nhìn chung về các vấn đề thế giới và khu vực; sẽ tiếp tục duy trì trao đổi đoàn, phát huy các cơ chế đối thoại giữa hai nước, trong đó có cơ chế tham vấn giữa hai Bộ Quốc phòng, tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp lập trường trong các vấn đề khu vực, quốc tế và tại các diễn đàn đa phương, nhất là các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+).
Phát biểu với ArmyInform, Nazar, chỉ huy một đơn vị robot mặt đất thuộc Tiểu đoàn Xung kích Độc lập số 108, cho biết nhiều nền tảng gặp khó khăn ngay khi ra tiền tuyến và thường thất thế trong lần sử dụng tác chiến đầu tiên.
Theo vị chỉ huy này, nhiều nền tảng hoạt động tốt trong các cuộc thử nghiệm có kiểm soát nhưng lại không thành công trong điều kiện chiến trường. Ông dẫn các vấn đề phổ biến như thiết bị điện tử quá nhiệt, linh kiện yếu và độ tin cậy thiếu ổn định trong các nhiệm vụ thực tế.
Ông cho biết sự khác biệt giữa thử nghiệm và chiến đấu không hề nhỏ, vì các chiến dịch thực tế liên quan tới quãng đường dài hơn, địa hình khó lường và hoạt động liên tục dưới áp lực cao.
Mặt khác, bùn lầy, địa hình và khoảng cách vẫn là những trở ngại lớn. Ông cho biết địa hình của Ukraine là một trong những thách thức chính đối với các hệ thống mặt đất, đặc biệt là lớp đất đen dày trở nên rất khó di chuyển sau mưa. Trong những điều kiện như vậy, đất bùn có thể làm kẹt hệ thống di chuyển và khiến phương tiện mắc kẹt hoặc mất khả năng hoạt động.
Các kíp điều khiển cũng phải đối mặt với những nhiệm vụ kéo dài và chậm chạp, khi ngay cả quãng đường ngắn cũng có thể mất hàng giờ để hoàn thành, làm tăng thời gian bị lộ diện và áp lực cơ học lên các nền tảng.
Vị chỉ huy cho biết hiện có khoảng 150 mẫu robot mặt đất khác nhau đang được sử dụng, nhưng nhiều loại không phù hợp với điều kiện tiền tuyến. Ông nói thêm rằng phần lớn các đơn vị hiện vẫn chủ yếu dựa vào các nền tảng phục vụ hậu cần thay vì các biến thể chiến đấu hay công binh.
Ông cho biết binh sĩ thường phải tự sửa đổi các hệ thống ngay tại thực địa, điều chỉnh thiết bị điện tử và linh kiện để chúng có thể hoạt động.
Trước đó, một quan chức Ukraine cũng nói về việc robot mặt đất Ukraine thường bị mất kết nối trên chiến trường với người điều khiển, khiến chúng bị mắc kẹt hoặc vô hiệu trong chiến đấu.
Dù còn nhiều hạn chế, robot mặt đất vẫn được coi là hữu ích cho các nhiệm vụ cụ thể như hậu cần, sơ tán thương binh và mang thuốc nổ trong một số tình huống nhất định.
Vị chỉ huy cho biết giá trị của chúng phụ thuộc vào việc sử dụng đúng nền tảng cho đúng nhiệm vụ, nhưng nhấn mạnh rằng thực tế chiến trường vẫn là bài kiểm tra cuối cùng đối với mọi hệ thống.
Ukraine đang mở rộng việc sử dụng các hệ thống mặt đất không người lái như một phần của xu hướng tự động hóa rộng lớn hơn trên chiến trường. Tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết nước này có kế hoạch đặt hàng ít nhất 50.000 robot mặt đất trong thời gian tới, mô tả chúng là bước phát triển tiếp theo quan trọng sau UAV.
Các hệ thống này đã được sử dụng cho nhiệm vụ hậu cần và sơ tán y tế tại các khu vực nguy hiểm cao, phản ánh nỗ lực bảo vệ binh sĩ ở những nơi hoạt động UAV chi phối tiền tuyến.
Theo Hãng tin Reuters ngày 26-4, trong thời gian qua xung quanh nhà máy điện hạt nhân Chernobyl nhiều lần ghi nhận các hoạt động quân sự trên không, trong đó có tên lửa và máy bay không người lái bay gần khu vực này.
Một sự cố xảy ra vào năm ngoái đã làm hư hại lớp bảo vệ của "Mái vòm an toàn mới" (New Safe Confinement - NSC) công trình được xây dựng để che chắn lò phản ứng số 4 bị phá hủy.
Trong bối cảnh đó lễ tưởng niệm 40 năm thảm họa Chornobyl năm nay thêm ý nghĩa, khi những lo ngại về an toàn hạt nhân một lần nữa được nhắc đến.
Bộ Ngoại giao Ukraine trong tuần này cho rằng thảm họa năm 1986 là hệ quả của một thí nghiệm lò phản ứng vi phạm quy trình an toàn và sau đó không được công bố đầy đủ thông tin.
Hệ quả của vụ nổ và tan chảy tại lò phản ứng số 4 vào rạng sáng 26-4-1986 vẫn kéo dài đến hôm nay.
Hàng triệu người bị phơi nhiễm phóng xạ, hàng trăm nghìn người phải rời bỏ nhà cửa và nhiều khu vực rộng lớn bị ô nhiễm.
Hàng nghìn người sau đó đã chết vì các bệnh liên quan đến phóng xạ như ung thư, dù tổng số liệu người chết và tác động lâu dài vẫn còn gây tranh cãi.
Để kiểm soát lượng chất thải phóng xạ khổng lồ, năm 2016 một mái vòm thép và bê tông được lắp đặt bao phủ lớp "quan tài xây vội" từ năm 1986.
Tuy nhiên theo các quan chức, sự cố vào tháng 2-2025 đã làm thủng lớp kín của công trình này.
Không ghi nhận rò rỉ phóng xạ sau vụ tấn công, nhưng Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu cho biết cần ít nhất 500 triệu euro để sửa chữa nhằm tránh hư hại lâu dài.
Trước đó, công tố viên nhà nước cấp cao của Ukraine nói rằng radar nước này đã phát hiện ít nhất 92 máy bay không người lái bay trong phạm vi 5 km quanh khu vực mái vòm kể từ tháng 6-2024.
Hiện nay khu vực nhà máy hạt nhân cách thủ đô Kiev khoảng 100 km về phía bắc, nằm trong vùng cấm rộng 2.600 km², vẫn được kiểm soát chặt chẽ. Theo ghi nhận của Reuters, nơi đây khá tĩnh lặng, bao quanh là rừng.
Lực lượng Vệ binh Quốc gia tuần tra thường xuyên, trong khi khoảng 2.250 nhân viên làm việc theo ca nhiều ngày để giám sát quá trình ngừng hoạt động của nhà máy. Lò phản ứng cuối cùng đã dừng từ năm 2000.
Bên trong, phòng điều khiển của lò phản ứng số 4 hiện tối mù và phủ đầy các thiết bị thời Liên Xô cũ đã hư hỏng, hoen gỉ.
Trong khi đó xung quanh khu vực nhà máy và thành phố bỏ hoang Prypiat, các loài động vật như nai sừng tấm và ngựa hoang xuất hiện ngày càng nhiều, cho thấy thiên nhiên đang dần quay trở lại.