Ngày 15.6, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư (Bộ đội biên phòng thành phố Đồng Nai) phối hợp lực lượng chức năng tiếp nhận 12 công dân Việt Nam do Campuchia trao trả.
Theo đó, qua điều tra, xác minh, cơ quan chức năng xác định 12 công dân Việt Nam (9 nam, 3 nữ) có hộ khẩu thường trú tại 8 tỉnh, thành gồm: TP.HCM, Tây Ninh, An Giang, Phú Thọ, Lào Cai, Nghệ An, Đồng Tháp và Vĩnh Long.
Số công dân này xuất cảnh sang Campuchia vào nhiều thời điểm khác nhau để làm thuê, sau đó bị Tổng cục Di trú – Bộ Nội vụ Campuchia trục xuất vì vi phạm các quy định về nhập cảnh, lao động, cư trú của nước bạn.
Đáng chú ý, trong số các công dân này có 1 người tái phạm hành vi xuất cảnh trái phép. Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư đang củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Sau khi rà soát, phân loại, hoàn chỉnh hồ sơ ban đầu, Đồn biên phòng Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp xuất, nhập cảnh trái phép.
Đồng thời, hoàn tất thủ tục cho các công dân nhập cảnh vào Việt Nam sau đó bàn giao cho cơ quan công an các tỉnh, thành phố liên quan tiếp nhận và đưa công dân về địa phương.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trong năm 2026

Ban Chấp hành Trung ương vừa ban hành Kết luận số 20-KL/TW của Bộ Chính trị về chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh.
Kết luận nêu rõ sau khi xem xét tờ trình của Tỉnh ủy Quảng Ninh, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương.
Trong đó, tập trung phát triển Quảng Ninh theo hướng đô thị xanh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc.
Thực hiện tái cấu trúc không gian phát triển tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới, di sản thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, chuyển từ tổ chức không gian phân tán sang tích hợp, từ địa giới hành chính sang hệ sinh thái đa trung tâm, mở và liên kết.
Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu mở rộng không gian tăng trưởng, tạo đột phá với động lực tăng trưởng là khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển đồng bộ kinh tế xanh, kinh tế di sản, kinh tế biển, kinh tế biên giới, kinh tế ban đêm và công nghiệp văn hóa.
Đồng thời đẩy mạnh phát triển hạ tầng đường bộ, đường sắt cao tốc, sân bay, cảng biển và hạ tầng đô thị thông minh, kết nối các trung tâm đô thị lớn.
Cùng đó, bảo đảm sự phát triển hài hòa, cân đối giữa các xã, phường, đặc khu; bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa; tăng cường cải cách thể chế, đổi mới quản trị, xây dựng chính quyền kiến tạo phát triển, liêm chính, kỷ luật, kỷ cương, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan liên quan phối hợp với tỉnh Quảng Ninh hoàn thiện hồ sơ, thủ tục theo quy định; báo cáo Trung ương Đảng, trình Quốc hội xem xét, quyết định trong năm 2026.
Trước đó, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành kế hoạch về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình HĐND tỉnh cho ý kiến đối với việc thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân được thực hiện bằng hình thức phát phiếu tới từng hộ gia đình tại 54 xã, phường, đặc khu.
Tháng 4.2026, Thủ tướng ban hành quyết định 606 phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075. Mục tiêu tổng quát là xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương hiện đại, là cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế, phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiều 14-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.
Đồng thời xem xét, thông qua nghị quyết về việc thành lập 10 phường thuộc Đồng Nai, xem xét, thông qua về nguyên tắc việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai.
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình trình bày tờ trình của Chính phủ, trong đó nêu rõ các căn cứ quan trọng, cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Theo đó, Đồng Nai hội tụ nhiều điều kiện để chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng Nai có vị trí là đầu mối liên kết trực tiếp giữa TP.HCM với Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Cùng với hệ thống hạ tầng giao thông, công nghiệp, dịch vụ, logistics ngày càng đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ và dự kiến khai thác thương mại vào cuối năm 2026.
Đồng Nai được xác định có tiềm năng phát triển thành đô thị lớn, đa trung tâm, đa chức năng, có sức lan tỏa mạnh đối với vùng phía Nam và cả nước.
Bộ trưởng nêu rõ việc thành lập thành phố Đồng Nai và các phường sẽ tạo động lực phát triển mới không chỉ cho Đồng Nai mà còn đóng góp thiết thực cho khu vực miền Nam, cả nước.
Đây là bước chuyển căn bản về mô hình phát triển và mô hình quản trị địa phương nhằm đưa Đồng Nai trở thành đô thị lớn, có chức năng chia sẻ, liên kết, tương hỗ cùng phát triển với TP.HCM
Từ đó đạt mục tiêu trở thành cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, giữ vai trò là trung tâm kết nối kinh tế vùng và cửa ngõ hội nhập quốc tế. Là hình mẫu phát triển năng động, hiện đại, văn minh làm cơ sở định hướng không gian phát triển mới cho cả vùng Đông Nam Bộ theo kết luận của Bộ Chính trị.
Chính phủ đề nghị thành lập 10 phường Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh.
Các phường này thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 10 xã Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh thuộc tỉnh Đồng Nai.
Thành lập thành phố Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng 12.737,18km2 diện tích, quy mô dân số 4.491.408 người và 95 đơn vị cấp xã (sau khi thành lập 10 phường) của tỉnh Đồng Nai.
Kết quả sau khi thành lập thành phố và 10 phường, thành phố Đồng Nai không thay đổi về diện tích tự nhiên và quy mô dân số. Có 95 đơn vị cấp xã, gồm 33 phường và 62 xã (giảm 10 xã, tăng 10 phường), tỉ lệ đô thị hóa 54,10% (2.429.835/4.491.408 người).
Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày tán thành với sự cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Ủy ban tán thành với đề xuất của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai trên cơ sở kế thừa Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Cơ quan thẩm tra đề nghị các nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 30-4 theo nguyện vọng và quyết tâm của cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai.
Kết luận phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nêu rõ Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với các nội dung theo các tờ trình, đồng ý trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ông đề nghị chậm nhất 16-4 phải hoàn chỉnh toàn bộ hồ sơ trình Quốc hội và thống nhất các nghị quyết trên sẽ có hiệu lực từ 30-4. Ông cũng đề nghị tỉnh Đồng Nai cần có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ, thủ tục hành chính để vận hành ngay khi nghị quyết có hiệu lực.
Về hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, ông lưu ý toàn bộ giấy tờ của người dân, tổ chức nếu chưa chuyển đổi thì tiếp tục có hiệu lực, trong trường hợp chuyển đổi, Đồng Nai chịu trách nhiệm chi trả chi phí.
Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất việc trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua về nguyên tắc nghị quyết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và dự thảo nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai...
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Thủ tướng Lê Minh Hưng đã ký Nghị định 191 ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ. Quy chế áp dụng đối với Chính phủ, Thủ tướng, thành viên Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ công tác với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Mọi hoạt động của Chính phủ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính phủ quyết định theo nguyên tắc đa số đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền.
Quy chế cũng đề cao trách nhiệm cá nhân, nêu gương của thành viên Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ. Mỗi nhiệm vụ chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện.
Bảo đảm giải quyết công việc đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; thực hiện phân công, phân cấp, ủy quyền theo quy định pháp luật gắn với cá thể hóa trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, quản lý thống nhất của Chính phủ.
Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo đảm cấp dưới phục tùng, chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo, phân công của cấp trên.
Đồng thời, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương theo quy định pháp luật; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia, giám sát, đóng góp trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật.
Khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tham mưu, dám chịu trách nhiệm, đề xuất những vấn đề mới có tính chất phức tạp, vì lợi ích chung.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, dữ liệu thời gian thực trong chỉ đạo, điều hành; xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân.
Chính phủ quyết nghị các nội dung thuộc thẩm quyền theo 1 hoặc cả 2 hình thức sau: thảo luận và quyết nghị tại phiên họp Chính phủ; quyết nghị bằng phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ hoặc hình thức văn bản khác.
Quyết định của Chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành. Trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng Chính phủ đã biểu quyết.
Các đề xuất, dự án, dự thảo văn bản trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định pháp luật, bao gồm: định hướng lập pháp nhiệm kỳ, chương trình lập pháp hằng năm và việc điều chỉnh chương trình lập pháp; đề xuất chính sách; dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các văn bản khác theo quy định pháp luật.
Chính sách và văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm; kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước và các nội dung khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc trình cấp có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Đề án về cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính theo quy định pháp luật để trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Tình hình kinh tế - xã hội định kỳ hằng tháng, hằng quý, 6 tháng, cả năm hoặc những vấn đề quan trọng, đột xuất. Chính sách phát triển ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương. Việc tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo quy định pháp luật...
Chính phủ, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng uỷ Chính phủ theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Chính phủ, Thủ tướng, phó thủ tướng, các thành viên Chính phủ thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động, được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử...
Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của việc không thực hiện đúng các quy định trên, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tự kiểm điểm, phê bình và có báo cáo giải trình gửi Thủ tướng Chính phủ. Việc công khai kết quả thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, kiểm điểm, xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại quy chế này của các đơn vị, cá nhân liên quan, công khai kết quả xử lý trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.
Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo và đề xuất kiến nghị xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại quy chế này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và công khai trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.
Tin Gốc: Thanh Niên

