Chiều 14-4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương.
Đồng thời xem xét, thông qua nghị quyết về việc thành lập 10 phường thuộc Đồng Nai, xem xét, thông qua về nguyên tắc việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai.
Tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình trình bày tờ trình của Chính phủ, trong đó nêu rõ các căn cứ quan trọng, cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Theo đó, Đồng Nai hội tụ nhiều điều kiện để chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng Nai có vị trí là đầu mối liên kết trực tiếp giữa TP.HCM với Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Cùng với hệ thống hạ tầng giao thông, công nghiệp, dịch vụ, logistics ngày càng đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ và dự kiến khai thác thương mại vào cuối năm 2026.
Đồng Nai được xác định có tiềm năng phát triển thành đô thị lớn, đa trung tâm, đa chức năng, có sức lan tỏa mạnh đối với vùng phía Nam và cả nước.
Bộ trưởng nêu rõ việc thành lập thành phố Đồng Nai và các phường sẽ tạo động lực phát triển mới không chỉ cho Đồng Nai mà còn đóng góp thiết thực cho khu vực miền Nam, cả nước.
Đây là bước chuyển căn bản về mô hình phát triển và mô hình quản trị địa phương nhằm đưa Đồng Nai trở thành đô thị lớn, có chức năng chia sẻ, liên kết, tương hỗ cùng phát triển với TP.HCM
Từ đó đạt mục tiêu trở thành cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, giữ vai trò là trung tâm kết nối kinh tế vùng và cửa ngõ hội nhập quốc tế. Là hình mẫu phát triển năng động, hiện đại, văn minh làm cơ sở định hướng không gian phát triển mới cho cả vùng Đông Nam Bộ theo kết luận của Bộ Chính trị.
Chính phủ đề nghị thành lập 10 phường Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh.
Các phường này thành lập trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 10 xã Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh thuộc tỉnh Đồng Nai.
Thành lập thành phố Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng 12.737,18km2 diện tích, quy mô dân số 4.491.408 người và 95 đơn vị cấp xã (sau khi thành lập 10 phường) của tỉnh Đồng Nai.
Kết quả sau khi thành lập thành phố và 10 phường, thành phố Đồng Nai không thay đổi về diện tích tự nhiên và quy mô dân số. Có 95 đơn vị cấp xã, gồm 33 phường và 62 xã (giảm 10 xã, tăng 10 phường), tỉ lệ đô thị hóa 54,10% (2.429.835/4.491.408 người).
Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu trình bày tán thành với sự cần thiết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và thành lập thành phố Đồng Nai.
Ủy ban tán thành với đề xuất của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về việc thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai trên cơ sở kế thừa Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Cơ quan thẩm tra đề nghị các nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 30-4 theo nguyện vọng và quyết tâm của cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai.
Kết luận phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nêu rõ Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với các nội dung theo các tờ trình, đồng ý trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ông đề nghị chậm nhất 16-4 phải hoàn chỉnh toàn bộ hồ sơ trình Quốc hội và thống nhất các nghị quyết trên sẽ có hiệu lực từ 30-4. Ông cũng đề nghị tỉnh Đồng Nai cần có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ, thủ tục hành chính để vận hành ngay khi nghị quyết có hiệu lực.
Về hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, ông lưu ý toàn bộ giấy tờ của người dân, tổ chức nếu chưa chuyển đổi thì tiếp tục có hiệu lực, trong trường hợp chuyển đổi, Đồng Nai chịu trách nhiệm chi trả chi phí.
Tại phiên họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất việc trình Quốc hội khóa XVI xem xét việc thành lập thành phố Đồng Nai tại kỳ họp thứ nhất.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua về nguyên tắc nghị quyết thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai và dự thảo nghị quyết thành lập Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai…
1 Có lẽ, nhân vật "đinh" đặc biệt nhất trong đời làm báo của tôi là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Không phải chỉ vì những vị trí ông từng đảm nhận hay vì ông là tác giả bài Đất nước nổi tiếng, mà bởi ông là con trai của Hải Triều. Ông trở thành nhân vật "nặng ký" nhất trong loạt bài Theo dấu nhà báo Hải Triều mà tôi theo đuổi nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21.6.2025). Chính ông đã giúp tôi bước qua lớp vỏ tư liệu khô cứng để chạm vào phần đời sống phía sau một tên tuổi lớn của nền báo chí cách mạng.
Tôi còn nhớ ngày mưa ở Vỹ Dạ cuối năm 2024, trong căn nhà cũ nơi Hải Triều từng sống cùng gia đình, Nguyễn Khoa Điềm chậm rãi kể chuyện cha mình bằng giọng Huế đầy khiêm nhường. Ông bảo mình không được ở gần cha nhiều vì Hải Triều sớm thoát ly theo kháng chiến chống Pháp. Việc hiểu về cha, với ông, cũng bắt đầu từ cách như một người học trò tìm đọc tư liệu, nghe người thân kể lại rồi tự lần theo dấu vết cuộc đời của một nhà báo cách mạng lớn.
Nhà thơ kể chuyện gia đình nhiều đời làm báo, làm văn hóa; chuyện bà nội ông là Đạm Phương nữ sử, một trong những nữ ký giả đầu tiên của đất nước; chuyện ông cố gắng bổ sung thêm tư liệu cho cuốn Hải Triều toàn tập in năm 2014. Nhưng điều khiến tôi nhớ nhất là lúc ánh mắt ông chùng xuống khi nói: "Muốn hiểu thêm về cụ, chắc phải tiếp tục nghiên cứu, phải có thêm phát hiện…".
Chính câu nói ấy đã giữ tôi ở lại rất lâu với loạt bài này. Càng lần theo cuộc đời Hải Triều, tôi càng đối diện với khoảng trống tư liệu rất lớn về những người làm báo cách mạng buổi đầu. Nhiều bài viết thất lạc, nhiều dấu vết chỉ còn nằm trong ký ức người thân và những cuộc trò chuyện hiếm hoi như thế này. Và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chính là người đã giúp tôi nối lại những mảnh ký ức rời rạc ấy.
Tôi vẫn nhớ cảm giác đứng trên sân khấu nhận giải nhất Giải báo chí Hải Triều năm 2025 tại Huế. Người trao chiếc cúp cho tôi hôm ấy lại chính là ông Nguyễn Khoa Điềm - người mà trước đó tôi đã nhiều lần lặn lội tìm gặp để nghe kể chuyện về cha của ông. Một vòng tròn khép lại đầy duyên nợ!
2 Một trong những nhân vật "đinh" mà tôi nhớ nhất là thượng tọa Thích Huệ Vinh, trụ trì chùa Quán Thế Âm (Đà Nẵng) trong loạt bài Bí ẩn Ngũ Hành Sơn (đoạt giải nhì Giải báo chí Đà Nẵng năm 2023). Tôi vẫn nhớ những ngày rong ruổi dưới chân ngọn Kim Sơn, lần theo những câu chuyện nửa thực nửa huyền hoặc tồn tại hàng trăm năm quanh danh thắng này.
Đó là dạng đề tài rất khó viết. Nếu chỉ sa vào truyền thuyết, bài báo sẽ dễ thành chuyện kể dân gian. Nhưng nếu chỉ nhìn bằng con mắt khảo cứu, toàn bộ hơi thở đời sống và tín ngưỡng của vùng đất sẽ "chết" ngay trên mặt giấy.
Và rồi tôi gặp thượng tọa Thích Huệ Vinh… Ở ông có sự pha trộn rất lạ giữa một nhà tu hành và một người lưu giữ ký ức văn hóa bản địa. Những cuộc trò chuyện thường bắt đầu rất nhẹ nhàng bên hiên chùa Quán Thế Âm, giữa tiếng chuông và mùi nhang trầm thoang thoảng. Nhưng càng nghe, tôi càng nhận ra phía sau dáng vẻ điềm đạm ấy là cả một kho tư liệu về lịch sử, tín ngưỡng và đời sống dân gian quanh Ngũ Hành Sơn.
Ông kể tôi nghe chuyện chọn người vào vai Quán Thế Âm trong lễ hội cùng tên. Một cô gái được tìm kiếm trước cả năm trời, phải ăn chay, học thiền, rèn dáng đi, thần thái chỉ để xuất hiện đúng một giờ đồng hồ trong lễ hóa trang giữa hàng vạn người. Có hôm, ông dẫn tôi ra bờ sông Cổ Cò trước chùa Quán Thế Âm để chỉ nơi tương truyền từng là bến ngự của vua Minh Mạng.
Có lúc, giữa câu chuyện về Huyền Trân công chúa, ông lại trầm xuống. Ông bảo bao đời nay dân ở đây vẫn gọi miếu thờ là miếu Bà thì khó mà nói không tồn tại câu chuyện công chúa từng ghé chân. Đó không hẳn là sử liệu mà là ký ức dân gian được truyền qua nhiều thế hệ. Chính cách nhìn ấy đã giúp tôi hiểu ra điều quan trọng nhất của loạt bài Bí ẩn Ngũ Hành Sơn: đôi khi thứ cần ghi lại không chỉ là "đúng - sai" của lịch sử mà còn là cách cộng đồng lưu giữ niềm tin và ký ức.
3 Trong những nhân vật "đinh" tôi từng gặp, Ra Pát Ngọc Hà, cậu thanh niên người Tà Ôi ở A Lưới (Huế), khá kiệm lời. Phần lớn thời gian gặp nhau, Hà chỉ cúi xuống đẽo nứa, mài lưỡi đồng hoặc ngồi lặng giữa căn nhà sàn ám khói bếp để thổi khèn.
Tôi gặp Hà trong loạt bài Chuyện nghệ nhân gen Z giữa lúc vẫn mang trong lòng nỗi băn khoăn rằng liệu văn hóa truyền thống vùng cao rồi sẽ đi về đâu khi lớp nghệ nhân già lần lượt mất đi. Có những loại nhạc cụ chỉ còn tồn tại trong lời kể. Có những thanh âm đại ngàn tưởng đã biến mất hẳn khỏi Trường Sơn.
Rồi tôi gặp Hà…
Chiều hôm ấy ở A Lưới, sương núi xuống rất nhanh. Tôi vẫn nhớ cảm giác khi nhìn một chàng trai sinh năm 2000 ngồi giữa đại ngàn, tay nâng thứ nhạc cụ từng được xem là khó chơi, khó chế tác bậc nhất của người Tà Ôi. Càng nghe Hà kể chuyện tự tháo chiếc khèn cũ của nghệ nhân để nghiên cứu, chuyện lặn lội sang tận các bản làng bên Lào tìm loại đồng phù hợp làm lưỡi gà, tôi càng hiểu đây không còn là sở thích bình thường của chàng trai trẻ. Đó là một cách giữ lấy ký ức.
Tôi nhớ mãi câu chuyện Hà phục dựng chiếc tù và karyok ayon vốn chỉ còn trong trí nhớ của các già làng. Hôm cậu thổi thử cho một cụ già hơn 80 tuổi nghe, ông đã bật khóc vì quá lâu rồi mới được nghe lại âm thanh của núi rừng năm xưa. Khoảnh khắc ấy khiến tôi hiểu mình đã gặp nhân vật "đinh" của cả loạt bài.
Bởi nếu không có Hà, tuyến bài về những nghệ nhân gen Z rất dễ chỉ dừng lại ở những câu chuyện người trẻ làm nghề truyền thống. Hà xuất hiện như một chỉ dấu rằng mạch ngầm văn hóa đại ngàn vẫn chưa đứt. Giữa thời buổi mà nhiều người trẻ rời bản làng, rời tiếng khèn, rời lễ hội cũ để bước vào đời sống hiện đại, vẫn có một chàng trai lặng lẽ ngồi mài từng chiếc lưỡi đồng để giữ đúng âm sắc của núi rừng.
Dịp 21.6 lại về, tôi lại nghĩ về những nhân vật "đinh" mà mình từng gặp. Họ - những con người không hiện diện trên mặt báo với tư cách tác giả nhưng âm thầm trao cho bài báo điều quan trọng nhất: sự tin cậy và hồn cốt của tác phẩm. Có lẽ cũng chính từ những cuộc gặp gỡ như thế mà tôi vẫn muốn tiếp tục lên đường, tiếp tục đi tìm những con người và những câu chuyện mới cho nghề báo của mình…
Ngày 16-4, lãnh đạo UBND xã Hòa Xuân cho hay vừa có văn bản gửi các xã, phường liên quan về việc phối hợp vận động nhân dân di dời lồng bè nuôi trồng thủy sản tại vịnh Vũng Rô theo quy hoạch.
Qua kiểm đếm thực tế, đến tháng 3-2026, tại vịnh Vũng Rô có 603 cơ sở nuôi với 37.812 lồng/bè. Trong đó, một số lượng lớn chủ bè là người dân cư trú tại các địa phương khác như phường Tuy Hòa, Phú Yên, Xuân Đài, Sông Cầu...
Theo UBND xã Hòa Xuân, hiện nay khu vực vịnh Vũng Rô không quy hoạch nuôi trồng thủy sản.
Để thực hiện kế hoạch sắp xếp, giải tỏa lồng bè của UBND tỉnh, UBND xã Hòa Xuân đề nghị các địa phương chủ động phối hợp vận động các hộ nuôi thực hiện di dời lồng bè theo đúng lộ trình của tỉnh (dự kiến hoàn thành đối với các hộ thuộc các phường trên vào tháng 12-2026).
Đồng thời, các địa phương trên nên rà soát, bố trí vùng nuôi phù hợp quy hoạch trên địa bàn (nếu có), tạo điều kiện cho người dân chuyển đổi sản xuất, ổn định sinh kế.
Trước đó, vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4-2026, UBND xã Hòa Xuân cũng ra 2 văn bản yêu cầu các bè không nuôi trồng thủy sản (bè để trống không nuôi thủy hải sản, bè bị hư hỏng) tự di dời, tháo dỡ lồng bè ra khỏi khu vực vịnh Vũng Rô.
Trong thông báo mới, xã này yêu cầu đến hết ngày 20-4, các chủ lồng bè nêu trên khẩn trương di dời, hoàn trả mặt nước về trạng thái tự nhiên, không để lại rác thải hay vật cản. Những hộ không chấp hành, xã Hòa Xuân sẽ cưỡng chế.
Theo UBND xã Hòa Xuân, hiện Ban quản lý Khu kinh tế Phú Yên đang lập quy hoạch phân khu 1/2.000 Tổ hợp du lịch vịnh Vũng Rô - đảo Hòn Nưa. Để tránh ảnh hưởng sinh kế người dân và thuận lợi cho việc sắp xếp, di dời lồng bè (ưu tiên di dời sắp xếp các bè đã nuôi lâu ở vịnh Vũng Rô), UBND xã Hòa Xuân đề nghị quy hoạch khoảng 150ha nuôi trồng thủy sản ở phía đông vịnh Vũng Rô và đã được Ban quản lý Khu kinh tế Phú Yên thống nhất.
Theo lộ trình đến năm 2030, địa phương sẽ di dời, sắp xếp 603 chủ bè theo từng giai đoạn, ưu tiên giảm dần mật độ nuôi trong vịnh và bố trí người dân địa phương vào vùng nuôi đúng quy hoạch, hướng đến phát triển bền vững gắn với du lịch, dịch vụ và giao thông thủy nội địa trong khu vực.
Trưa 23.6, tin từ Công an xã Hậu Nghĩa (tỉnh Tây Ninh) cho biết đơn vị đã phối hợp với các lực lượng chức năng tỉnh Tây Ninh hoàn tất điều tra ban đầu vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn xã Hậu Nghĩa, khiến 3 người tử vong. Nguyên nhân bước đầu được xác định do người điều khiển xe máy có sử dụng rượu bia, đi sai phần đường.
Theo thông tin ban đầu, vào khoảng 4 giờ 30 phút rạng sáng 23.6, lực lượng Công an và Ban Chỉ huy Quân sự xã Hậu Nghĩa (tỉnh Tây Ninh) nhận được tin báo về một vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng xảy ra trên tuyến đường ĐT.822 đoạn thuộc ấp Tân Mỹ, xã Hậu Nghĩa.
Tại hiện trường, các lực lượng chức năng xác định vụ va chạm xảy ra giữa xe ô tô tải mang biển kiểm soát 50H-168.16 và xe máy biển kiểm soát 62AA-316.64. Thời điểm trên, chiếc xe tải do tài xế Trần Ngọc Quyết (35 tuổi, ngụ thôn Lâm Thượng, xã Lân Phong, tỉnh Quảng Ngãi) điều khiển đang trên lộ trình giao hàng.
Xe máy 62AA-316.64 chở theo 3 người gồm: anh L.M.T (26 tuổi, ngụ ấp Tân Mỹ, xã Hậu Nghĩa, Tây Ninh); N.T.P (14 tuổi, ngụ ấp Hòa Hiệp 2, xã Hiệp Hòa, Tây Ninh) và L.T.N (17 tuổi, ngụ ấp An Định, xã An Ninh, Tây Ninh).
Cú đâm mạnh và trực diện vào xe tải khiến cả 3 thanh niên đi trên xe máy văng xuống đường, tử vong tại chỗ. Do tính chất nghiêm trọng của vụ việc, tại thời điểm khám nghiệm ban đầu, cơ quan chức năng chưa thể xác định được ai là người cầm lái chiếc xe máy.
Ghi nhận tại hiện trường cho thấy chiếc xe máy bị biến dạng, hư hỏng hoàn toàn phần khung sườn, còn chiếc xe ô tô tải cũng bị móp méo, vỡ nát phần đầu xe.
Qua kết quả điều tra, xác minh dấu vết và chứng cứ thu thập được, Công an xã Hậu Nghĩa cùng lực lượng CSGT Công an tỉnh Tây Ninh kết luận nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn thương tâm là do nhóm 3 thanh niên đi xe máy trước đó đã sử dụng rượu bia, dẫn đến việc mất kiểm soát tay lái và lao thẳng vào chiếc xe tải đang lưu thông.
Hiện vụ việc đang được các cơ quan chức năng tỉnh Tây Ninh tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.