Phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 tại Singapore ngày 29/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định diễn đàn này đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thế giới đang đứng trước nhiều rủi ro, bất định. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát.
“Điều các nước cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Chia sẻ về chủ đề “Chủ động kiến tạo hòa bình – ổn định – phát triển trong một thế giới nhiều biến động”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay biến động là trạng thái thường trực của thế giới, nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế.
“Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho hay.
Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế, không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo “sự đã rồi”.
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm, khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy, khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, “cá lớn nuốt cá bé”.
Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh, đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh.
Dẫn chứng những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế – xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Về khủng hoảng mô hình phát triển, theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
“Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự ‘tròng trành’ về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược”, lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh.
Về khủng hoảng lòng tin chiến lược, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an.
“Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay.
Vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay ba cuộc khủng hoảng trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á – Thái Bình Dương. Ông nêu 6 định hướng nhằm kiến tạo một khu vực hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự.
“Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường. Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho hay.
“Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, không gian kết nối chung, huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu”, lãnh đạo Việt Nam nêu thêm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Một định hướng khác là cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm.
“ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung. Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay.
Lãnh đạo Việt Nam khẳng định cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác.
“Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực, đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói. “Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp”.
Đồng thời, khu vực cũng cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng.
“Chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng – an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định.
Các bên cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu, bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức.
Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn.
“Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay.
Châu Á – Thái Bình Dương cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, châu Á – Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Các nước cần nhiều hơn các kênh tham vấn, cơ chế trung gian, nhóm tiếp xúc khi có sự cố, diễn đàn thảo luận cùng những sáng kiến xây dựng lòng tin nhằm tạo ra những “lối thoát ngoại giao” trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Khép lại bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ tin tưởng châu Á – Thái Bình Dương “có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng”.
“Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc, nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho hay.
“Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á – Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn”, ông nhấn mạnh.
Trong bài phát biểu hôm nay tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ, cơ quan nghiên cứu chiến lược hàng đầu và uy tín bậc nhất, có vai trò tiên phong trong định hình chính sách đối ngoại của Ấn Độ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ quan điểm về quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ với phương châm chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược và hợp tác thực chất.
Lãnh đạo Việt Nam cho hay dựa trên nền tảng tin cậy và gắn bó, quan hệ hai nước từng bước được định hình và phát triển, không ngừng được mở rộng và làm sâu sắc trong những năm qua, theo Bộ Ngoại giao. Hai bên đều đang hướng đến những mục tiêu phát triển mới và đang bước vào bối cảnh mới khi thế giới đang biến đổi nhanh chóng, sâu sắc chưa từng có, đồng thời cũng mở ra các cơ hội mới.
"Bối cảnh mới, yêu cầu mới của giai đoạn phát triển mới của mỗi nước đòi hỏi chúng ta phải củng cố, đổi mới và đưa quan hệ Việt Nam - Ấn Độ phát triển lên tầm cao mới", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu ra 5 định hướng trọng tâm để đưa quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ sang tầm mức mới, theo hướng khai phá tiềm năng, mở ra không gian, lĩnh vực mới.
Đầu tiên là hai bên cần củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chiến lược. Đây là điều kiện để duy trì quan hệ ổn định, cũng là nền tảng để thúc đẩy hợp tác hiệu quả và cùng ứng phó với các thách thức chung.
Hai nước cần tiếp tục tăng cường trao đổi toàn diện ở các kênh, cũng như mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược, gồm có an ninh - quốc phòng.
Việt Nam và Ấn Độ cũng cần nâng cao hiệu quả hành động, phối hợp lập trường trong các diễn đàn đa phương bao gồm ASEAN, Liên Hợp Quốc, phong trào Không liên kết, đặc biệt là trong bối cảnh khu vực và quốc tế đang diễn biến phức tạp.
Thứ hai là mở rộng dư địa kết nối, gia tăng kết nối phát triển, tạo thêm động lực cho liên kết khu vực, trong đó phát triển các kết nối về hạ tầng, logistics, số hóa và chuỗi giá trị là mắt xích quan trọng.
Việt Nam sẵn sàng hợp tác về dược phẩm với Ấn Độ, hoan nghênh các hãng dược Ấn Độ đầu tư sản xuất dược phẩm tại Việt Nam cho thị trường Đông Nam Á.
Hai bên sẽ mở rộng cơ chế kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp và địa phương thông qua các diễn đàn hợp tác và chương trình xúc tiến đầu tư; từ đó chuyển hóa các định hướng hợp tác thành những dự án cụ thể gắn với từng ngành, từng địa phương và từng chuỗi giá trị.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ là một trục kết nối chiến lược giữa Đông Nam Á và Nam Á. Thông qua quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường giữa hai nước, khuôn khổ ASEAN - Ấn Độ, hợp tác Mekong - Sông Hằng, cũng như các sáng kiến kết nối khu vực, hai nước có thể đóng góp vào việc củng cố không gian hợp tác rộng mở, bao trùm và năng động.
Thứ ba là nâng tầm và tăng tốc hợp tác khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược thành trụ cột trọng yếu trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực chính của tăng trưởng, nhân tố mới quyết định sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia; đòi hỏi những hình thức hợp tác sâu hơn, đa dạng hơn trong các lĩnh vực định hình tương lai như kinh tế số, dữ liệu, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo.
Việt Nam đặc biệt coi trọng hợp tác với Ấn Độ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực chiến lược như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số.
Hai bên có thể thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này không chỉ ở cấp định hướng mà ngay tại cấp thực thi, thông qua việc xác định rõ các lĩnh vực mũi nhọn và mô hình triển khai; thiết lập các chương trình hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, gắn với đào tạo và dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao giữa hai nước.
Lan tỏa các giá trị văn hóa - xã hội, tăng cường giao lưu nhân dân cũng là một định hướng quan trọng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng hai bên cần chú trọng, bởi sự gắn bó giữa con người với con người, xã hội với xã hội cũng góp phần làm nên sức sống lâu bền của quan hệ giữa các quốc gia.
Năm 2025 ghi nhận gần một triệu lượt khách du lịch giữa Việt Nam và Ấn Độ, cho thấy mức độ kết nối ngày càng sâu rộng giữa hai nước, nhưng vẫn còn nhỏ bé so với tiềm năng dân số, tiềm lực kinh tế hai nước.
Để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này, hai bên cần tăng cường hợp tác giáo dục - đào tạo, văn hóa, du lịch, kết nối địa phương và giao lưu nhân dân, đặc biệt là giữa thế hệ trẻ.
Cuối cùng, Việt Nam và Ấn Độ cần chung tay kiến tạo và củng cố không gian hòa bình, ổn định bởi hai bên đều thấu hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình. Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, mà còn là sự tạo dựng, củng cố các điều kiện cấu trúc, thể chế và văn hóa để thúc đẩy hòa bình bền vững, công lý và thịnh vượng của con người.
"Hòa bình cũng không phải là mặc nhiên sẵn có, mà là kết quả của đối thoại chân thành, của trách nhiệm trong ứng xử giữa các quốc gia và của sự tôn trọng kiên định các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Ahmad Vahidi, cựu bộ trưởng quốc phòng và nội vụ Iran, ngày 1/3 được bổ nhiệm làm tư lệnh lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), ngay sau khi xung đột Trung Đông nổ ra.
IRGC là lực lượng đặc thù trong cấu trúc "quân đội song song" độc nhất vô nhị của Iran. Thay vì xây dựng một lực lượng thống nhất, Iran duy trì hai tổ chức vũ trang gồm IRGC và quân đội chính quy, hoạt động độc lập với nhau với hệ thống chỉ huy riêng. IRGC có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạch định chính sách an ninh, đồng thời sở hữu những khí tài mạnh mẽ. Lãnh đạo IRGC báo cáo trực tiếp cho Lãnh tụ Tối cao, trong khi quân đội Iran chịu quản lý của chính phủ. Với vị thế này, IRGC có ảnh hưởng về mặt chính trị lớn hơn cả quân đội.
Tuy nhiên, lãnh đạo IRGC là một công việc nguy hiểm. Qassem Soleimani, người từng là chỉ huy lâu năm của lực lượng Quds tinh nhuệ thuộc IRGC, đã thiệt mạng trong cuộc không kích bằng máy bay không người lái (UAV) của Mỹ vào Iraq năm 2020 theo lệnh từ Tổng thống Donald Trump.
Mohammad Pakpour, cựu tư lệnh IRGC, cũng thiệt mạng khi Mỹ - Israel mở chiến dịch không kích Iran ngày 28/2. Pakpour mới được bổ nhiệm sau khi Israel hạ sát người tiền nhiệm của ông là tướng Hossein Salami trong cuộc chiến kéo dài 12 ngày hồi tháng 6 năm ngoái.
Việc ông Vahidi được bổ nhiệm làm lãnh đạo mới của IRGC không gây bất ngờ. Hồi tháng 12 năm ngoái, cố lãnh tụ tối cao Ali Khamenei đã đề bạt ông làm phó chỉ huy. Trước đó, ông từng giữ chức phó tổng tham mưu trưởng quân đội Iran.
Gia nhập IRGC từ những ngày đầu thành lập vào cuối thập niên 1970, Vahidi đã thăng tiến qua các cấp bậc trong những năm 1980, nắm giữ các vị trí chủ chốt trong ngành tình báo và quân đội. Ông đã lãnh đạo lực lượng Quds từ năm 1988 đến 1997.
Khác với hai người tiền nhiệm, sự nghiệp của Vahidi không thuần túy chỉ trong lĩnh vực quân sự. Ông từng nắm giữ các vai trò chính trị trong nội các, giữ chức bộ trưởng quốc phòng năm 2009 - 2013 dưới thời cựu tổng thống Mahmoud Ahmadinejad. Ông được bổ nhiệm làm bộ trưởng nội vụ dưới thời cố tổng thống Ebrahim Raisi năm 2021 - 2024.
Giới phân tích nhận định kinh nghiệm sâu rộng trong chính phủ và các cơ quan an ninh giúp Vahidi có tầm ảnh hưởng lớn trong bộ máy nhà nước. Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng ở thời điểm hiện tại, sau cái chết của nhiều lãnh đạo cấp cao Iran và các tướng lĩnh quân sự kỳ cựu.
Ali Alfoneh, chuyên gia về Iran tại Viện các Quốc gia vùng Vịnh Arab, tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington, nhận định Vahidi là "quan chức giàu năng lực", người có nền tảng giúp ông trở thành một "lãnh đạo thời chiến then chốt, tổng chỉ huy lý tưởng của IRGC, tổ chức không đơn thuần là quân đội".
Vào giữa thập niên 1980, Vahidi được cho là đã tham gia vào những cuộc liên lạc bí mật giữa đại diện Iran và các trung gian thân cận với chính quyền tổng thống Mỹ Ronald Reagan.
Những cuộc tiếp xúc này liên quan đến vụ bê bối Iran-Contra, trong đó, chính phủ Mỹ bí mật bán vũ khí cho Iran để giải thoát con tin, sau đó dùng số tiền này để tài trợ cho phiến quân Contra chống chính phủ Sandinista ở Nicaragua. Sự việc vi phạm lệnh cấm của quốc hội Mỹ, gây rúng động dư luận.
Chuyên gia Alfoneh đánh giá ông Vahidi là người "am hiểu" về Israel và Mỹ nhờ tham gia vào các cuộc đàm phán như vậy.
Quan điểm cứng rắn của giới lãnh đạo IRGC với Mỹ và Israel đang thể hiện rõ trong những diễn biến cuối tuần qua.
Ngày 17/4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi trong bài đăng trên mạng xã hội X tuyên bố eo biển Hormuz mở hoàn toàn cho các tàu thương mại. Động thái khiến giá dầu giảm và ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh từ Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Tuy nhiên, lực lượng vũ trang Iran một ngày sau đó thông báo tái áp đặt hạn chế ở eo biển Hormuz. Hải quân IRGC cảnh báo các chủ tàu rằng mọi nỗ lực vượt eo biển mà không được cấp phép "sẽ phải đối mặt với phản ứng khốc liệt từ lực lượng Iran". Một cố vấn cấp cao của IRGC cho biết lãnh đạo lực lượng này cảm thấy tức giận khi ông Araghchi đã không phối hợp với họ trước khi đưa ra tuyên bố.
Beni Sabti, chuyên gia về Iran tại Viện Nghiên cứu An ninh Quốc gia Israel, nhận định Vahidi hiện có thể sở hữu quyền lực vượt trội so với những quan chức tầm cỡ khác tại Tehran, bao gồm cả Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf.
Mohammad Ali Shabani, chủ biên hãng tin Amwaj ở Anh chuyên theo dõi Trung Đông, đánh giá rằng Vahidi còn "cứng rắn hơn cả những người tiền nhiệm".
Đài CNN ngày 3.4 dẫn lời một quan chức Lầu Năm Góc cho biết Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth đã yêu cầu Tham mưu trưởng Lục quân Randy George từ chức ngay lập tức.
Phát ngôn viên Lầu Năm Góc Sean Parnell xác nhận việc ông George từ chức và viết trên X rằng "tướng Randy A. George sẽ rời khỏi vị trí Tham mưu trưởng thứ 41 của Lục quân, có hiệu lực ngay lập tức. Bộ Chiến tranh biết ơn những thập niên phục vụ đất nước của tướng George".
Động thái của ông Hegseth diễn ra một ngày sau bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump trước toàn quốc về cuộc chiến với Iran. Trong bài phát biểu, ông Trump ra tín hiệu Mỹ sẽ tăng cường các cuộc tấn công vào Iran. Trước đó, ông cho biết Mỹ có thể kết thúc cuộc chiến trong vòng 2-3 tuần.
Trên cương vị Tham mưu trưởng Lục quân, tướng George đã hợp tác chặt chẽ với Bộ trưởng Lục quân Dan Driscoll, một quan chức cấp cao mà Bộ trưởng Hegseth coi là mối đe dọa và đôi khi có mối quan hệ căng thẳng. Ông Hegseth cũng đã cách chức một số sĩ quan quân đội cấp cao khác trong nhiệm kỳ của mình.
Ông George tốt nghiệp Học viện Quân sự Mỹ tại West Point vào năm 1988 và là sĩ quan bộ binh chuyên nghiệp. Ông giữ chức tham mưu trưởng từ tháng 9.2023. Trước đó, ông từng chỉ huy Quân đoàn I tại Căn cứ Lewis-McChord và sau đó giữ chức trợ lý cấp cao cho cựu Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin dưới thời chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden.
Khi ông Hegseth đề cử trợ lý quân sự cấp cao của mình là tướng Chris LaNeve làm Phó tham mưu trưởng Lục quân, đã có nhiều đồn đoán trong giới quân đội và Lầu Năm Góc, rằng ông LaNeve sẽ kế nhiệm ông George. Với tư cách là Phó tham mưu trưởng, ông LaNeve có khả năng sẽ đảm nhiệm vai trò quyền tham mưu trưởng trong thời gian tới.