Ngày 24-6, Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng ra mắt Ban Bảo vệ trẻ em và đưa vào hoạt động Phòng tham vấn hỗ trợ trẻ em.
Mô hình được triển khai với sự hỗ trợ của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), hướng đến xây dựng môi trường khám chữa bệnh an toàn, thân thiện và tăng cường bảo vệ trẻ em trong cơ sở y tế.
Ngoài chăm sóc sức khỏe thể chất, mô hình mới còn tập trung phát hiện sớm, hỗ trợ và can thiệp đối với các trường hợp trẻ có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, bỏ bê hoặc gặp các vấn đề tâm lý – xã hội.
Ban Bảo vệ trẻ em gồm 9 thành viên do BSCKII Võ Hữu Hội, Phó giám đốc Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng, làm Trưởng ban, có nhiệm vụ phối hợp phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ bạo lực, xâm hại; tiếp nhận, điều trị tổn thương thể chất và tâm lý; đồng thời kết nối mạng lưới bảo vệ trẻ em ngoài cộng đồng.
Theo ông Hội, bệnh viện đã xây dựng quy trình gồm 5 bước từ tiếp nhận, đánh giá, lập kế hoạch can thiệp đến theo dõi, hỗ trợ nhằm đảm bảo trẻ được bảo vệ kịp thời và toàn diện.
Mô hình có Phòng tham vấn hỗ trợ trẻ em là không gian riêng biệt được thiết kế thân thiện, bảo mật để trẻ dễ dàng chia sẻ những tổn thương, khó khăn mà các em đang gặp phải.
Trước đây, bệnh viện vẫn tiếp nhận các trường hợp trẻ cần hỗ trợ tâm lý hoặc nghi bị bạo lực, xâm hại. Tuy nhiên việc tham vấn chủ yếu được thực hiện tại phòng làm việc hoặc các không gian dùng chung trong bệnh viện, nên còn nhiều hạn chế về tính riêng tư.
Nhiều trẻ có tâm lý e dè, lo sợ nên rất khó chia sẻ trong môi trường đông người. Phòng tham vấn mới sẽ giúp các em cảm thấy an toàn hơn khi bộc lộ cảm xúc, từ đó nhân viên y tế và công tác xã hội có thể tiếp cận, hỗ trợ hiệu quả hơn.
Khi phát hiện trẻ có nguy cơ bị bạo lực hoặc xâm hại, bệnh viện sẽ phối hợp với công an, tư pháp, cán bộ trẻ em và chính quyền địa phương để xây dựng phương án bảo vệ phù hợp, kể cả sau khi trẻ xuất viện.
Trong khuôn khổ chương trình, các chuyên gia từ Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM) cũng chia sẻ kinh nghiệm nhận diện, tiếp nhận và xử trí các trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại trong cơ sở y tế; đồng thời thảo luận về cơ chế phối hợp liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ trẻ em.
Chuối là loại trái cây giàu dinh dưỡng, quen thuộc trong chế độ ăn hằng ngày nhờ vị ngọt tự nhiên, dễ ăn và tiện lợi. Tuy nhiên, với người kiểm soát cân nặng hoặc lượng đường, hàm lượng calo và carbohydrate trong chuối là mối quan tâm phổ biến. Hiểu rõ thành phần dinh dưỡng giúp bạn sử dụng loại trái cây này hợp lý hơn.
Chuối cung cấp năng lượng chủ yếu từ carbohydrate, chiếm khoảng 93% tổng lượng calo. Trung bình, một quả chuối cỡ vừa chỉ chứa khoảng 100-105 calo, mức không quá cao so với nhiều thực phẩm khác.
Hàm lượng calo và carbohydrate thay đổi tùy theo kích thước quả. Dưới đây là bảng ước tính theo các khẩu phần phổ biến.
Ngoài ra, mỗi quả chuối còn chứa khoảng 2-4 g chất xơ, tùy thuộc vào kích thước của nó. Carbohydrate thuần là lượng carb cơ thể thực sự hấp thu, được tính bằng cách lấy tổng carbohydrate trừ đi phần chất xơ không tiêu hóa.
Nhìn chung có thể ước tính nhanh, một quả chuối trung bình cung cấp khoảng 100 calo và gần 27 g carbohydrate.
Ảnh hưởng của độ chín đến carbohydrate
Carbohydrate là thành phần dinh dưỡng chính trong chuối, nhưng tỷ lệ và dạng của chúng thay đổi rõ rệt theo độ chín.
Chuối xanh chứa nhiều tinh bột, trong đó có một phần là tinh bột kháng. Khi quả chín dần, phần tinh bột này được chuyển hóa thành đường đơn, khiến chuối vàng ngọt hơn và đồng thời chứa ít tinh bột kháng hơn.
Tinh bột kháng là loại carbohydrate không được tiêu hóa ở ruột non mà đi thẳng xuống ruột già, hoạt động tương tự chất xơ. Tại đây, nó nuôi dưỡng lợi khuẩn đường ruột. Khi vi khuẩn lên men tinh bột kháng, chúng tạo ra khí và các axit béo chuỗi ngắn (SCFA) - những hợp chất quan trọng với sức khỏe tiêu hóa.
Phần lớn các SCFA này sau đó được hấp thụ qua niêm mạc ruột và được cơ thể sử dụng như một nguồn năng lượng. Vì vậy, dù tinh bột kháng không cung cấp nhiều calo ngay trong quá trình tiêu hóa như tinh bột thông thường, nó vẫn có thể gián tiếp tạo ra năng lượng. Do đó, xét tổng thể, chuối xanh và chuối chín không khác biệt đáng kể về lượng calo cung cấp.
Giá trị dinh dưỡng khác của chuối
Ăn chuối còn cung cấp nhiều vi chất có lợi. Một quả chuối cỡ trung bình chứa khoảng 3 g chất xơ, giúp hỗ trợ tiêu hóa và tạo cảm giác no lâu hơn.
Chuối cũng giàu vitamin B6, đáp ứng khoảng 25% nhu cầu hằng ngày, đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa và chức năng thần kinh. Loại quả này còn cung cấp vitamin C, mangan, kali, folate và riboflavin.
Hàm lượng kali trong chuối hỗ trợ điều hòa huyết áp, tốt cho tim mạch, là lựa chọn trong chế độ ăn lành mạnh.
Trên thực tế, không phải cứ thay cơm hay tinh bột trắng bằng khoai lang thì chắc chắn sẽ giảm cân. Nguyên tắc cơ bản của giảm cân là cơ thể phải thâm hụt calo. Điều này có nghĩa là không có loại thực phẩm nào tự động khiến cân nặng giảm xuống nếu tổng lượng calo nạp vào trong ngày vẫn nhiều, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong 100 gram khoai lang luộc chứa khoảng 80 - 90 calo. Trong khi đó, 100 gram cơm trắng sẽ chứa khoảng 130 - 150 calo. Do đó, khi thay một phần cơm bằng khoai lang, lượng calo nạp vào có thể giảm xuống. Tuy nhiên, nếu sau đó tiếp tục ăn thêm các món ăn vặt, bánh ngọt hoặc đồ uống nhiều đường, tổng lượng calo trong ngày vẫn có thể vượt nhu cầu.
Đây là lý do có thể 2 người cùng ăn khoai lang nhưng kết quả lại khác nhau. Người duy trì được mức calo hợp lý sẽ giảm cân, trong khi người ăn quá nhiều vẫn sẽ bị tăng cân.
Ngoài ra, cách chế biến khoai lang cũng rất quan trọng. Một nghiên cứu đăng trên chuyên san Journal of Nutrition and Metabolism cho thấy chỉ số đường huyết của khoai lang có thể thay đổi đáng kể tùy vào phương pháp chế biến. Khoai lang luộc thường có chỉ số đường huyết thấp hơn so với khoai nướng.
Các món khoai lang chiên, tẩm đường, phủ bơ hoặc kết hợp với sữa đặc có thể chứa lượng calo cao hơn rất nhiều so với khoai luộc hoặc hấp.
Một trong những nguyên nhân thường gặp là ăn quá nhiều. Dù là món ăn lành mạnh nhưng khoai lang vẫn cung cấp năng lượng. Nếu ăn với số lượng lớn mỗi ngày, lượng calo tích lũy có thể vượt quá nhu cầu của cơ thể.
Ít vận động cũng là một yếu tố quan trọng. Nếu mức độ hoạt động thể chất giảm xuống trong khi lượng thức ăn vẫn giữ nguyên hoặc tăng lên, cân nặng vẫn có thể tăng dù chế độ ăn là lành mạnh.
Bên cạnh đó, tuổi tác, giới tính, khối lượng cơ bắp, giấc ngủ và các yếu tố nội tiết cũng ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cân nặng. Vì vậy, cùng một loại thực phẩm nhưng mỗi người có thể có phản ứng khác nhau, theo Healthline.
Đó là tình huống được nam sinh viên cho biết khi đến khám tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Tại đây, người bệnh được chẩn đoán liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên (còn gọi là liệt mặt).
Theo Th.S-BS Hoàng Duy Luân, Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai, bệnh nhân được chỉ định điều trị bằng y học hiện đại sử dụng thuốc kháng viêm kết hợp y học cổ truyền điện châm, xoa bóp bấm huyệt, giác hơi. Sau một thời gian ngắn điều trị, tình trạng cải thiện rõ rệt, vận động cơ mặt phục hồi tốt hơn, ăn uống và sinh hoạt thuận lợi hơn.
Th.S-BS Hoàng Duy Luân thông tin: Liệt dây thần kinh số 7 là tình trạng khá phổ biến có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Hiện nhiều người vẫn hiểu chưa đúng vì cho rằng bệnh chỉ xảy ra vào mùa đông, mùa hè thời tiết nóng không thể "trúng lạnh". Thực tế, việc di chuyển liên tục giữa môi trường nóng và lạnh, đang ở ngoài trời nắng nóng vào phòng điều hòa ngay, để luồng gió lạnh thổi trực tiếp vào mặt, đầu hoặc gáy có thể khiến mạch máu co thắt gây thiếu máu cục bộ và viêm dây thần kinh dẫn tới liệt mặt.
Để hạn chế nguy cơ liệt mặt giữa thời tiết nắng nóng, người dân không để điều hòa quá lạnh. Tránh để luồng gió lạnh thổi thẳng vào mặt, đầu, gáy. Không tắm khuya. Nên sấy khô đầu sau khi gội. Hạn chế thay đổi nhiệt độ đột ngột và có biện pháp khi phải di chuyển ra vào các khu vực nóng lạnh để tránh sốc nhiệt. Tập luyện thể dục đều đặn. Ăn uống điều độ, ngủ đủ giấc. Giữ tinh thần thoải mái, tránh stress kéo dài.
Theo BS Luân, bệnh tuy không đe dọa tính mạng nhưng nếu chậm điều trị có thể để lại di chứng kéo dài như co cứng cơ mặt, méo miệng dai dẳng, giảm vị giác, ảnh hưởng ngoại hình và tâm lý…
Liệt mặt ngoại biên nếu được phát hiện sớm trong "giai đoạn vàng", điều trị đúng hướng sẽ có khả năng hồi phục cao. Tùy từng trường hợp, người bệnh có thể được điều trị nội khoa, kết hợp y học cổ truyền như châm cứu, giác hơi, xoa bóp bấm huyệt để tối ưu hiệu quả.
BS Luân khuyến cáo: Trường hợp nam sinh viên nói trên cho thấy liệt mặt có thể xảy ra vào mùa hè, nhất là khi nhiệt độ thay đổi đột ngột, thói quen nằm phòng điều hòa quá lạnh và người khỏe mạnh cũng có thể gặp biến cố bất ngờ. Giữ cơ thể thích nghi tốt với nhiệt độ môi trường, tránh môi trường chênh lệch lớn về nhiệt độ phòng và nhiệt độ bên ngoài khi nắng nóng. Đi khám ngay khi có dấu hiệu bất thường: mặt mất cân đối; miệng méo lệch sang bên; mất nếp nhăn trán; mắt bên liệt nhắm không kín; uống nước dễ chảy ra ngoài khóe miệng; nói không tròn tiếng; không huýt sáo, không phồng má được; có thể kèm đau tai, ù tai; giảm vị giác ở phần trước lưỡi…
Không tự ý cạo gió, đắp thuốc, hoặc trì hoãn điều trị, tự chữa bệnh tại nhà để tránh những di chứng đáng tiếc. Đặc biệt, bệnh nhân cần được chẩn đoán đúng nguyên nhân gây liệt mặt, vì cùng bị liệt mặt, méo miệng nhưng nguyên nhân khác cần hướng điều trị kịp thời và phù hợp.