“Thỏa thuận theo kế hoạch sẽ được ký vào ngày mai và eo biển Hormuz sẽ mở cửa cho tất cả các bên ngay sau đó”, Tổng thống Mỹ Donald Trump viết trên mạng xã hội Truth Social ngày 13/6.
Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif cùng ngày cho biết Mỹ và Iran “đang cận kề thỏa thuận hơn bao giờ hết” và nhiều khả năng các bên sẽ hoàn tất những nội dung cuối cùng “trong vòng 24 giờ”. Pakistan là bên trung gian quan trọng trong tiến trình đàm phán Mỹ – Iran.
“Pakistan đang chuẩn bị cho lễ ký thỏa thuận hòa bình bằng hình thức điện tử, tiếp theo là các cuộc đàm phán cấp kỹ thuật vào tuần tới”, Thủ tướng Sharif nói.
Bộ Ngoại giao Pakistan cũng thông báo lễ ký dự kiến diễn ra ngày 14/6.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei lưu ý không nên suy đoán quá sớm về thời điểm ký thỏa thuận.
“Thời điểm ký bản ghi nhớ chưa được xác định, nhưng sẽ không phải ngày 14/6 Không loại trừ khả năng điều này sẽ diễn ra trong những ngày tới. Tuy nhiên, do bên kia còn do dự, chúng tôi phải thận trọng khi đưa ra bình luận về tiến trình”, ông cho hay.
Truyền thông Trung Đông gần đây đưa tin các quan chức Qatar đã tới Iran ngày 10-11/6 nhằm hóa giải một số bất đồng then chốt giữa Washington và Tehran, bất chấp những đòn tập kích qua lại giữa hai nước.
Nguồn tin mô tả cuộc thương lượng ở Tehran đã đạt được “những bước đột phá thực sự”. Phái đoàn Qatar đã chuyển cho Mỹ “lời chấp thuận” của Iran dành cho dự thảo thỏa thuận mới nhất về chấm dứt chiến sự.
Axios dẫn ba nguồn tin cho biết 3 bất đồng quan trọng giữa Iran và Mỹ đã được giải quyết gồm cơ chế giải ngân tài sản bị phong tỏa của Iran, phương án mở lại eo biển Hormuz trong thời gian ngừng bắn 60 ngày và cách thức tiến hành đàm phán về chương trình hạt nhân Iran trong giai đoạn đó.
Tuy nhiên, Mỹ và Iran vẫn liên tục đưa ra thông tin mâu thuẫn lẫn nhau về nội dung thỏa thuận tiềm năng, khi hai bên đều muốn thể hiện mình là bên có lợi thế.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 12/6 cho biết dự thảo thỏa thuận hiện nay có điều khoản Mỹ dỡ bỏ phong tỏa đường biển đối với Iran. “Việc quản lý eo biển Hormuz sẽ không còn như trước nữa”, ông Araghchi nói, đồng thời mô tả tuyến hàng hải này là một trong những “công cụ răn đe chủ chốt” của Iran.
Trong khi đó, một quan chức Mỹ ngày 13/6 cho biết Iran sẽ phải mở cửa eo biển Hormuz hoàn toàn và không thu phí. “Khi họ thực hiện điều đó, chúng tôi sẽ dỡ bỏ lệnh phong tỏa. Bước tiếp theo sẽ là rà phá thủy lôi trên eo biển và các nước G7 có thể tham gia nỗ lực này”, quan chức Mỹ nói ngày 13/6, thêm rằng hai bước đi sẽ được triển khai song song.
Tin Gốc: Vnexpress

Trung úy Kim, chỉ huy trung đội tại một đơn vị trực chiến của quân đội Hàn Quốc ở khu vực thủ đô Seoul, hồi đầu năm nay đối mặt với tình huống khó xử hiếm thấy. Ông phải cho phép một hạ sĩ không tham gia khóa huấn luyện mùa đông khắc nghiệt, vì người này vừa trở về đơn vị sau kỳ nghỉ phép với chiếc mũi vẫn còn sưng tấy sau ca phẫu thuật thẩm mỹ.
"Tôi rất bối rối vì anh ta phẫu thuật nâng mũi mà không báo trước", trung úy Kim nói, thêm rằng ông phải loại người lính này khỏi danh sách huấn luyện vì sợ vết thương chưa lành sẽ gây ra biến chứng.
Tình huống khó xử của trung úy Kim không phải cá biệt. Xu hướng phẫu thuật thẩm mỹ của các binh sĩ Hàn Quốc ngày càng gia tăng, được thúc đẩy một phần bởi mức lương quân đội tăng và chiến lược tiếp thị rầm rộ của các cơ sở thẩm mỹ. Điều này đang gây ra những gián đoạn trong công tác tại đơn vị và làm lộ ra lỗ hổng nghiêm trọng trong quy định quân đội.
Xu hướng này cũng đang gây ra bất mãn đối với các binh sĩ không phẫu thuật, vốn phải gánh vác khối lượng công việc thay cho những binh sĩ đang hồi phục sau các ca nâng mũi, cắt mí và được hưởng chế độ đặc biệt.
Phẫu thuật thẩm mỹ trong quân đội Hàn Quốc không phải là điều mới mẻ. Trong quá khứ, các đơn vị chấp nhận việc này khi lính nghĩa vụ tận dụng kỳ nghỉ dài trong những tháng cuối cùng tại ngũ để làm phẫu thuật trước khi quay lại cuộc sống dân sự.
Tuy nhiên, mô hình này đã thay đổi đáng kể gần đây, khi ngày càng nhiều binh sĩ đi phẫu thuật thẩm mỹ dù còn lâu mới hết thời gian phục vụ quân đội.
Quân đội Hàn Quốc không có số liệu thống kê chính thức về số binh lính phẫu thuật thẩm mỹ, nhưng sự thay đổi này thể hiện rất rõ rệt trong xã hội, khi nhiều quân nhân tại ngũ liên tục hỏi các cơ sở làm đẹp về thời gian hồi phục và chi phí phẫu thuật.
"Mỗi tuần có 2-3 binh sĩ đến chỗ tôi để xin tư vấn về phẫu thuật cắt mí hoặc sửa mũi", Choi, 38 tuổi, quản lý tư vấn tại một phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ ở quận Gangnam, cho biết.
Văn hóa quân đội linh hoạt hơn, quan điểm thế hệ thay đổi và mức lương tăng đáng kể đang thúc đẩy đà gia tăng này. Hạ sĩ Choi, 22 tuổi, được phỏng vấn tại một phòng khám ở Gangnam vào ngày 4/5, cho biết anh đã tiết kiệm được 1,2 triệu won (khoảng 815 USD) từ tiền lương hàng tháng để đủ tiền phẫu thuật cắt mí.
"Tôi thậm chí còn hạn chế mua đồ tiêu dùng trong căn cứ để có tiền phẫu thuật", Choi nói.
Các phòng khám cũng đang tích cực nhắm vào nhóm khách hàng này bằng các quảng cáo bắt mắt trên mạng xã hội, cung cấp mã giảm giá cho quân nhân. Khi phóng viên báo Hankook Ilbo đến thăm một phòng khám ở Gangnam và tự nhận là binh sĩ đang tại ngũ, phòng khám đã đưa ra mức giảm giá 40%.
Xu hướng thẩm mỹ của binh lính khiến áp lực với các chỉ huy ngày càng tăng. Một trung úy đóng quân tại vùng Chungcheong gần đây phải miễn nhiệm vụ gác đêm cho một binh sĩ sau khi người này trở về đơn vị với đôi mắt sưng húp vì cắt mí.
"Tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc miễn gác cho anh ta để đảm bảo an toàn. Cuối cùng, chúng tôi phải điều chỉnh lại lịch gác, tăng ca gác với những đồng đội khác", trung úy nói.
Các chỉ huy cũng phải đối mặt với sức ép từ phía gia đình binh sĩ. Đại úy Park, chỉ huy một đại đội tại tỉnh Gangwon, hồi tháng 3 nhận được cuộc gọi từ mẹ của một binh sĩ, yêu cầu con trai mình được miễn đào chiến hào vì vết cắt mí chưa lành.
"Điều đó có thể tạo ra tiền lệ xấu, rất khó để đáp ứng vô điều kiện, nhưng nếu có chuyện gì xảy ra, sĩ quan vẫn là người chịu trách nhiệm. Do đó tôi ở trong tình thế hết sức khó xử", đại úy Park nói.
Ông lưu ý rằng có sự bất mãn đáng kể trong số các binh sĩ bị buộc phải làm thay nhiệm vụ cho những binh sĩ cắt mí, sửa mũi.
Dù vậy, các chỉ huy quân đội Hàn Quốc cũng chưa có chế tài rõ ràng để xử lý hay kiểm soát quá trình binh sĩ làm phẫu thuật thẩm mỹ.
Choi Gi-il, giáo sư nghiên cứu quân sự tại Đại học Sangji, nhấn mạnh cần có các biện pháp quản lý có hệ thống để bảo vệ khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Hàn Quốc, trong khi vẫn tính đến giá trị sống của thế hệ trẻ đang thay đổi.
"Quân đội phải ngăn chặn các trường hợp binh sĩ không thể tham gia huấn luyện hoặc các hoạt động của đơn vị do ảnh hưởng kéo dài sau phẫu thuật", giáo sư Choi nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân diễn ra ngày 27-29/5. Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang, Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cùng các quan chức khác, theo TTXVN.
Việt Nam - Thái Lan năm nay kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường khẳng định sự kiện lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đây là chuyến thăm đầu tiên đến một nước ASEAN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị mới, diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước vừa được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược toàn diện vào tháng 5/2025.
"Chuyến thăm thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về những định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới", ông nói.
Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 22,1 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024. Trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch hai chiều đạt gần 8,6 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025.
Về đầu tư, Thái Lan hiện có 797 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 15,4 tỷ USD, đứng thứ 8/153 quốc gia có đầu tư tại Việt Nam và đứng thứ hai trong số các nước ASEAN. Việt Nam có hơn 20 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký khoảng 40 triệu USD.
Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác trong phát triển chuỗi cung ứng, kết nối giao thông, logistics và hợp tác tiểu vùng Mekong.
"Với vị trí địa chiến lược quan trọng của mỗi nước, hai bên có điều kiện thuận lợi để trở thành các trung tâm kết nối của khu vực Đông Nam Á lục địa", Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường cho hay.
Sau khi kết thúc hoạt động tại Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chuyến thăm cấp nhà nước đến Singapore và phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-la ngày 29-31/5, thăm cấp nhà nước đến Philippines ngày 31/5-1/6.
Tin Gốc: Vnexpress

Điều gì khiến hai đối thủ lâu năm cùng xuống thang?
Ngày 14/6 vừa qua đánh dấu một trong những sự kiện địa chính trị quan trọng nhất của năm khi Mỹ và Iran chính thức ký trực tuyến thỏa thuận hòa bình sơ bộ dưới sự trung gian điều phối của Pakistan, mở đường cho việc chấm dứt cuộc xung đột kéo dài hơn ba tháng và khởi động tiến trình đàm phán về tương lai quan hệ song phương cũng như chương trình hạt nhân Iran.
Thông báo được đưa ra gần như đồng thời từ Washington, Tehran và Islamabad đã tạo ra phản ứng tích cực trên thị trường tài chính quốc tế. Giá dầu WTI giảm mạnh xuống vùng chạm mốc 80 USD/thùng, các chỉ số chứng khoán phục hồi và nhiều quốc gia từ châu Âu đến Trung Đông đồng loạt lên tiếng hoan nghênh. Eo biển Hormuz, tuyến hàng hải vận chuyển khoảng một phần năm lượng dầu giao dịch toàn cầu, được kỳ vọng sớm mở cửa hoàn toàn trở lại sau nhiều tháng căng thẳng.
Tuy nhiên, đằng sau sự kiện mang tính bước ngoặt ấy là một câu hỏi lớn: điều gì đã khiến hai quốc gia vốn đối đầu suốt gần nửa thế kỷ, từng đứng bên bờ vực chiến tranh toàn diện trong những tháng đầu năm 2026, nay lại chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng?
Câu trả lời không nằm ở “thiện chí đơn thuần” hay sự thay đổi đột ngột về quan điểm chính trị. Thỏa thuận ngày 14/6 là kết quả của một thực tế khắc nghiệt hơn: cả Mỹ và Iran đều nhận ra rằng tiếp tục cuộc đối đầu sẽ khiến chi phí ngày càng lớn trong khi triển vọng giành thắng lợi tuyệt đối gần như không còn khả thi.
Lần đầu tiên sau nhiều năm, lợi ích chiến lược của hai đối thủ tưởng chừng không thể dung hòa lại gặp nhau ở một điểm chung: nhu cầu cấp thiết phải chấm dứt một cuộc xung đột mà không bên nào có thể thắng hoàn toàn.
Khi chiến tranh không còn là công cụ hiệu quả
Từ cuối tháng 2, cuộc đối đầu Mỹ - Iran bước sang giai đoạn mới với mức độ leo thang chưa từng thấy kể từ sau cuộc khủng hoảng hạt nhân những năm 2010. Các chiến dịch quân sự liên tiếp của Mỹ và Israel nhằm vào những cơ sở chiến lược của Iran đã gây ra thiệt hại đáng kể đối với hạ tầng quân sự và hạt nhân của Tehran.
Tuy nhiên, bất chấp ưu thế quân sự vượt trội, Mỹ vẫn chưa thể đạt được mục tiêu buộc Iran phải chấp nhận các điều kiện chính trị theo mong muốn của mình. Ngược lại, Iran dù chứng tỏ được khả năng chống chịu đáng kể nhưng cũng không thể thay đổi tương quan lực lượng. Nhiều cơ sở chiến lược bị phá hủy, xuất khẩu dầu suy giảm và nền kinh tế tiếp tục chịu sức ép nặng nề từ các biện pháp trừng phạt cùng chi phí chiến tranh ngày càng tăng.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia an ninh quốc tế, đến giữa tháng 6, cả hai bên đều bắt đầu đối diện với hiện tượng mà giới nghiên cứu chiến lược gọi là “bế tắc tổn thất tương hỗ” - trạng thái mà chi phí tiếp tục chiến tranh vượt xa lợi ích tiềm năng có thể đạt được.
Đối với Mỹ, chiến dịch quân sự kéo dài không chỉ tiêu tốn nguồn lực mà còn gây ra những hệ lụy kinh tế trực tiếp. Giá dầu tăng mạnh trong nhiều tháng liên tiếp đã đẩy chi phí năng lượng tại Mỹ lên cao, gây lạm phát gia tăng, tạo áp lực lớn đối với tăng trưởng kinh tế và đời sống của người dân. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn đang phục hồi khó khăn sau nhiều cú sốc địa chính trị, Washington không muốn một cuộc chiến kéo dài tại Trung Đông trở thành gánh nặng chiến lược mới.
Đối với Iran, lựa chọn tiếp tục đối đầu cũng không hề dễ dàng hơn. Các nguồn tin từ Trung Đông cho thấy nền kinh tế Iran đang chịu áp lực lớn từ suy giảm thương mại, hạn chế tiếp cận nguồn vốn quốc tế và những thiệt hại do chiến tranh gây ra. Dù Tehran khẳng định đã đứng vững trước sức ép của Mỹ, nhưng giới lãnh đạo nước này cũng hiểu rằng việc kéo dài xung đột có thể làm suy yếu đáng kể khả năng phục hồi kinh tế trong nhiều năm tới.
Nói cách khác, thỏa hiệp xuất hiện không phải vì hai bên tin tưởng lẫn nhau hơn, mà vì chiến tranh đã không còn là công cụ hiệu quả để đạt được các mục tiêu chính trị ban đầu.
Áp lực kinh tế và “lá bài Hormuz”
Nếu có một yếu tố buộc cả Mỹ và Iran phải nghiêm túc cân nhắc con đường ngoại giao, đó chính là kinh tế. Trong suốt cuộc xung đột, Eo biển Hormuz trở thành tâm điểm của cuộc cạnh tranh chiến lược. Đây là tuyến đường vận chuyển năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới, nơi khoảng 20% lượng dầu giao dịch toàn cầu đi qua mỗi ngày.
Khi hoạt động hàng hải tại Hormuz bị gián đoạn, hệ quả không chỉ giới hạn ở Trung Đông. Châu Âu đối mặt với nguy cơ giá năng lượng tăng cao. Các nền kinh tế châu Á phụ thuộc vào nhập khẩu dầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ chịu áp lực lớn hơn về chi phí sản xuất. Thị trường tài chính toàn cầu liên tục biến động trước lo ngại về nguồn cung năng lượng.
Theo Reuters, việc đạt được thỏa thuận sơ bộ đã ngay lập tức kéo giá dầu giảm đáng kể, phản ánh kỳ vọng của thị trường rằng tuyến vận tải huyết mạch này sẽ sớm hoạt động bình thường trở lại.
Đối với Mỹ, việc khôi phục lưu thông tại Hormuz mang ý nghĩa chiến lược quan trọng. Một thị trường năng lượng ổn định sẽ giúp giảm áp lực lạm phát, cải thiện tâm lý nhà đầu tư và hạn chế những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế trong nước.
Trong khi đó, Iran cũng có những lợi ích không kém phần quan trọng. Theo các thông tin được công bố từ quá trình đàm phán, Iran kỳ vọng nhận được việc nới lỏng một phần các biện pháp trừng phạt đối với xuất khẩu dầu và hóa dầu, đồng thời từng bước tiếp cận trở lại các nguồn tài sản bị đóng băng ở nước ngoài. Đây là điều kiện then chốt để Iran phục hồi nguồn thu ngân sách và tái thiết nền kinh tế hậu chiến.
Các chuyên gia kinh tế khu vực nhận định rằng chính nhu cầu ổn định kinh tế đã tạo ra động lực mạnh mẽ hơn bất kỳ khẩu hiệu chính trị nào. Trong nhiều năm, Mỹ và Iran có thể chấp nhận căng thẳng. Nhưng khi căng thẳng bắt đầu gây tổn hại nghiêm trọng tới lợi ích kinh tế của cả hai bên, khả năng thỏa hiệp trở nên thực tế hơn.
Pakistan và nghệ thuật ngoại giao của những bên trung gian
Một yếu tố quan trọng khác dẫn tới thỏa thuận ngày 14/6 là vai trò nổi bật của Pakistan. Trong lịch sử quan hệ Mỹ-Iran, nhiều quốc gia từng đảm nhiệm vai trò trung gian như Oman, Qatar hay Thụy Sĩ. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2026 chứng kiến Islamabad nổi lên như một kênh đối thoại hiệu quả hơn dự kiến.
Theo nguồn báo chí Nga, Pakistan duy trì liên lạc liên tục với cả Washington và Tehran trong nhiều tuần trước khi thỏa thuận được hoàn tất. Thủ tướng Shehbaz Sharif nhiều lần xác nhận rằng văn bản khung đã được hai bên nhất trí trước khi tiến hành ký kết trực tuyến.
Vai trò của Pakistan đặc biệt quan trọng bởi Islamabad duy trì quan hệ tương đối cân bằng với cả Mỹ và Iran. Khác với nhiều quốc gia Trung Đông bị cuốn vào các cạnh tranh khu vực, Pakistan có đủ khoảng cách chính trị để đóng vai trò cầu nối. Đồng thời, nước này cũng có lợi ích trực tiếp trong việc ổn định khu vực do nằm gần các tuyến vận tải và trung tâm địa chính trị Nam Á - Trung Đông.
Một số nhà nghiên cứu tại châu Âu đánh giá thành công của Pakistan phản ánh xu hướng mới trong ngoại giao quốc tế: các cường quốc tầm trung ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng mà những nước lớn khó trực tiếp xử lý. Thỏa thuận ngày 14/6 vì thế không chỉ là thành công của Mỹ và Iran, mà còn là thành công của ngoại giao trung gian trong bối cảnh thế giới ngày càng phân cực.
Cả Washington lẫn Tehran đều cần một khoảng lặng chiến lược
Mặc dù được gọi là thỏa thuận hòa bình sơ bộ, văn kiện ngày 14/6 thực chất mới chỉ là bước khởi đầu của một tiến trình dài và đầy bất định. Điều đáng chú ý là cả Mỹ lẫn Iran đều tránh đưa những vấn đề khó khăn nhất vào giai đoạn đầu.
Chương trình tên lửa của Iran chưa được giải quyết. Vai trò của Hezbollah, Houthis và các lực lượng đồng minh khu vực vẫn là chủ đề nhạy cảm. Ngay cả hồ sơ hạt nhân cũng được chuyển sang giai đoạn đàm phán kỹ thuật kéo dài 60 ngày.
Điều đó cho thấy mục tiêu trước mắt của hai bên không phải là giải quyết toàn bộ mâu thuẫn, mà là tạo ra “khoảng lặng chiến lược”. Đối với Washington, khoảng lặng này giúp giảm nguy cơ sa lầy vào một cuộc chiến kéo dài trong khi Mỹ đang phải phân bổ nguồn lực cho nhiều ưu tiên toàn cầu khác. Đối với Tehran, đây là cơ hội để tái thiết kinh tế, khôi phục hoạt động xuất khẩu và giảm bớt áp lực đối nội.
Nhiều chuyên gia Trung Đông cho rằng đây chính là bản chất của thỏa thuận ngày 14/6: một sự thỏa hiệp mang tính thực dụng hơn là hòa giải mang tính lý tưởng. Nó không xuất phát từ việc hai bên đã giải quyết được những bất đồng lịch sử kéo dài hơn bốn thập niên. Nó xuất phát từ nhận thức rằng duy trì đối đầu ở mức hiện tại không còn phục vụ lợi ích của bất kỳ bên nào.
Chính vì vậy, câu hỏi quan trọng nhất hiện nay không phải vì sao Mỹ và Iran lựa chọn thỏa hiệp, mà là liệu sự thỏa hiệp ấy có đủ bền vững để vượt qua những bất đồng sâu sắc vẫn còn tồn tại hay không.
Đến nay, câu trả lời vẫn còn ở phía trước. Nhưng ít nhất, sau nhiều tháng chiến tranh và nhiều năm đối đầu, Mỹ và Iran đã cùng đi đến một kết luận giống nhau: trong những thời điểm nhất định của lịch sử, thỏa hiệp không phải là biểu hiện của sự yếu đuối, mà là lựa chọn thực tế nhất để bảo vệ lợi ích quốc gia. Đó cũng chính là lý do sâu xa nhất khiến hai đối thủ lâu năm cuối cùng đã chấp nhận ngồi xuống cùng một bàn đàm phán.
Tin Gốc: Dân Trí

