Vấn đề này được Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải đề cập tại hội thảo về công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, do Ủy ban tổ chức, sáng 15/6.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo chính là “nền móng của nền công nghiệp quốc gia”, là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tự chủ công nghệ, tự chủ sản xuất.
Đây cũng là yếu tố đầu vào, điều kiện tiên quyết phục vụ phát triển các lĩnh vực thiết yếu cũng như sản phẩm công nghệ chiến lược và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường.
Dù vậy, thực tế, mức độ tự chủ các loại vật liệu chiến lược, thiết bị công nghệ cao và công nghệ lõi, theo ông Diên, còn rất hạn chế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong cuộc làm việc với các cơ quan về nội dung này hồi cuối tháng 5 đã nêu yêu cầu phát triển công nghiệp vật liệu phải có trọng tâm, trọng điểm và phải chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên thô sang chế biến sâu; làm chủ công nghệ lõi; nâng cao giá trị gia tăng.
Bên cạnh đó, cần phát triển công nghiệp vật liệu dựa trên khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp quốc gia có năng lực dẫn dắt.
Để hiện thực hóa chỉ đạo của người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng phải có nhận thức và cách tiếp cận mới về công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí, xem đây là các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc của nền kinh tế.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nhắc đến dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và nhấn mạnh đây không chỉ là dự án giao thông có quy mô lớn nhất trong lịch sử, mà còn là cơ hội lớn để nâng cấp năng lực công nghiệp quốc gia.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, dự án này đòi hỏi thép ray chất lượng cao, thép cầu đặc chủng, bê tông tính năng cao, vật liệu giảm rung, giảm chấn, hệ thống điện khí hóa, tín hiệu điều khiển tự động và nhiều loại thiết bị cơ khí chính xác.
“Câu hỏi đặt ra là Việt Nam có thể tham gia ở mức độ nào vào chuỗi giá trị của các dự án này, có thể nội địa hóa những công đoạn nào và cần chuẩn bị những gì để từng bước làm chủ công nghệ”, bà Hải đặt vấn đề.
Tương tự, với điện hạt nhân, bà cho rằng “yêu cầu đặt ra còn cao hơn”, đó là tiêu chuẩn nghiêm ngặt về vật liệu, thép đặc chủng, hợp kim chịu nhiệt, vật liệu chống bức xạ… Song nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, bà khẳng định chương trình phát triển hạt nhân thường tạo ra động lực phát triển mạnh cho các ngành luyện kim, cơ khí chính xác.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhấn mạnh yêu cầu nội dung Việt Nam cần có chiến lược đầu tư dài hạn là nâng cao năng lực làm chủ vật liệu, thiết bị công nghệ cao, vật liệu bán dẫn thế hệ mới, vật liệu đóng gói chip, thiết bị sản xuất vật liệu bán dẫn…
Nhận định cạnh tranh công nghiệp toàn cầu ngày càng gay gắt, bà Hải cho biết các vật liệu phục vụ cho AI, robot, năng lượng mới, quốc phòng an ninh, hàng không vũ trụ, công nghệ lượng tử, công nghệ số ngày càng đóng vai trò quyết định với năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bà đồng thời chỉ ra một số điểm nghẽn lớn, đó là thiếu chiến lược quốc gia tổng thể về công nghiệp vật liệu; hệ thống thể chế chính sách còn phân tán, thiếu đồng bộ; thiếu các doanh nghiệp dẫn dắt; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng mong muốn, thiếu chế độ đãi ngộ thu hút nhân tài.
Theo Chủ tịch Quốc hội, trong tháng 5, khối lượng công việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan rất lớn, song đã được triển khai với tinh thần chủ động, quyết liệt và trách nhiệm cao.
Bài học kinh nghiệm từ 5 tháng đầu năm được Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh là nếu có quyết tâm, chủ động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì khối lượng công việc lớn đến đâu cũng có thể xử lý được.
Lưu ý các tháng cuối năm còn nhiều việc khó hơn, nặng hơn, yêu cầu cao hơn, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các cơ quan không để bất kỳ nhiệm vụ nào chậm do lỗi chủ quan.
Quán triệt mục tiêu tăng trưởng hai con số là mệnh lệnh chính trị, là kỳ vọng của nhân dân, Chủ tịch Quốc hội nhắc lại công tác lập pháp phải chuyển biến mạnh mẽ, chuyển từ tư duy “quản lý đến đâu quy định đến đó” sang tư duy “kiến tạo phát triển, kiểm soát rủi ro và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo”.
Cùng với đó, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu đẩy nhanh tiến độ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tiến độ định kỳ 2 tuần/lần, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp.
Về hoạt động giám sát, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu các cơ quan chuẩn bị kế hoạch và đề cương giám sát chuyên đề về việc thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng trụ sở làm việc sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính; chuẩn bị chu đáo Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát lần thứ 2 năm 2026.
Một nhiệm vụ quan trọng khác được Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh là tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đồng thời cắt giảm quy trình, thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý công việc.
Đối với chuyển đổi số, khoa học công nghệ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu tạo chuyển biến thực chất trong phương thức hoạt động của Quốc hội. Mọi quy trình phải từng bước được vận hành trên nền tảng số; mọi quyết sách phải được hỗ trợ bởi dữ liệu tin cậy, kịp thời và chính xác.
“AI phải trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả trong toàn bộ quy trình lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước”, Chủ tịch Quốc hội nêu quan điểm, đồng thời yêu cầu đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chiến lược AI của Quốc hội; triển khai thử nghiệm trợ lý số hỗ trợ chuyên môn cho đại biểu; xây dựng hệ thống AI tương tác với cử tri và theo dõi thực thi các luật, nghị quyết.
Nhấn mạnh việc nào đã rõ thì làm, việc nào còn vướng cần báo cáo ngay, còn việc nào chậm phải nêu rõ nguyên nhân và trách nhiệm, Chủ tịch Quốc hội lưu ý không để tình trạng văn bản lòng vòng, phối hợp hình thức, xin ý kiến nhiều nhưng không chốt được phương án.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh mọi nhiệm vụ phải có sản phẩm đầu ra, không đánh giá bằng số cuộc họp mà đánh giá bằng chất lượng văn bản, chất lượng tham mưu, chất lượng thẩm tra, chất lượng giám sát và hiệu quả thực tế.
Cùng với đó, các cơ quan phải giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tiến độ nhưng không hy sinh chất lượng; nhanh nhưng phải chắc, quyết liệt nhưng phải đúng luật, đổi mới nhưng phải có căn cứ.
Bộ Công an đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo hồ sơ chính sách bộ luật Hình sự (sửa đổi), trong đó đề xuất nhiều điểm mới liên quan đến quy định miễn trách nhiệm hình sự.
Theo Bộ Công an, thực tiễn thi hành bộ luật Hình sự cho thấy có những hành vi vi phạm, gây thiệt hại nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; có thể khắc phục toàn bộ hậu quả; nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều này chưa phù hợp với thực tiễn, chưa bảo đảm tính công bằng, chưa góp phần khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả; chưa phân hóa được hành vi vi phạm mà có yếu tố tham nhũng với hành vi vi phạm mà không có yếu tố tham nhũng.
Để khắc phục, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi thuộc nhóm nêu trên.
Đồng thời, bổ sung căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự đối với người được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã đủ các điều kiện để được miễn. Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong quy định của bộ luật Hình sự, khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại để được miễn trách nhiệm hình sự.
Cơ quan soạn thảo còn đề xuất sửa đổi theo hướng: trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nếu có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì có thể miễn trách nhiệm hình sự thông qua quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Quy định như vậy sẽ khắc phục bất cập của luật hiện hành khi chỉ miễn trách nhiệm hình sự sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh các thủ tục tố tụng, không đáp ứng yêu cầu về tính nhân đạo, nhân văn.
Một nội dung khác được Bộ Công an đề xuất sửa đổi là quy định về miễn hình phạt.
Cơ quan soạn thảo đề cập đến những trường hợp phạm tội về kinh tế, môi trường… không nhằm mục đích thu lợi bất chính cho cá nhân, vì lợi ích chung, mặc dù đã áp dụng các biện pháp để quản lý rủi ro nhưng vẫn gây ra thiệt hại và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Việc không miễn hình phạt đối với các trường hợp trên là chưa phù hợp với mục đích chính khi áp dụng hình phạt đối với các tội về kinh tế, môi trường là buộc khôi phục nguyên trạng và bồi thường thiệt hại (theo Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân).
Do đó, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về miễn hình phạt đối với một số tội về trật tự quản lý kinh tế gây thiệt hại về kinh tế nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Cùng đó là bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng mô hình sản xuất, kinh doanh mới mà có thiệt hại về kinh tế do nguyên nhân khách quan.
Đồng thời, bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp thực hiện biện pháp nghiệp vụ phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục, quy trình công tác, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với tình hình thực tiễn…
Các tổ máy nhiệt điện than tại những nhà máy điện than của Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) liên tục được huy động ở cường độ lớn. Đặc biệt tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải có sản lượng bốc dỡ than đạt mức cao. Trong giai đoạn nắng nóng tháng 4 và đầu tháng 5, nhu cầu điện tăng mạnh, các nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, 3 và 3 mở rộng thường xuyên được huy động cao, khiến cho sản lượng điện sản xuất thực tế cao hơn sản lượng kế hoạch.
Tại ba nhà máy của Trung tâm Điện lực Duyên Hải, sản lượng kế hoạch đưa ra là 1,6 tỉ kWh nhưng sản lượng vận hành thực tế lên tới 1,8 tỉ kWh (tăng tới 111,1%). Khối lượng than bốc dỡ cho nhà máy này để đáp ứng nhu cầu huy động lên tới hơn 1 triệu tấn.
Từ 1-5 đến hết ngày 11-5, các nhà máy nhiệt điện đều được huy động ở mức cao. Chẳng hạn Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 huy động đạt 224,2 triệu kWh, Duyên Hải 3 huy động 307,2 triệu kWh (trung bình xấp xỉ 28 triệu kWh/ngày) và Duyên Hải 3 mở rộng đạt 102,8 triệu kWh.
Theo ông Lê Hải Đăng - Tổng giám đốc EVNGENCO 1, kế hoạch điều hành trong tháng 5, sản lượng điện toàn tổng công ty được xác định ở mức 3,92 tỉ kWh. Các chỉ tiêu này đòi hỏi công tác vận hành phải được tổ chức chặt chẽ, linh hoạt, bám sát phương thức huy động của hệ thống.
Việc huy động vượt kế hoạch nhiều nhà máy điện than khiến cho ngành than cũng phải căng mình cung ứng đủ nhiên liệu than cho sản xuất điện. Theo Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trong tháng 4 cung ứng than cho sản xuất điện với sản lượng cấp dự kiến đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102,1% kế hoạch tháng và kế hoạch trong tháng 5 này sẽ là 4,3 triệu tấn. "Các đơn vị thuộc tập đoàn đang tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo nguồn than sẵn sàng huy động tối đa cho các nhà máy nhiệt điện, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô", một lãnh đạo của tập đoàn này cho biết.
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), nhu cầu tiêu dùng điện trong quý 2 tăng mạnh do cao điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài và tiêu thụ điện tại các khu công nghiệp gia tăng. EVN đã phải yêu cầu các đơn vị phát điện đảm bảo đủ nhiên liệu, sẵn sàng vận hành các tổ máy theo phương thức hệ thống, nâng cao độ khả dụng và tin cậy nguồn điện. Do sản lượng điện than cho toàn hệ thống chiếm khoảng 52,8% nên các đơn vị cung ứng được yêu cầu sẵn sàng huy động ở mức cao hơn kế hoạch.
Trả lời Tuổi Trẻ, đại diện Bộ Công Thương cho hay trong 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống tăng trưởng khoảng 7,5%. Việc cung ứng năng lượng chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố như căng thẳng ở khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng đến việc cung cấp nhiên liệu khí LNG và dẫn đến tăng giá nhiên liệu (khí LNG, than nhập khẩu) cho sản xuất điện.
Đồng thời thời tiết đang có xu hướng diễn biến cực đoan, dự báo các đợt nắng nóng gay gắt xuất hiện với tần suất cao tại nhiều địa phương tăng cao kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện tăng mạnh. Các yếu tố ảnh hưởng mang tính toàn cầu, diễn biến nhanh và khó dự báo cũng gây ra những thách thức lớn đối với cân đối cung - cầu điện cả ngắn hạn và dài hạn.
Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số và thực hiện các cam kết chuyển dịch năng lượng là yêu cầu lớn đặt ra. Ngoài ra Bộ Công Thương cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức nội tại.
Đó là công suất khả dụng của hệ thống điện quốc gia suy giảm so với tổng công suất đặt, đặc biệt là vào giai đoạn cuối mùa khô do ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, mực nước các hồ chứa thủy điện, sự cố của các nguồn nhiệt điện, khả năng cung cấp nhiên liệu và sự cố lưới điện.
Năm 2026 được dự báo là có nền nhiệt độ trung bình và kéo dài các đợt nắng nóng trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Quá trình chuyển pha giữa La Nina sang El Nino có thể diễn biến khó lường, làm gia tăng sai số trong công tác dự báo phụ tải. Hiện tượng này không chỉ làm nhu cầu phụ tải điện tăng cao đột biến, nhất là vào các giờ cao điểm trưa và chiều, mà còn ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm.
"Những yếu tố này gây áp lực lớn lên công tác lập kế hoạch vận hành và điều độ hệ thống điện, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt công suất trong các thời kỳ cao điểm nếu không có các phương án ứng phó kịp thời, linh hoạt", vị này nói.