Chùa Kompong Chrây hay còn gọi là chùa Hang tọa lạc tại xã Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long hiện lên với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer đặc trưng, trầm mặc và cổ kính. Du khách không khỏi trầm trồ bởi kiến trúc vô cùng độc đáo mà còn tận mắt ngắm nhìn những bức tượng được làm từ gỗ cây cổ thụ.
Tại Chùa Hang mùa này còn nghe được âm thanh rộn ràng của đàn chim trời trong khuôn viên. Nơi đây vốn được nhiều người biết đến là nơi lưu trú của rất nhiều loài chim, cò với số lượng có thời điểm lên đến hàng chục ngàn con.
Đặc biệt vào mùa cò trắng sinh sản (khoảng từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm), nơi đây như một bức tranh thiên nhiên sinh động làm mê hoặc du khách.
Theo Ban quản trị chùa Hang, sau khi xây dựng được vài năm (xây dựng năm 1637), chim trời tìm về nơi đây. Nhưng từ những năm 60 của thế kỷ trước, bom đạn chiến tranh khiến sân chùa vắng lặng, không tiếng chim.
Đến những năm 1990, chim cò mới lại kéo nhau về chùa Hang sinh sống. Từ vài chục con, rồi lên hàng trăm con, có thời điểm ước tính cả chục ngàn con.
Chùa rộng khoảng 7ha, có nhiều chủng loài thực vật đặc hữu như cây sao, dầu, tre, trúc, me… chen nhau thành nhiều tầng cao thấp khác nhau rất có giá trị về mặt sinh quyển. Nơi đây là mái nhà yên bình để chim trời làm tổ.
Vào mùa khô chim đi nơi khác kiếm ăn, số lượng ở lại chùa còn rất ít. Nhưng hễ mưa xuống, cây cối tốt tươi là đàn chim lũ lượt bay về. Chim trời tại đây chủ yếu là cò trắng, cò ngà, cồng cọc, vạc…lên đến hàng ngàn con.
Chim làm tổ mọi nơi, đậu trên các mái chùa, trên sân, trên cây…Những chú chim rất dạn người, đi lại trong khuôn viên chùa dù có người đến rất gần.
Các sư, phật tử ở đây cũng thường xuyên rải thức ăn cho chim. Nhà chùa đặt ra những quy định bảo vệ chim và bảo vệ cây rừng rất nghiêm ngặt, tạo ra môi trường tự nhiên an bình cho chim trời về trú ngụ.
Một số hình ảnh sống động của các loài chim được ghi nhận tại chùa Hang, tỉnh Vĩnh Long.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bà Yuuka Irie, chuyên gia có chứng nhận "onsen sommelier" (chuyên gia tư vấn suối nước nóng), đã chỉ ra những quy định bất thành văn tại khi tắm suối nước nóng tại Nhật Bản.
Bà Yuuka Irie từng di chuyển hơn 3.000 km từ Hokkaido đến Okinawa để khảo sát hàng trăm suối nước nóng, đồng thời từng làm việc tại một nhà nghỉ truyền thống (ryokan) 170 năm tuổi tên là Soene ở làng Fukuji Onsen, tỉnh Gifu. Từ kinh nghiệm thực tế, chuyên gia này cho biết việc hiểu rõ các giao thức ứng xử sẽ quyết định chất lượng chuyến đi của du khách.
Nhầm lẫn ở bước tắm tráng
Tại Nhật Bản, luật Onsen quy định nước nóng phải phun trào tự nhiên từ lòng đất với nhiệt độ tối thiểu 25 độ C, hoặc phải chứa một trong 19 khoáng chất. Do nước nguồn thường có nhiệt độ cao, du khách rất dễ gặp tai nạn nếu không hiểu các chỉ dẫn.
Tại một onsen ở làng chài Hokkawa (bán đảo Izu), bà Irie từng chứng kiến một nữ du khách phương Tây suýt bị bỏng khi thực hiện bước tắm tráng (kakeyu). Do hiểu sai bảng chỉ dẫn tiếng Anh "Vui lòng dội nước nóng lên người trước khi tắm", du khách này đã múc nước trực tiếp từ vòi nguồn nhiệt độ trên 50 độ C thay vì dùng nước đã hạ nhiệt trong bồn.
Quy định khỏa thân tại phòng tắm chung
Nhiều du khách nước ngoài thường thắc mắc về việc phải khỏa thân hoàn toàn khi tắm và lý do các cơ sở không cho phép mặc đồ bơi. Theo các chuyên gia văn hóa, tại Nhật Bản, tắm trần là truyền thống lâu đời gắn liền với việc chăm sóc sức khỏe và giao tiếp xã hội. Vào những năm 1870, dưới ảnh hưởng của các quan niệm phương Tây, lệnh cấm tắm chung nam nữ (Konyoku) mới được ban hành trên diện rộng.
Hiện nay, hầu hết onsen đều phân chia khu vực nam nữ riêng. Tuy nhiên, văn hóa tắm chung (konyoku) vẫn tồn tại ở những vùng xa xôi có truyền thống toji (ngâm mình chữa bệnh dài ngày).
Điển hình tại bồn tắm đá Jinden-yu thuộc Amagase Onsen, tỉnh Oita, khu vực tắm nằm sát đường lộ và bờ sông, hoàn toàn không có vách ngăn che chắn người qua đường. Tại những không gian lộ thiên này, người tắm phải tự giác tuân thủ quy tắc ứng xử như nam nữ không nhìn chằm chằm vào nhau và giữ sự tôn trọng tuyệt đối khi ngâm mình.
Quy định về hình xăm
Quy định cấm người có hình xăm vào onsen xuất phát từ lịch sử, khi hình xăm là dấu hiệu nhận diện của các thành viên Yakuza (mafia Nhật). Các cơ sở ban hành lệnh cấm để ngăn chặn các sự cố an ninh.
Hiện, dù nhiều người nước ngoài xem hình xăm là yếu tố thẩm mỹ và tỷ lệ thành viên Yakuza xăm mình đã giảm, nhiều cơ sở onsen vẫn giữ nguyên quy định cũ để tránh rắc rối. Một bộ phận người Nhật, nha là người lớn tuổi, vẫn e ngại khi nhìn thấy hình xăm.
Để giải quyết vấn đề này, du khách có thể tra cứu các cơ sở chấp nhận hình xăm qua các trang web chuyên dụng. Đối với các cơ sở nhỏ, du khách cần thông báo trước về kích thước, vị trí hình xăm để nhân viên tư vấn dùng băng cá nhân che lại, hoặc chủ động đặt bồn tắm gia đình sử dụng theo giờ (kashikiri).
Quy tắc ứng xử trong bồn tắm
Người Nhật sử dụng khái niệm "quan sát bầu không khí" (kuuki wo yomu) để tự điều chỉnh hành vi theo số đông. Trong không gian onsen, người bản xứ thường tránh nhắc nhở trực tiếp, chỉ lặng lẽ né ra xa nếu phát hiện có người vi phạm hai lỗi vệ sinh cơ bản như để tóc dài xõa xuống nước hoặc để khăn tắm chạm vào bồn.
Trước khi xuống ngâm mình, du khách bắt buộc tắm rửa và kỳ cọ sạch bằng xà phòng tại các trạm vòi sen. Việc tắm trước tại phòng riêng không được chấp nhận do người xung quanh không thể kiểm chứng. Sau khi vệ sinh cá nhân, du khách cần dội sạch ghế ngồi, chậu múc nước và xếp lại gọn gàng.
Du khách tránh nhảy mạnh hoặc làm bắn nước khi vào bồn. Bà Yuuka Irie lưu ý người tắm cần điều chỉnh theo số đông, giữ im lặng nếu không gian chung đang yên tĩnh và chỉ trò chuyện với âm lượng vừa phải nếu bồn tắm đang có người nói chuyện.
Quy định về thời gian tại ryokan
Đối với du khách lưu trú tại các nhà nghỉ truyền thống (ryokan) có dịch vụ onsen, việc tuân thủ thời gian là bắt buộc. Khác với các khách sạn phương Tây, ryokan vận hành theo lịch trình cố định từ giờ nhận phòng, giờ ăn tối, giờ tắm cho đến giờ trả phòng.
Quy định này liên quan đến khái niệm omotenashi (lòng hiếu khách của người Nhật). Các cơ sở cần biết chính xác thời gian đến của khách để chuẩn bị trà, bánh và điều chỉnh nhiệt độ, lượng nước trong bồn tắm ở trạng thái tốt nhất. Việc du khách đến muộn sẽ ảnh hưởng đến quy trình phục vụ của nhân viên.
Bà Irie kể lại trường hợp một nhân viên nam tại nhà nghỉ Soene từng vào khu tắm nữ để dọn dẹp sau giờ quy định (10 giờ sáng) và gặp hành khách nước ngoài đang tắm do không chú ý thời gian. Sự việc buộc quản lý phải xin lỗi và yêu cầu khách rời đi để thực hiện quy trình khử trùng bồn tắm. Việc chấp hành đúng giờ là quy tắc bắt buộc để đảm bảo an toàn và vệ sinh tại các cơ sở lưu trú onsen.
Tin Gốc: Vnexpress
UBND tỉnh Cà Mau vừa phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí Vườn quốc gia (VQG) U Minh Hạ đến năm 2030.
Cà Mau xác định rõ, VQG U Minh Hạ được xem là điểm nhấn không gian du lịch phía Tây của tỉnh, một phần khu dự trữ sinh quyển, tài nguyên quý báu của tự nhiên, nơi có thể phát triển du lịch sinh thái hấp dẫn của Cà Mau nói riêng và cả nước nói chung.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, tỉnh quy hoạch phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí đến năm 2030 ở VQG U Minh Hạ hơn 1.318ha thuộc địa phận 2 xã Đá Bạc và Khánh An.
Trong đó, xây dựng các khu chức năng với diện tích gần 200ha gồm: du lịch sinh thái, vườn sưu tập động thực vật và vườn dược liệu, tái hiện làng rừng và các làng nghề truyền thống, nghỉ dưỡng, trồng cây lưu niệm,…
Cụ thể, khu du lịch sinh thái dự kiến cung cấp các dịch vụ ăn uống, tham quan bảo tàng, triển lãm, học tập - văn hóa, công viên giải trí, thể dục - thể thao, mua sắm.
Khu tái hiện làng rừng và các làng nghề truyền thống như một sinh cảnh thu nhỏ, tái hiện đầy đủ các hoạt động, mô phỏng cơ bản các điểm đặc trưng của VQG (trình diễn, tái hiện lối sống bản địa, làng rừng, trải nghiệm làng nghề).
Còn khu nghỉ dưỡng với 2 mô hình lưu trú bản địa và cao cấp. Trong đó, lưu trú bản địa kết hợp với tham quan đặc điểm sinh thái của VQG, trải nghiệm lối sống, văn hóa địa phương, lồng ghép các hoạt động sinh hoạt, sản xuất bản địa điển hình cho khách tham quan.
Hình thức lưu trú bản địa gắn kết với đời sống người dân nông thôn vùng bán đảo Cà Mau xen kẽ với các hoạt động tham gia trải nghiệm sản xuất nông nghiệp, thu hái sản phẩm từ rừng và thưởng thức đặc sản vùng miền, kết hợp lưu trú qua đêm tại khu vực này.
Cà Mau dự kiến xây dựng mô hình lưu trú cao cấp gồm có các dịch vụ như khách sạn, các khu villa, biệt thự và bungalow phục vụ đa dạng cho nhu cầu nghỉ ngơi qua đêm tại khu vực. Các khu phụ trợ khác bao gồm công viên giải trí, vườn cây trồng tham quan, quảng trường,... được bố trí trong khu nghỉ dưỡng nhằm tăng tính thu hút khách du lịch cho khu vực này.
"Mô hình lưu trú cao cấp là hình thức lưu trú cá biệt và tiện nghi với nhu cầu thưởng lãm cảnh quan thiên nhiên với khí hậu trong lành, ngắm bình minh, hoàng hôn và bầu trời, hạn chế tối đa tác động tác động bởi cuộc sống lao động sản xuất của người dân", theo quy hoạch của Cà Mau.
UBND tỉnh Cà Mau kỳ vọng, lượng khách du lịch dự báo đến năm 2030 sẽ thu hút hơn 309.000 lượt khách, trong đó khách quốc tế khoảng 8% và tỷ lệ du khách ở lại lưu trú qua đêm khoảng 28%.
Mỗi ngày, lượng khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng và sử dụng các dịch vụ tại đây khoảng 800-1.000 lượt khách.
Theo UBND tỉnh Cà Mau, phát triển du lịch sinh thái ở khu vực VQG U Minh Hạ nhằm góp phần phát triển kinh tế địa phương, tạo sinh kế nâng cao thu nhập thông qua việc khai thác cơ hội từ hoạt động du lịch sinh thái cho cư dân địa phương; đồng thời nâng cao ý thức quản lý bảo vệ rừng, môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.
Tin Gốc: Dân Trí

Ở miền Tây có hệ thống kênh, sông chằng chịt, trở thành điều kiện thích hợp cho lục bình (hay gọi là bèo tây) phát triển và giữ vai trò lọc nước, giảm ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên, chính vì sức sống và sinh sôi nhanh, lục bình lại trở thành vấn đề gây cản trở lưu thông ghe tàu, đặc biệt khi chúng chết và bị phân hủy nhiều quá mức có thể gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái dưới nước và các loài thủy sản.
Dù có mặt lợi và mặt hại nhưng không thể phủ nhận lục bình đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân miền Tây.
Ông Phan Văn Tùng - Chủ tịch Hiệp hội Đầu bếp tỉnh An Giang - thông tin lục bình gắn chặt với đời sống của người dân ở miền Tây thông qua các món ăn ngon đậm chất quê: canh chua lục bình, lục bình xào tép đồng, gỏi ốc lục bình, lục bình luộc chấm với muối ớt chanh hay nước mắm ớt.
Sau này đời sống phát triển, người dân miền Tây còn biến tấu và nấu món lẩu mắm ăn kèm với rau sống lục bình, bông lục bình hay đọt choại (hay rau chạy) và một số loại rau sống khác.
"Tùy vào các món ăn khác nhau mà người dân hay đầu bếp có cách chế biến khác nhau. Lục bình sống ở môi trường nước không bị ô nhiễm sẽ rất ngọt, giòn.
Tôi thường thấy mọi người lựa chọn cọng lục bình non nấu canh chua, lẩu mắm và ngó lục bình làm gỏi tép đồng... Các nhà hàng hay quán ăn sang trọng ở miền Tây giờ bán nhiều. Hương vị giòn ngọt của lục bình làm cho người ăn bị cuốn và rất thích", ông Tùng nói.
Bà Lê Thị Kim Thoa, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hiểu Phát ở xã Vĩnh Phong (tỉnh An Giang), cho biết ở xã Vĩnh Phong đặc trưng có 6 tháng nước mặn và 6 tháng nước ngọt nên lục bình cũng sống theo mùa.
Do đó, nguồn nguyên liệu lục bình tươi rất khan hiếm và không đủ phục vụ cho nhu cầu người dân địa phương làm nghề đan lát hay các việc liên quan khác.
"Lục bình ở đây rất hiếm và người dân quý vì nó có nhiều công dụng. Cọng lục bình cắt phơi khô để đan giỏ xách, túi xách, kệ đựng đồ. Lá và rễ lục bình thì bà con còn tận dụng vớt lên chất đống ủ mát hoặc để lâu theo thời gian để làm phân hữu cơ bón cho cây trồng", bà Thoa nói.
"Ở quê ít việc làm nên mỗi ngày tôi chèo xuồng đi hái khoảng 10kg ngó và cọng lục bình non rồi ngồi bán chợ với giá 25.000 - 30.000 đồng/kg. Do đó tôi cũng kiếm thêm thu nhập 100.000 - 200.000 đồng/ngày. Ai đặt lục bình tôi cũng đi hái bán", chị Nguyễn Thị Hoa - người dân ở Gò Quao chia sẻ thêm.
Ông Lâm Quốc Toàn - Phó chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang - cho biết cùng với lác và cỏ bàng, lục bình sau khi phơi khô cũng có thể đan thành những sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế cao như: túi xách, giỏ đựng đồ, thảm lót sàn, khay đựng bánh kẹo.
Các sản phẩm này được người dân An Giang làm thủ công tỉ mỉ và đẹp mắt. Mô hình đan lát lục bình này hỗ trợ tốt cho người dân ở nông thôn có thêm việc làm, nâng cao thu nhập.
Ông Toàn cho biết thêm mấy năm qua nghề đan lát lục bình phát triển nhiều ở xã Giồng Riềng, Gò Quao, Vĩnh Thuận (tỉnh An Giang). Ở một số nơi, người dân còn trồng lục bình bài bản, đẹp mắt, đủ chuẩn rồi sẽ thu hoạch đem đi phơi khô để làm ra các sản phẩm.
Tại tỉnh đến nay có khoảng 15 hợp tác xã, tổ hợp tác làm nghề đan lát. Mỗi cơ sở như vậy giải quyết 40 - 50 nhân công lao động địa phương.
"Đơn vị hiện xúc tiến và tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ giới thiệu sản phẩm từ lục bình của người dân. Chúng tôi còn đi khảo sát hỗ trợ thêm kỹ thuật cho người dân để làm ra những sản phẩm đẹp mắt, nâng cao giá trị.
Các đơn hàng sản phẩm này người dân làm gia công cho các cơ sở ở TP.HCM rồi xuất bán ra thị trường trong và ngoài nước", ông Toàn nhấn mạnh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

