Sau hơn một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển rất mới, rất khác trên hầu hết các phương diện. Không gian số đã trở thành một thành tố thiết yếu của đời sống thực hằng ngày. Công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới đã làm thay đổi tận gốc cách thông tin được tạo ra, phân phối, tiếp nhận và kiểm chứng.
Ngày nay, người dân học tập, làm việc, giao tiếp, mua bán, giải trí, bày tỏ quan điểm và tham gia các vấn đề xã hội qua các nền tảng trực tuyến. Dòng chảy thông tin nhanh và đa dạng đem lại cơ hội lớn cho phổ biến tri thức, cho dân chủ xã hội và đổi mới sáng tạo. Các chủ trương lớn của Đảng, chính sách mới của Nhà nước, các thông tin tích cực có thể đến cùng lúc với chục hàng triệu người bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau. Công nghệ giúp báo chí gần người dân hơn và nhận phản hồi nhanh hơn.
Tuy nhiên, môi trường mạng cũng khiến đời sống thông tin phức tạp hơn, dễ bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời, tin sai lệch, thao túng thuật toán và những hoạt động tán phát thông tin có chủ đích. Tin giả, tin nửa đúng nửa sai, mập mờ, hình ảnh và âm thanh giả mạo, nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, xâm phạm bản quyền, tấn công mạng và đánh cắp dữ liệu diễn ra ngày càng tinh vi. Thông tin sai có thể lan xa trước khi sự thật kịp được kiểm chứng. Tình trạng phát ngôn bị cắt ghép có thể làm tổn hại uy tín cá nhân, tổ chức, thậm chí ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong trật tự truyền thông mới, báo chí không còn giữ vị trí gần như độc quyền phát tin. Đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 85,6 triệu người dùng internet, tương đương 84,2% dân số, và khoảng 79 triệu định danh người dùng mạng xã hội. Theo thống kê gần nhất, tổng số tài khoản người Việt sử dụng mạng xã hội trong nước khoảng 110 triệu, trong khi tài khoản trên các mạng xã hội nước ngoài khoảng 203 triệu. Môi trường số như vậy giúp báo chí vừa có cơ hội tiếp cận công chúng rộng hơn bao giờ hết, vừa phải cạnh tranh trực tiếp với dòng nội dung khổng lồ do các nền tảng và người dùng tạo ra từng giờ, từng phút. Trên không gian số, hầu như mọi cá nhân đều có thể đưa tin. Các tài khoản mạng xã hội đều có thể tạo ảnh hưởng trong một cộng đồng nhất định.
Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm giảm vai trò của báo chí cách mạng. Trái lại, khi thông tin quá nhiều, xã hội càng cần những địa chỉ đáng tin cậy để xác định điều gì đúng, điều gì còn phải kiểm chứng, điều gì chỉ là cảm xúc đám đông hoặc sự sắp đặt có chủ ý. Điều đó đòi hỏi sự chuyên nghiệp, thái độ lao động nghề nghiệp nghiêm túc và bản lĩnh trước mọi sức ép. Báo chí phải là nơi nhân dân tìm đến khi cần sự xác nhận đáng tin cậy, không phải nơi chạy theo xu hướng. Xã hội cần nơi tin cậy để hiểu đúng sự thật. Người dân cần biết việc gì đã xảy ra, vì sao xảy ra, tác động đến ai, trách nhiệm thuộc về đâu và giải pháp nào có cơ sở.
Không gian số cũng cần có những tác phẩm báo chí giàu về dữ liệu, đa dạng về nội dung, phong phú cách diễn đạt, sâu về phân tích chính sách. Nhiều vấn đề hiện nay, từ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách hành chính, chính sách an sinh đến biến động kinh tế quốc tế, đều khó nắm bắt nếu chỉ đọc những mẩu tin rời rạc. Vì vậy, trách nhiệm của báo chí không chỉ là nhanh hơn, mà trước hết phải đúng hơn, sâu sắc hơn, có ích hơn.
Từ yêu cầu đó, chuyển đổi số báo chí không thể hiểu đơn giản là lập thêm trang điện tử, mở tài khoản mạng xã hội hay trang bị thiết bị hiện đại. Đó phải là cuộc đổi mới toàn diện về tư duy lãnh đạo, mô hình tòa soạn, quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân phối nội dung, đo lường công chúng, kinh tế báo chí và văn hóa nghề nghiệp. Báo chí số không phải là báo chí cũ đặt lên nền tảng mới, mà là cách tổ chức mới trong bối cảnh mới.
Trong tòa soạn, mỗi tác phẩm cần được nhìn như một sản phẩm thông tin có mục tiêu rõ ràng. Mọi hình thức thể hiện phải cùng tuân thủ một chuẩn mực: chính xác, nhân văn, có kiểm chứng, có trách nhiệm. Cần tránh tình trạng nghiêm túc trên trang chính nhưng dễ dãi trên nền tảng phụ. Báo chí càng đa nền tảng, càng phải thống nhất chuẩn mực.
Trong thời đại số, dữ liệu là một trụ cột của báo chí. Dữ liệu không chỉ là con số; đó là nền tảng của kiểm chứng và phương tiện để xây dựng và chuyển tải các tác phẩm báo chí một cách thuyết phục hơn, toàn diện hơn. Các cơ quan thông tấn, báo chí lớn, uy tín trên thế giới hiện đều đầu tư rất lớn cho việc xây dựng dữ liệu và dành nguồn nhân lực đáng kể cho công tác dữ liệu. Khi dữ liệu được xây dựng và quản trị tốt, báo chí sẽ tăng sức thuyết phục và có khả năng phát hiện vấn đề từ sớm.
Một vấn đề lớn khác là quyền chủ động trước các nền tảng xuyên biên giới. Báo chí cần tiếp cận được nơi công chúng hiện diện qua mọi nền tảng, nhưng không thể để lệ thuộc vào thuật toán bên ngoài. Nếu chỉ chạy theo lượt xem và cơ chế đề xuất, cơ quan báo chí dễ mất dữ liệu độc giả, mất quyền phân phối, mất bản sắc và chịu rủi ro khi thuật toán thay đổi. Làm chủ không gian số nghĩa là biết khai thác các nền tảng toàn cầu, đồng thời xây dựng kênh riêng, cộng đồng độc giả riêng, dữ liệu riêng và thương hiệu tin cậy riêng.
Vì vậy, chủ quyền thông tin quốc gia cần được nhận thức đầy đủ hơn. Báo chí cách mạng phải là lực lượng chủ lực trong bảo vệ chủ quyền ấy. Bảo vệ chủ quyền thông tin không có nghĩa là khép kín. Việt Nam cần một nền báo chí đối ngoại số mạnh, đa ngôn ngữ, đa phương tiện, có khả năng chuyển tải thông điệp của Việt Nam với thế giới bằng ngôn ngữ hiện đại và bản sắc Việt Nam. Thành tựu đổi mới, văn hóa dân tộc, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển cần được trình bày bằng sản phẩm hấp dẫn, dữ liệu thuyết phục.
Để hoàn thành sứ mệnh đó, báo chí cần nguồn lực phát triển bền vững. Kinh tế báo chí số không đối lập với mục tiêu và các định hướng của báo chí cách mạng. Một nền báo chí thiếu nguồn lực sẽ khó đầu tư công nghệ, bảo vệ bản quyền, đào tạo nhân lực và giữ chân người giỏi. Tuy nhiên, kinh tế báo chí phải phục vụ sứ mệnh báo chí, không dẫn dắt báo chí vào giật gân, câu khách, khai thác đời tư, thương mại hóa thông tin chính trị – xã hội. Báo chí cần nguồn thu mới từ thuê bao số, bản quyền, dữ liệu và sản phẩm chuyên sâu. Nếu không xây dựng được mô hình kinh tế báo chí số lành mạnh, báo chí sẽ khó giữ vững năng lực đầu tư cho nội dung chất lượng cao, điều tra, phân tích, kiểm chứng và bảo vệ bản quyền.
Bản quyền báo chí trong môi trường số và môi trường AI cũng phải được bảo vệ nghiêm túc. Nội dung báo chí là kết quả của lao động sáng tạo, tác nghiệp, kiểm chứng, biên tập, đầu tư tài chính và trách nhiệm pháp lý. Việc sao chép, cắt ghép, khai thác, tổng hợp, thương mại hóa sẽ làm suy yếu nền tảng kinh tế của báo chí. Bảo vệ bản quyền là bảo vệ lao động chân chính và chất lượng thông tin trong xã hội.
Vấn đề cuối cùng vẫn là con người. Mọi định hướng, chiến lược đều phụ thuộc vào con người. Nhà báo trong kỷ nguyên số phải biết làm việc với dữ liệu, công cụ số, mạng xã hội, nguồn tin mở và các chuẩn mực an toàn thông tin. Càng nhiều công cụ, nhà báo càng cần bản lĩnh. Cần tránh tình trạng đăng trước kiểm chứng sau hay để mạng xã hội dẫn dắt. Người làm báo không được phép đánh đổi uy tín để tăng lượt xem. Trước khi đăng một tác phẩm báo chí, người làm báo cần trả lời ba câu hỏi: có đúng không, có cần thiết không, có ích cho xã hội không?
Lãnh đạo cơ quan báo chí cũng phải thay đổi. Tổng biên tập trong tòa soạn số không chỉ là người duyệt nội dung, mà còn phải kiến tạo chiến lược sản phẩm, dữ liệu, công chúng, công nghệ và nhân lực. Cơ quan báo chí cần một văn hóa làm việc mới: chuyên nghiệp, kỷ luật trong kiểm chứng, nhanh nhạy trong phản ứng, cởi mở với đổi mới, sẵn sàng thử nghiệm nhưng không dễ dãi với chuẩn mực. Đào tạo lại đội ngũ phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, tập trung vào kiểm chứng số, an toàn dữ liệu, báo chí đa nền tảng, đạo đức AI và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Trong bối cảnh luật Báo chí số 126/2025/QH15 sẽ có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, việc hoàn thiện thể chế báo chí số là hết sức cần thiết. Thể chế phải bảo vệ quyền tác nghiệp đúng pháp luật, khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo hành lang cho tòa soạn số, kinh tế báo chí số, báo chí dữ liệu, bảo vệ bản quyền và sử dụng AI có trách nhiệm. Đồng thời, kỷ cương báo chí phải được giữ nghiêm; các sai phạm về thông tin, đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng báo chí để trục lợi phải được xử lý kịp thời.
Một nhiệm vụ cấp thiết là hình thành năng lực kiểm chứng thông tin ở quy mô quốc gia. Cần có sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan báo chí chủ lực, chuyên gia công nghệ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp nền tảng và cộng đồng để phát hiện, xác minh, cảnh báo, phản bác tin giả, giả mạo phát ngôn, giả mạo hình ảnh cơ quan nhà nước và các hoạt động tán phát gây nhiễu thông tin. Mạng lưới đó phải vận hành nhanh, có quy trình rõ ràng, dùng dữ liệu và chứng cứ để thuyết phục công chúng.
Trong toàn bộ quá trình đổi mới nền báo chí, phải đặt công chúng ở vị trí trung tâm. Công chúng số hiện nay không chỉ tiếp nhận thông tin mà thường xuyên phản hồi, đặt câu hỏi, kiểm chứng ngược, góp ý, cung cấp dữ liệu và đòi hỏi báo chí minh bạch hơn. Báo chí phải biết lắng nghe nhưng không chạy theo mọi cảm xúc tức thời, tôn trọng tranh luận nhưng tuyệt đối không dung dưỡng thông tin độc hại. Với giới trẻ, báo chí có thể đổi mới để tiếp cận tốt hơn bằng ngôn ngữ, định dạng, nền tảng phù hợp nhưng không được hạ thấp chuẩn mực.
Báo chí cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên số vì vậy phải kết hợp hài hòa giữa bản lĩnh chính trị và năng lực công nghệ, giữa lý tưởng cách mạng và tư duy đổi mới, giữa tính chiến đấu và tính nhân văn, giữa trách nhiệm quốc gia và khả năng hội nhập. Làm chủ không gian số không thể chỉ bằng khẩu hiệu mà phải bắt đầu từ từng tòa soạn, từng quy trình kiểm chứng, từng kho dữ liệu, từng sản phẩm báo chí, từng lớp đào tạo và từng ứng xử của nhà báo trước công chúng.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, tôi mong rằng các cơ quan báo chí và mỗi nhà báo sẽ biến truyền thống cách mạng thành động lực cho đổi mới. Các cơ quan báo chí cần trở thành một tòa soạn số hiện đại, một trung tâm dữ liệu và tri thức, một địa chỉ tin cậy của nhân dân. Các nhà báo tiếp tục là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng – văn hóa – thông tin số, vững bản lĩnh, trong sáng đạo đức, sâu sắc nhân văn, tinh thông công nghệ. Với định hướng đó, tôi tin tưởng rằng Báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân trong thời đại số.
Xin Thứ trưởng cho biết những bước phát triển nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan thời gian qua, đặc biệt sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện?
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường: Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều lợi ích tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Trải qua gần 50 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành một trong những mối quan hệ năng động và hiệu quả nhất trong ASEAN.
Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025. Điều này phản ánh mức độ tin cậy chính trị rất cao giữa hai nước, đồng thời thể hiện quyết tâm chung của lãnh đạo hai bên trong việc đưa quan hệ song phương phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
Điểm nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan là sự củng cố tin cậy chính trị ngày càng vững chắc. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao, các cơ chế hợp tác và trao đổi chiến lược trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, cơ chế họp nội các chung cấp Thủ tướng là nét đặc sắc trong quan hệ giữa hai nước, thể hiện sự gắn bó và phối hợp chặt chẽ trong thúc đẩy hợp tác toàn diện.
Hợp tác kinh tế tiếp tục là điểm sáng. Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 đạt hơn 22 tỉ USD. Hai nền kinh tế ngày càng gắn kết sâu hơn trong chuỗi cung ứng khu vực. Thái Lan hiện cũng là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ASEAN tại Việt Nam, với nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp chế biến, bán lẻ, logistics và hạ tầng. Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác trong phát triển chuỗi cung ứng, kết nối giao thông, logistics và hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Với vị trí địa chiến lược quan trọng của mỗi nước, hai bên có điều kiện thuận lợi để trở thành các trung tâm kết nối của khu vực Đông Nam Á lục địa.
Bên cạnh kinh tế, hợp tác quốc phòng - an ninh giữa hai nước ngày càng thực chất và đi vào chiều sâu. Hai bên phối hợp chặt chẽ trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma túy, mua bán người, an ninh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Điều này góp phần quan trọng vào việc củng cố lòng tin, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.
Hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch và giao lưu nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ. Hai nước hiện có khoảng 20 cặp tỉnh, thành phố kết nghĩa. Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là cầu nối hữu nghị quan trọng giữa hai dân tộc. Đặc biệt, các khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan mang ý nghĩa lịch sử và tình cảm sâu sắc, góp phần vun đắp quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.
Trên nền tảng đó, hai nước có điều kiện thuận lợi để tiếp tục đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất hơn.
Xin Thứ trưởng cho biết chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này được kỳ vọng sẽ mở ra những triển vọng và động lực mới nào cho quan hệ hai nước trong thời gian tới?
Chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là chuyến thăm đầu tiên đến một nước ASEAN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị mới, đồng thời diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước vừa được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện.
Chuyến thăm trước hết thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới.
Một kỳ vọng quan trọng là tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, việc tăng cường trao đổi chiến lược, phối hợp lập trường và duy trì tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là nền tảng để hai nước tiếp tục mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ mở ra những bước phát triển mới trong thương mại, đầu tư, logistics và kết nối chuỗi cung ứng. Hai bên có nhiều tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi công nghiệp. Đây đều là những lĩnh vực phù hợp với chiến lược phát triển của cả hai nước trong giai đoạn mới.
Chuyến thăm cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh hơn kết nối khu vực, đặc biệt trong hợp tác Mê Kông và ASEAN. Việt Nam và Thái Lan đều có vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết kinh tế nội khối ASEAN, tăng cường kết nối hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân trong khu vực.
Bên cạnh đó, hợp tác văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân sẽ tiếp tục được mở rộng. Việc tăng cường kết nối hàng không, hợp tác du lịch, giao lưu thanh niên, sinh viên và địa phương sẽ góp phần củng cố nền tảng xã hội bền vững cho quan hệ song phương.
Hai bên cũng được kỳ vọng tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ASEAN, nhằm đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
Có thể khẳng định với nền tảng quan hệ hữu nghị tốt đẹp, tin cậy chính trị cao và nhiều tiềm năng hợp tác rộng mở, chuyến thăm lần này sẽ tạo thêm động lực mới để đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển mạnh mẽ hơn nữa, hướng tới những tầm cao mới trong thời gian tới.
Sáng 25.4, tại Sở chỉ huy Quân khu 5 (thành phố Đà Nẵng), Bộ Tư lệnh Quân khu 5 tổ chức lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến thăm và làm việc.
Lễ đón diễn ra trang nghiêm, đúng nghi thức, thể hiện sự kính trọng và tình cảm của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 5 đối với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác.
Tại buổi làm việc, trung tướng Lê Ngọc Hải, Tư lệnh Quân khu 5, đã báo cáo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về những kết quả nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thời gian qua. Trong đó, Quân khu 5 duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu xử lý kịp thời các tình huống; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; triển khai hiệu quả công tác dân vận, góp phần củng cố "thế trận lòng dân" trên địa bàn chiến lược.
Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ghi lưu bút vào sổ vàng truyền thống của Quân khu 5, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với lực lượng vũ trang Quân khu, đồng thời động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy truyền thống "Tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, mưu trí sáng tạo, chiến đấu kiên cường, chiến thắng vẻ vang", hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới.
Trong sáng nay, đoàn công tác đã đến dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng thời trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5 và Bảo tàng Khu 5.
Trong không khí trang nghiêm, thành kính, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và đoàn công tác bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; tưởng nhớ công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tại lễ dâng hương Đài Tưởng niệm thành phố Đà Nẵng, trong không khí linh thiêng và trang nghiêm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác của Trung ương, thành phố Đà Nẵng, lãnh đạo, Chỉ huy Quân khu 5... đã dành phút mặc niệm, kính cẩn nghiêng mình bày tỏ lòng biết ơn vô hạn, thành kính tưởng nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đồng bào, đồng chí, với tinh thần yêu nước nồng nàn, đoàn kết một lòng, không quản gian khổ, chiến đấu kiên cường, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi thanh xuân, dũng cảm chiến đấu, hy sinh trên khắp các chiến trường của đất nước để bảo vệ độc lập tự do, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Sau lễ dâng hương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tặng quà, động viên giáo viên, học sinh Trường tiểu học Lý Công Uẩn và Trường THCS Lý Thường Kiệt (thành phố Đà Nẵng) đang tham quan, học tập tại Bảo tàng Khu 5.
Đoàn đại biểu đã tham quan khu trưng bày các mô hình, sáng kiến, sản phẩm tiêu biểu của lực lượng vũ trang Quân khu 5, thiết thực chào mừng sự kiện Quân khu 5 đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, qua đó khẳng định những nỗ lực, thành tích nổi bật trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn chiến lược.
Cũng trong sáng 25.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn công tác của Trung ương đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị Mễ (có chồng và một con trai là liệt sĩ) đang sống ở phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng.
Chiều 31.5 (theo giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bắt đầu các hoạt động trong chương trình thăm cấp nhà nước tới Philippines theo lời mời của Tổng thống Ferdinand Romualdez Marcos Jr. và phu nhân.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn tại sân bay có Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines Tui Laurel Jr. - Bộ trưởng tháp tùng Chủ tịch nước; Thứ trưởng Bộ Xã hội Philippines Dian Arroyo Tantoco - Quan chức tháp tùng phu nhân; Đại sứ Philippines tại Việt Nam Francisco Noel Fernandez III; Trưởng Lễ tân Phủ Tổng thống Reichel Quinones; Hạ nghị sĩ Antonio Calixto, Thị trưởng thành phố Passy Mnila Imeld Calixto - Rubia; Đại sứ Việt Nam tại Philippines Lại Thái Bình và phu nhân cùng đông đảo cán bộ nhân viên đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Philippines.
Trả lời báo chí trước chuyến thăm cấp nhà nước tới Philippines của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường khẳng định, chuyến thăm có ý nghĩa hết sức đặc biệt.
Đây là chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư Đảng ta tới Philippines, diễn ra trong bối cảnh hai nước đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, đồng thời Philippines đang đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2026.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường, chuyến thăm thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ hữu nghị và hợp tác với Philippines cũng như đối với ASEAN và khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm đưa quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Philippines phát triển mạnh mẽ, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
Chuyến thăm cũng được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới để đưa hợp tác kinh tế trở thành một trụ cột quan trọng hơn trong quan hệ song phương, trong bối cảnh hợp tác kinh tế giữa hai nước còn nhiều dư địa để phát triển, nhất là trong các lĩnh vực như: thương mại, đầu tư, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, chuyển đổi số và kinh tế biển.
Cạnh đó, chuyến thăm cũng sẽ góp phần thúc đẩy giao lưu nhân dân, hợp tác giáo dục, văn hóa, du lịch và kết nối địa phương. Đây là nền tảng xã hội quan trọng để quan hệ Việt Nam - Philippines phát triển bền vững trong dài hạn…
Việt Nam và Philippines là hai quốc gia Đông Nam Á có quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp, cùng chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, ngày càng đi vào chiều sâu và thực chất hơn.
Việc hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược năm 2015 là dấu mốc quan trọng, tạo nền tảng để thúc đẩy hợp tác toàn diện trong giai đoạn mới.
Trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam - Philippines tiếp tục duy trì đà phát triển tích cực, trong đó nổi bật là sự gia tăng tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác kinh tế và tăng cường phối hợp trên các vấn đề khu vực và quốc tế.