Mặt trăng đang trở thành “bàn đạp” chiến lược cho tham vọng chinh phục vũ trụ của nhân loại. Không còn là cuộc chơi của riêng hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc, kỷ nguyên đa cực năm 2026 chứng kiến hàng loạt quốc gia từ châu Á đến châu Âu sở hữu tham vọng khai phá nguồn tài nguyên vô tận tại cực Nam của “chị Hằng”.
Đầu tiên phải kể đến Trung Quốc với chiến lược “Hằng Nga” (Chang’e) nhất quán trong suốt 2 thập niên qua, từ việc đưa xe tự hành xuống để nghiên cứu bề mặt mặt trăng hồi năm 2019, sau đó là thu thập mẫu vật và đưa về lại trái đất nghiên cứu vào năm 2024. Trong năm 2026, sứ mạng Chang’e 7 dự kiến đổ bộ xuống cực Nam mặt trăng với một tổ hợp thiết bị khổng lồ để tìm kiếm nước đá trong các miệng hố vĩnh cửu bằng một “tàu thăm dò dạng bay” độc đáo.
Những robot tiền trạm này mang trọng trách xác lập nền móng vững chắc cho Trạm nghiên cứu quốc tế ILRS mà Bắc Kinh đang ráo riết xây dựng cùng Nga để đối trọng với phương Tây.
Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì vị thế dẫn đầu thông qua chương trình Artemis táo bạo và tốn kém. Chương trình này không chỉ đặt mục tiêu đưa con người trở lại bề mặt chị Hằng sau hơn nửa thế kỷ mà còn thiết lập “cảng hàng không” vũ trụ đầu tiên, nơi các phi hành gia có thể sinh hoạt, nghiên cứu và tiếp nhiên liệu trước khi dấn thân vào những hành trình xa hơn như sao Hỏa.
Ấn Độ đang khẳng định mình là một cường quốc vũ trụ hiệu quả với chi phí tối ưu nhất thế giới. Sau thành công rực rỡ của Chandrayaan-3 đưa thành công tàu đổ bộ và xe tự hành xuống mặt trăng hồi năm 2023, Ấn Độ đang dồn lực cho sứ mạng Chandrayaan-4 nhằm trình diễn khả năng cất cánh từ bề mặt mặt trăng để mang mẫu vật về trái đất. Nước này đã công khai đặt mục tiêu đưa phi hành gia Ấn Độ đặt chân lên cung trăng vào năm 2040, một cột mốc đầy tự hào cho quốc gia tỉ dân này.
Nhật Bản cũng chọn cho mình một lối đi riêng bằng cách tập trung tối đa vào công nghệ hạ cánh chính xác tuyệt đối và robot thông minh. Tiếp nối kỳ tích của tàu đổ bộ SLIM hồi năm 2024, các kỹ sư Nhật Bản đang phối hợp cùng tập đoàn Toyota để phát triển loại xe tự hành có buồng áp suất cực lớn, cho phép con người sống bên trong nhiều ngày mà không cần mặc đồ bảo hộ.
Nhật Bản đóng vai trò là “cánh tay phải” công nghệ không thể thiếu trong liên minh Artemis, đảm nhận các hệ thống kiểm soát môi trường và hỗ trợ sự sống phức tạp. Sự hợp tác này giúp Nhật Bản đổi lấy các suất bay lên mặt trăng cho phi hành gia nước này trên phi thuyền của Mỹ.
Từ vị trí “kẻ đến sau”, Nga đang nỗ lực khôi phục vị thế thông qua sứ mạng Luna-Glob, bất chấp nhiều thách thức. Sau những trục trặc trong quá khứ, Moscow đang đặt kỳ vọng lớn vào vệ tinh Luna 26 để lập bản đồ khoáng sản và thiết lập mạng lưới liên lạc cho các trạm đổ bộ tương lai tại cực Nam mặt trăng. Hiện nay, Nga đang thắt chặt hợp tác chiến lược với Trung Quốc để tạo thành một liên minh không gian Á – Âu mạnh mẽ, sẵn sàng cạnh tranh trực tiếp về các chuẩn mực pháp lý ngoài không gian.
Cuối cùng, không thể không nhắc đến sự góp mặt của châu Âu và các quốc gia mới nổi như UAE, đang làm thay đổi diện mạo cuộc đua. Trong khi Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (ESA) cung cấp các mô-đun dịch vụ thiết yếu cho tàu Orion của Mỹ, thì UAE lại gây bất ngờ khi chuẩn bị phóng xe tự hành Rashid 2 lên mặt sau của mặt trăng. Sự đa dạng này cho thấy mặt trăng không còn là vùng đất xa lạ của riêng ai mà đang dần trở thành một phần không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu trong tương lai gần.
Cuộc đua năm 2026 không chỉ là chuyện cắm cờ khẳng định chủ quyền như nửa thế kỷ trước mà là bài toán về sự tồn vong và thịnh vượng lâu dài của mỗi quốc gia. Dẫu sự cạnh tranh đang diễn ra gay gắt, nhân loại vẫn rất cần một tiếng nói chung về pháp lý để đảm bảo nguồn tài nguyên quý báu tại đây được chia sẻ công bằng. Chỉ khi gạt bỏ những toan tính vị kỷ, con người mới thực sự biến mặt trăng thành nhịp cầu hòa bình nối liền các hành tinh trong Hệ mặt trời.
Con người luôn khát khao hòa bình, đặc biệt với những ai đang sống trong chiến tranh, từ Ukraine tới Sudan, từ Iran tới Lebanon và nhiều nơi khác trên thế giới mà dân lành chưa thể có được ngày lành.
Giữa chiến sự, người ta chứng kiến nhiều khoảnh khắc toát lên khát vọng hòa bình. Giữa những con số thương vong hay vô số câu chuyện đau lòng đến ám ảnh mỗi ngày, người ta bắt gặp những ánh mắt đang chờ đợi một ngày mai tươi sáng.
Sống giữa những làn đạn, dân thường không quan tâm đến những tính toán địa chính trị phức tạp. Điều họ cần rất giản dị: được sống an toàn, được trở về nhà, được đoàn tụ với người thân và tiếp tục cuộc sống thường ngày vốn đã bị chiến tranh tước đi.
Như chia sẻ của bà Olha (45 tuổi) - làm việc tại một công ty xây dựng ở Kiev - hy vọng lớn nhất của bà rất đơn giản: các con của mình một ngày nào đó sẽ được sống mà không còn sợ hãi.
"Tôi muốn các con lớn lên mà không phải lo lắng về tên lửa và máy bay không người lái, được chứng kiến những người lính trở về nhà, và được ngủ yên giấc mà không còn tiếng còi báo động" - bà chia sẻ trên Tân Hoa xã hồi tháng 2-2026, thời điểm tròn 4 năm xung đột giữa Nga và Ukraine.
Hay như chia sẻ của Bộ trưởng Kinh tế và Thương mại Lebanon Amer Bisat trên kênh Euronews mới đây, đất nước của ông đã mệt mỏi vì chiến tranh và muốn có hòa bình với Israel.
"Tôi thực sự tin rằng người dân Lebanon muốn có hòa bình, muốn được thịnh vượng, ổn định, tất cả đều vậy. Tôi nghĩ rằng hiện tại tất cả chúng tôi đều mệt mỏi vì chiến tranh, mệt mỏi vì bất ổn, mệt mỏi vì bạo lực" - ông chia sẻ.
Trên báo The Guardian hồi tháng 3, Farhad, một biên tập viên ảnh ở Iran, trải lòng: "Thật khó khăn, nhưng chúng tôi đang thích nghi và cố gắng trở lại cuộc sống thường nhật càng nhiều càng tốt. Không còn cách nào khác. Chúng tôi mệt mỏi rồi. Chúng tôi chỉ muốn hòa bình".
Chiến tranh, dù diễn ra ở bất kỳ đâu, cũng luôn để lại những vết sẹo không dễ lành. Có những khoảnh khắc cho thấy hòa bình quý giá biết bao. Một bé gái chạm vào bức ảnh của cha mình tại một khu tưởng niệm ở Ukraine, như thể cố níu giữ một ký ức đã vĩnh viễn xa rời. Một người phụ nữ đứng lặng bên mộ con trai ở Iran, nỗi đau không cần lời diễn tả.
Hay hình ảnh một người đàn ông ôm chặt bạn mình khi trở về quê nhà sau những ngày phải chạy trốn bom đạn ở Lebanon, cái ôm ấy không chỉ là sự đoàn tụ, mà còn là minh chứng cho một điều: con người luôn khao khát được sống trong hòa bình.
Ở một góc khác, các cựu binh tại Mỹ - những người từng trải qua chiến tranh - cùng tập trung phản đối những cuộc tấn công mà họ hiểu rõ hơn ai hết. Chiến tranh không chỉ gây tổn thương cho đối phương, mà còn để lại những hệ lụy sâu sắc ngay trong lòng mỗi quốc gia phát động. Khi những người hiểu rõ cái giá của xung đột lên tiếng, đó là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự cần thiết của hòa bình.
Chia sẻ trước các nhà báo tại New York (Mỹ) gần đây, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres dự báo năm 2026 sẽ là "một năm đầy những bất ngờ và hỗn loạn liên tiếp", nhưng ông mong thế giới: Hãy chọn hòa bình thay vì hỗn loạn!
Cục Thống kê Lao động Mỹ hồi đầu tháng công bố số liệu mới, cho biết tính đến tháng 4, khoảng 66,6% nam giới Mỹ từ 20 tuổi trở lên có việc làm hoặc chủ động tìm việc, giảm từ mức 73% năm 2006 và là mức thấp nhất trong gần 20 năm.
Tỷ lệ này gần tiệm cận mức được ghi nhận sau cuộc đại suy thoái năm 2008. Khi đó, tỷ lệ nam giới từ 20 tuổi trở lên tham gia thị trường lao động giảm 7 điểm phần trăm chỉ trong một năm.
Mỹ hiện có 123,7 triệu nam giới từ 20 tuổi trở lên, nên tỷ lệ trên đồng nghĩa 33,4% nhóm này, tương đương 41,3 triệu người, không tham gia thị trường việc làm và cũng không tìm kiếm việc làm.
Nhóm không tham gia thị trường việc làm gồm cả người thất nghiệp và người không tham gia lực lượng lao động, như người nghỉ hưu, sinh viên, người mất khả năng lao động hay người chọn ở nhà nội trợ.
Tỷ lệ việc làm sau đó nhích lên chậm trong thập niên 2010, rồi tiếp tục giảm mạnh trong thời đại dịch năm 2020, khi chỉ khoảng 59% nam giới tham gia thị trường lao động. Tỷ lệ phục hồi một phần trong hai năm sau, rồi giảm dần, kéo dài đến mức thấp hiện nay.
Các chỉ số tiếp tục xấu đi. Tính đến tháng 4, tỷ lệ nam giới có việc làm giảm trọn 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025.
Theo Washington Post, tỷ lệ này giảm do nhiều yếu tố, trong đó có làn sóng cắt giảm việc làm tại các ngành sử dụng nhiều lao động nam như vận tải, sản xuất và lao động chân tay.
Số người nghỉ hưu và nam sinh viên tăng lên cũng khiến quy mô nhóm dân số trong độ tuổi làm việc tham gia thị trường lao động bị thu hẹp. Tuy nhiên, nhóm nam giới rời lực lượng lao động vì tình trạng sức khỏe hạn chế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nhóm không còn đi làm.
"Nếu tôi và mẹ không sống cùng nhau, tôi sẽ rất khó xoay xở trong cuộc sống", Andy Breedlove, 51 tuổi, sống tại Tây Virginia, nói. Ông phải nghỉ việc quản lý trạm xăng từ năm 2018 vì mắc bệnh về xương, không thể đứng lâu. Ông hiện ở nhà chăm sóc mẹ già và sống dựa vào khoản trợ cấp chính phủ khoảng 1.000 USD mỗi tháng.
Ngay cả một số người trẻ cũng buộc phải đứng ngoài thị trường lao động vì vấn đề sức khỏe.
"Đôi khi tôi gặp rất nhiều khó khăn trong những việc hàng ngày", Cordell Loll, 25 tuổi, nói. Anh chưa từng đi làm vì các vấn đề dạ dày mạn tính và sức khỏe tâm thần. Loll dành thời gian kiểm soát sức khỏe, chơi điện tử ở nhà và sống nhờ trợ cấp khuyết tật. "Nghĩ đến chuyện đi làm thôi cũng đã thấy gần như không thể", anh nói.
Tỷ lệ phụ nữ rời lực lượng lao động nhìn chung cũng đi theo xu hướng tương tự trong hai thập kỷ qua, nhưng mức biến động thấp hơn nhiều. Trong cuộc suy thoái năm 2008, tỷ lệ việc làm của phụ nữ chỉ giảm 2 điểm phần trăm, trong khi tỷ lệ trong nhóm nam giới giảm 5 điểm phần trăm.
Sau khi lực lượng lao động nữ phục hồi từ đại dịch năm 2020, tỷ lệ này cũng giảm nhẹ, nhưng chưa từng rơi xuống dưới 56% kể từ năm 2022. Xét về số tuyệt đối, phụ nữ Mỹ tham gia lực lượng lao động từ trước đến nay vẫn thấp hơn nam giới Mỹ.
Thỏa thuận đóng 3 tàu hộ vệ lớp Mogami được Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles và Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Koizumi Shinjiro công bố tại Melbourne, theo Hãng tin Kyodo News. Ba chiếc tàu chiến này sẽ được đóng tại Nhật Bản.
Tại cuộc họp báo chung trên tàu khu trục lớp Mogami Kumano sau cuộc đàm phán, ông Marles cho hay chiếc đầu tiên dự kiến sẽ được bàn giao cho Úc vào tháng 12.2029.
Chính phủ Úc, được Nhật Bản xem là đối tác quan trọng trong việc duy trì ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, cho hay sẽ đầu tư tới 20 AUD (14,4 tỉ USD) trong 10 năm để phát triển hạm đội mới.
Hai bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản và Úc cũng đã ký một văn bản cam kết phối hợp chặt chẽ để đảm bảo dự án tiến triển một cách suôn sẻ.
Kyodo News dẫn một số nguồn thạo tin tiết lộ rằng các hợp đồng đã được ký kết giữa chính phủ Úc và các công ty, trong đó có Mitsubishi Heavy Industries Ltd. Công ty này đóng các tàu lớp Mogami.
Bộ trưởng Koizumi nhấn mạnh dự án đóng tàu chiến cho Úc sẽ "tăng cường đáng kể khả năng tương tác và mang lại lợi ích rộng lớn, bao gồm cải thiện khả năng đóng tàu cũng như bảo trì và duy trì hoạt động".
Bộ trưởng Marles cũng nhấn mạnh dự án này sẽ "mang lại rất nhiều cơ hội cho Úc và sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng trong nước".
Chính phủ Úc lưu ý trong một thông cáo báo chí rằng tàu hộ vệ lớp Mogami được nâng cấp có tầm hoạt động lên đến 18.500 km và hệ thống phóng thẳng đứng có 32 ống phóng.
Loại tàu này sẽ được trang bị tên lửa đất đối không và chống hạm, có khả năng vận hành trực thăng chiến đấu trên biển MH-60R Seahawk, với thủy thủ đoàn gồm 92 người.