UBND TP.HCM vừa ban hành quyết định thành lập và quy chế hoạt động của 7 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Các khu gồm: Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao TP.HCM diện tích 88,17ha tại xã Nhuận Đức; Khu Cần Giờ 89,74ha tại xã Cần Giờ; Khu Củ Chi 23,3ha tại xã Củ Chi; Khu Nhuận Đức 470ha (giai đoạn 1: 200ha, giai đoạn 2: 270ha); Khu An Nhơn Tây 470ha (giai đoạn 1: 200ha, giai đoạn 2: 270ha); Khu Bình Giã 383,22ha tại xã Bình Giã và Khu Phước Hòa 203ha tại xã Phước Hòa.
Ban Quản lý khu nông nghiệp công nghệ cao TP.HCM được giao quản lý trực tiếp các khu, phối hợp Sở Quy hoạch – Kiến trúc lập, thẩm định quy hoạch, xác định ranh giới.
Phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng và các đơn vị triển khai thủ tục đầu tư, đất đai, môi trường, bảo đảm tinh gọn bộ máy và chịu trách nhiệm trước UBND TP.HCM.
UBND TP.HCM vừa chấp thuận đề xuất của Công an TP.HCM về tổ chức lễ mít tinh trực tuyến và giải chạy bộ hưởng ứng Tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2026 với chủ đề “Chung một quyết tâm xây dựng xã, phường, đặc khu không ma túy”. Dự kiến diễn ra từ 6h đến 6h30 ngày 27-6.
Chương trình được kết nối trực tiếp từ điểm cầu chính tại quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) đến điểm cầu TP.HCM và 168 xã, phường, đặc khu. Tại TP.HCM, điểm cầu chính ở đường Lê Duẩn, đoạn phía trước Hội trường Thống Nhất, phường Sài Gòn.
Theo đề xuất của Công an TP.HCM, điểm cầu chính trên đường Lê Duẩn dự kiến thu hút hơn 8.000 vận động viên tham gia. Lộ trình chạy xuất phát từ công viên 30-4, qua các tuyến Công xã Paris, Đồng Khởi, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn, Pasteur và về đích trên đường Lê Duẩn.
Bộ Tài chính đang dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 168 về đăng ký doanh nghiệp.
Theo đó, trên cơ sở quy định về việc yêu cầu xác thực điện tử đối với cả người ủy quyền và người được ủy quyền trong quá trình thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp và đăng ký hộ kinh doanh tại nghị định 168, dự thảo bổ sung quy định hoàn thiện quy trình này theo hướng đưa ra phương án xử lý với trường hợp người ủy quyền không xác nhận hoặc xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký tại 2 thời điểm.
Bao gồm thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh và thời điểm sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Đáng chú ý, dự thảo nghị định hoàn thiện quy trình đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên môi trường điện tử.
Cụ thể, dự thảo quy định theo hướng người nộp hồ sơ thực hiện đăng nhập qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập vào Hệ thống thông tin về đăng ký doanh nghiệp, Hệ thống thông tin về đăng ký hộ kinh doanh và sửa đổi, bổ sung trình tự thực hiện nghiệp vụ trên hệ thống.
Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến hồ sơ dự Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH).
Đáng chú ý, Luật BHXH hiện hành quy định Nhà nước chỉ có chính sách hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện.
Tuy nhiên, theo dự thảo hiện nay, một số trường hợp tham gia BHXH bắt buộc nhưng phải tự đóng cả 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất (không có phần đóng của người sử dụng lao động).
Cụ thể là người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Vợ hoặc chồng không hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cử đi công tác nhiệm kỳ cùng thành viên cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài được hưởng chế độ sinh hoạt phí.
Chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tham gia theo quy định của Chính phủ.
Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương.
Bộ Nội vụ nêu rõ về bản chất, các trường hợp này thuộc diện bắt buộc nhưng nghĩa vụ đóng tương tự như nhóm tham gia BHXH tự nguyện nên tạo tâm lý so sánh vì tham gia BHXH tự nguyện được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng còn tham gia BHXH bắt buộc không được hỗ trợ.
Do vậy, dự luật sửa đổi bổ sung quy định theo hướng Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH bắt buộc đối với các trường hợp tự đóng nêu trên.
Theo thống kê mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, đến quý 2 năm nay, số lượng tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân đạt 249,44 triệu tài khoản, tăng 33,05 triệu tài khoản, tương đương 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tổng số dư trên các tài khoản thanh toán chỉ còn 1,199 triệu tỉ đồng, giảm 146.672 tỉ đồng, tương đương 10,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Với thẻ ngân hàng, số lượng thẻ nội địa và thẻ quốc tế cũng diễn biến trái chiều.
Tính đến cuối tháng 3, tổng số thẻ nội địa đang lưu hành, gồm thẻ ghi nợ, tín dụng, trả trước và các loại thẻ khác, đạt 98,05 triệu thẻ, giảm 10,22 triệu thẻ so với cuối năm 2025.
Trong khi đó, số thẻ quốc tế đang lưu hành đạt 56,98 triệu thẻ, tăng 1,12 triệu thẻ so với cuối năm 2025. Nhóm này gồm thẻ ghi nợ, tín dụng, trả trước và các loại thẻ quốc tế khác.
Tin từ Sở Công Thương Bắc Ninh, đến ngày 24-6, việc tiêu thụ vải thiều trong tỉnh diễn ra thuận lợi, giá bán duy trì mức cao, mang lại nguồn thu lớn cho người trồng vải và các doanh nghiệp, thương nhân thu mua.
Trước đó, giá vải thiều bình quân từ ngày 16-6 đến 21-6 dao động 60.000 – 90.000 đồng/kg, cao hơn nhiều so với các năm trước. Sản lượng vải thiều tiêu thụ ước khoảng 107.000 tấn, trong đó chủ yếu là tiêu thụ trong nước với khoảng 77.000 tấn, còn lại là xuất khẩu.
Sơ bộ, doanh thu vải thiều của niên vụ 2026 đạt gần 6.000 tỉ đồng, tăng gần gấp rưỡi so với cùng kỳ năm 2025.
Ngay sau khi bài viết Dự báo dân số Việt Nam năm 2200 còn 46 triệu người, 'siêu già' từ năm 2040 đăng trên Báo Thanh Niên (ngày 9.4.2026) - chủ đề này đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của độc giả với hàng trăm lượt tương tác trên fanpage của báo cùng nhiều bình luận dưới bài viết và trên mạng xã hội. Đáng chú ý, câu chuyện dự báo dân số giảm mạnh vẫn tiếp tục là chủ đề chưa hạ nhiệt được đông đảo bạn đọc bàn luận.
Bên cạnh mối quan tâm về dự báo dân số Việt Nam và xu hướng già hóa dân số tại nhiều quốc gia phát triển trong tương lai, không ít bạn đọc đã thẳng thắn chia sẻ về bài toán sinh con, nuôi con giữa bối cảnh chi phí ngày càng cao.
Đáng chú ý, bạn đọc "CK Nguyen" đưa ra một phép tính khá chi tiết về chi phí nuôi dạy con tại đô thị lớn như TP.HCM. Theo bạn đọc này, ngay cả trong kịch bản chi tiêu tiết kiệm, để nuôi 1 con từ nhỏ đến hết đại học, gia đình cũng phải chuẩn bị khoảng 1,2 - 1,8 tỉ đồng; nếu nuôi 2 con, số tiền có thể lên tới 2,4 - 3,6 tỉ đồng.
Trong đó, giai đoạn 6 - 18 tuổi được xem là tốn kém nhất, với tổng chi phí ước tính khoảng 600 triệu - 1,2 tỉ đồng, chưa kể những khoản khác như học thêm, học ngoại ngữ, kỹ năng, thiết bị học tập hay chăm sóc sức khỏe. Riêng 4 năm đại học, học phí và sinh hoạt cũng có thể tiêu tốn thêm khoảng 200 - 500 triệu đồng.
Từ phép tính này, bạn đọc CK Nguyen cho rằng đây mới chỉ là mức chi tối thiểu, qua đó bày tỏ nỗi lo trước áp lực tài chính kéo dài trong hành trình sinh con, nuôi dạy con.
Bạn đọc "Minh Nguyen" chia sẻ rất yêu trẻ nhưng chần chừ trước quyết định sinh con. Theo bạn đọc này, nuôi con không chỉ là lo ăn học, mà còn cần thời gian, công sức để đồng hành, dạy dỗ con nên người. Đồng thời, bạn đọc cho rằng việc sinh con không thể trông chờ vào suy nghĩ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”.
“Có những điều không thể giải quyết chỉ bằng tiền. Phải lo được cho con thì tôi mới dám sinh, không chỉ đủ điều kiện kinh tế, mà còn phải có thời gian để chăm sóc, đồng hành và dạy dỗ con”, bạn đọc bày tỏ.
Trong khi đó, bạn đọc "Hung Cuong" nhắc đến thực tế thu nhập còn thấp là rào cản lớn khiến nhiều người không dám sinh con. Theo bạn đọc này, với mức thu nhập khoảng 6 triệu đồng/tháng, việc trang trải cuộc sống cá nhân đã không dễ, nên chuyện lập gia đình, sinh con và bảo đảm điều kiện nuôi dạy con càng trở thành bài toán khó. “Ngay cả nuôi bản thân còn chật vật nên chuyện sinh con càng khó tính toán”, bạn đọc bày tỏ.
Chị Ái Trinh (30 tuổi, ở phường Thủ Đức, TP.HCM) hiện đã có 2 con nhỏ, cho biết từng nghĩ đến chuyện sinh thêm con thứ ba. Thế nhưng, mong muốn ấy phải gác lại trước áp lực áp lực kinh tế và thời gian.
Theo chị Trinh, nỗi lo lớn nhất không chỉ là chuyện sinh thêm một đứa trẻ, mà là làm sao bảo đảm điều kiện nuôi dạy con chu đáo trong bối cảnh chi phí sống ở đô thị ngày càng đắt đỏ.
"Vợ chồng tôi đều đi làm, thu nhập không thấp nhưng chi phí nuôi 2 con đã rất lớn, từ học hành, ăn uống đến các khoản phát sinh. Nếu sinh thêm, tôi không chắc có đủ thời gian chăm sóc con hay không, chưa kể áp lực công việc và nguy cơ ảnh hưởng thu nhập", chị Trinh nói.
Còn bạn đọc Trung Nguyên chia sẻ: khi bàn về chuyện sinh con, điều nên đặt lên trước là làm sao để một đứa trẻ được sinh ra trong hạnh phúc, chứ không phải sinh con như một chỗ dựa để cha mẹ thấy yên lòng hơn về sau. Theo bạn đọc này, đó là hai cách nghĩ hoàn toàn khác nhau...
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng chuyện sinh con ngày nay không còn chỉ là việc riêng của mỗi gia đình, mà gắn trực tiếp với quy mô lao động, quy mô dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Theo ông, người lao động có “vai trò kép”: vừa trực tiếp tạo ra của cải cho xã hội, vừa tạo ra thế hệ lao động tiếp theo cho đất nước.
Ông nhấn mạnh, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thu nhập không theo kịp chi phí nuôi con. Theo phân tích của ông, tại nhiều nước vẫn còn khoảng 35 - 45% người lao động có mức lương dưới ngưỡng đủ sống tối thiểu - tức mức lương thấp nhất để một gia đình có 2 người đi làm có thể nuôi 2 vợ chồng và 2 con, cho con đi học đến 18 tuổi và học được một nghề. Với mức thu nhập đó, họ không đủ điều kiện tài chính để sinh và nuôi 2 con đến tuổi trưởng thành.
Theo ông Nhân, cái gốc của câu chuyện ngại sinh con nằm ở chỗ đã sinh thì phải nuôi được, dạy cho tử tế. Người trẻ sẽ không sinh hoặc chỉ sinh 1 con nếu chưa có đủ những điều kiện cần thiết như thu nhập đủ sống và chỗ ở phù hợp.
Ông nêu rõ: “Họ làm như vậy là đúng quy luật của cuộc sống hiện nay: không nuôi con được tử tế thì đừng sinh con, khác với quan niệm hơn 100 năm trước: trời sinh voi, trời sinh cỏ. Nhưng khi mà một đất nước trên dưới 40% số gia đình hoặc phụ nữ không sinh con hoặc chỉ sinh 1 con, còn hầu hết các gia đình còn lại chỉ sinh 2 con, thì mức sinh bình quân của cả nước không bao giờ đạt mức thay thế 2,1 con. Tỷ lệ tái tạo lao động của đất nước luôn nhỏ hơn 100%”.
Ông cũng phân biệt rõ giữa lương tối thiểu và lương đủ sống tối thiểu. Nếu lương tối thiểu chỉ giúp người lao động tự nuôi bản thân, còn muốn yên tâm sinh con, nuôi con và duy trì một gia đình ổn định, phải có mức lương đủ sống cho cả gia đình.
Bên cạnh đó, từ việc khảo sát hàng loạt công bố, ông Nhân cho rằng mức sinh thấp kéo dài không chỉ do gánh nặng chi phí sống, thiếu dịch vụ chăm trẻ, thời gian làm việc quá dài hay điều kiện lao động chưa thuận lợi cho phụ nữ, mà còn bắt nguồn từ sự suy giảm cả động lực cá nhân lẫn động lực xã hội đối với hôn nhân và sinh con.
Ông chỉ ra xu hướng “3 không” trong một bộ phận thanh niên: không kết hôn, không sinh con, không thấy có trách nhiệm phải kết hôn và sinh con. Từ đó, ông Nhân cho rằng các chính sách khuyến sinh sẽ khó hiệu quả nếu không xử lý đúng các điểm nghẽn cốt lõi.
Theo ông, nhiều Chính phủ đã chi hàng tỉ, chục tỉ USD mỗi năm để khuyến khích kết hôn và sinh con, nhưng mức sinh vẫn tiếp tục giảm. Nguyên nhân là các chương trình hỗ trợ này có tác dụng rất hạn chế, do mức hỗ trợ quá nhỏ so với nhu cầu tài chính để nuôi dạy 2 con đến tuổi trưởng thành.
Ông lý giải, nhiều Chính phủ đã chi rất nhiều chi phí để khuyến khích kết hôn, sinh con nhưng hiệu quả vẫn hạn chế do mức hỗ trợ còn quá nhỏ so với gánh nặng thực tế, trong khi các vấn đề nền tảng chưa được giải quyết. Đó là thu nhập của một bộ phận người dân không đủ nuôi 2 con ăn học đàng hoàng tới 18 tuổi; thiếu trường mầm non công lập với chi phí vừa phải; chi phí nhà quá cao; bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng trong việc nhà và trả lương.
Bên cạnh đó là điều kiện làm việc khắc nghiệt với phụ nữ, khiến cơ hội thăng tiến bị ảnh hưởng tiêu cực khi họ có con; chi phí điều trị vô sinh cao, vượt quá khả năng chi trả của nhiều cặp vợ chồng; môi trường xã hội chưa thân thiện với trẻ em và phụ nữ làm mẹ.
Ngoài ra, nhiều nơi cũng chưa có nội dung giáo dục về trách nhiệm công dân đối với tương lai, sự phát triển của đất nước, cũng như giáo dục về hạnh phúc gia đình và cách xây dựng gia đình hạnh phúc.
Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với dự thảo hồ sơ chính sách bộ luật Hình sự (sửa đổi), trong đó đề xuất bổ sung nhiều tội danh mới, hành vi mới mà luật hiện hành chưa quy định.
Theo Bộ Công an, quá trình triển khai thi hành bộ luật Hình sự năm 2015 đạt được nhiều kết quả. Song, thực tiễn vẫn còn những bất cập và thách thức nhất định. Một số vấn đề tiêu cực tiếp tục diễn ra, đã và đang gây nên phản ứng gay gắt của một bộ phận không nhỏ người dân, trong đó có ô nhiễm môi trường.
Cơ quan soạn thảo chỉ ra rằng, trong các hành vi của tội gây ô nhiễm môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại hiện nay, chưa có quy định về hành vi đốt chất thải, nhất là đối với các chất thải nguy hại.
Cạnh đó cũng chưa có quy định về hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt quy chuẩn. Thực tế này dẫn tới chưa có cơ chế xử lý hình sự đối với người thực hiện các hành vi nêu trên.
Bộ luật Hình sự hiện hành cũng chưa có quy định để xử lý hình sự đối với các hành vi sử dụng các loại hóa chất, phương tiện, công cụ đánh bắt động vật có tính chất tận diệt như: dùng kích điện, dùng sóng cao tần, dùng hóa chất độc hại...
Việc xác định giá trị gây thiệt hại trong các trường hợp trên để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là rất khó, trong nhiều trường hợp là không thể. Trong khi đó, mức độ nguy hiểm của hành vi nêu trên là rất lớn, gây tận diệt sinh vật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học.
"Đánh bắt tận diệt đã và đang biến các con sông thành "sông chết", cần phải có chế tài nghiêm khắc hơn để xử lý, thay vì chỉ xử lý hành chính như hiện nay", Bộ Công an nhận định.
Để khắc phục bất cập, cơ quan soạn thảo đề xuất bổ sung một số hành vi nguy hiểm cho xã hội trong bộ luật Hình sự, gồm: đốt chất thải, nhất là đối với các chất thải nguy hại; gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu quy chuẩn; tận diệt đối với động vật (sử dụng các loại vật liệu, hóa chất, công cụ có tính chất tận diệt)…
Tình trạng gây tiếng ồn và độ rung vượt quy chuẩn vốn là vấn đề gây bức xúc, được phản ánh rất nhiều trong thời gian qua.
Hiện nay, giới hạn tối đa các mức ồn tại các khu vực có con người sinh sống, hoạt động và làm việc được quy định tại Quy chuẩn quốc gia về tiếng ồn (QCVN 26:2025/BNNMT).
Về chế tài xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này, Nghị định 45/2022 quy định mức phạt cảnh cáo với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật dưới 2 dBA, phạt tiền 140 - 160 triệu đồng với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 40 dBA trở lên.
Tương tự, với các vi phạm về độ rung, mức phạt thấp nhất là cảnh cáo, cao nhất phạt đến 170 triệu đồng, tùy thuộc vi phạm trong hoạt động xây dựng hoặc trong hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ.
Theo Bộ Công an, việc sửa đổi quy định như dự thảo hồ sơ chính sách sẽ bảo đảm tính răn đe, tránh bỏ lọt hành vi phạm tội, phù hợp với tình hình thực tiễn.
Điều này còn giúp người dân được bảo vệ tốt hơn trước những vi phạm gây thiệt hại trực tiếp đến môi trường sống, tăng niềm tin xã hội vào khả năng của pháp luật trong việc xử lý kịp thời những hành vi gây bức xúc.
Ngày 12.5, dưới sự bảo trợ của Bộ Công an, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Liên minh Niềm tin số phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức diễn đàn "Digital Trust in Finance 2026" với chủ đề "Xây dựng niềm tin số tài chính trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI)".
Phát biểu khai mạc diễn đàn, thượng tướng Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an, nhấn mạnh, trong bối cảnh AI và công nghệ số phát triển mạnh mẽ, niềm tin số đang trở thành nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của kinh tế số và hệ thống tài chính hiện đại.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng, niềm tin trong môi trường số không còn là yếu tố cảm tính mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để các giao dịch được thực hiện và các quyết định tài chính được xác lập.
Các phương thức lừa đảo, chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức, đặc biệt với sự "hỗ trợ" của công nghệ AI đã tạo nên những "niềm tin giả" rất khó nhận diện. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng thủ thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Theo ông Tùng, một hệ thống tài chính an toàn không chỉ là hệ thống không có rủi ro, mà là hệ thống nơi người dùng thực sự được bảo vệ, được trang bị năng lực nhận diện rõ rủi ro và được hỗ trợ kịp thời khi xảy ra các sự cố.
Thứ trưởng Phạm Thế Tùng cho rằng niềm tin số không thể được xây dựng bởi một cơ quan đơn lẻ mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội.
Phát biểu tại diễn đàn, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng cũng cho rằng trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, niềm tin phải được xem như một hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số, được xây dựng bằng thể chế, công nghệ, quản trị rủi ro và sự phối hợp liên ngành.
Theo ông Dũng, trí tuệ nhân tạo AI mang lại nhiều cơ hội cho ngành ngân hàng như nâng cao hiệu quả vận hành, tự động hóa quy trình, cá nhân hóa dịch vụ, chấm điểm tín dụng, chăm sóc khách hàng, phát hiện giao dịch bất thường, phòng chống gian lận và rửa tiền.
Tuy nhiên, công nghệ này cũng làm phát sinh các rủi ro mới như deepfake, lừa đảo cá nhân hóa, giả mạo danh tính, thiên lệch thuật toán, mô hình "hộp đen" và nguy cơ tự động hóa các quyết định có tác động lớn tới khách hàng nếu thiếu kiểm soát phù hợp.
Trình bày tham luận với chủ đề An ninh tài chính số: Từ bảo vệ hệ thống đến bảo vệ người dùng tại diễn đàn, thượng tá Triệu Mạnh Tùng, Phó cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05 - Bộ Công an), nhấn mạnh bảo vệ tài chính số không chỉ là bảo vệ hệ thống, mà còn là bảo vệ niềm tin của người dùng.
Để bảo vệ người dùng hiệu quả thì xác thực tài khoản là chưa đủ, thậm chí xác thực yếu tố sinh trắc học khi chuyển tiền như hiện nay cũng vẫn không đủ.
Cần chuyển dịch tư duy bảo vệ người dùng, trong đó phải có cơ chế xác thực hành vi người dùng, những vấn đề bất thường… và cần triển khai phòng ngừa chủ động, trong đó tập trung giáo dục nâng cao nhận thức và các kỹ năng tài chính số.
Trong kỷ nguyên AI, việc bảo vệ người dùng không thể chờ tới khi thiệt hại xảy ra mới xử lý mà cần có cơ chế cảnh báo rủi ro ngay trước thời điểm người dùng thực hiện giao dịch.
Muốn làm được điều này, dữ liệu về các mối nguy cơ phải đủ lớn và được cập nhật để chia sẻ. Cạnh đó, cần có sự tham gia của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp công nghệ, các nền tảng số và cộng đồng đóng góp vào cơ sở dữ liệu chung, đồng thời sử dụng dữ liệu đó để chủ động cảnh báo cho khách hàng, người dùng của mình.
"Mong rằng trong kỷ nguyên số chúng ta sẽ bảo vệ các hệ thống tốt, đồng thời cũng bảo vệ khách hàng của mình", thượng tá Triệu Mạnh Tùng nhấn mạnh.