Ngày 30/6, Khoa Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc và Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận bệnh nhi Trần H.A. (15 tuổi, trú tại Ninh Bình) trong tình trạng sốc phản vệ độ III sau khi ăn hải sản.
Khi có dấu hiệu sốc phản vệ tại nhà, bệnh nhi đã được người thân có chuyên môn y tế tiêm adrenaline và nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế, nhưng tình trạng của bệnh nhi vẫn diễn biến nặng, tụt huyết áp, toan chuyển hóa, chỉ số Lactate máu tăng tới 8 mmol/L, cảnh báo nguy cơ suy đa tạng nếu không được hồi sức tích cực kịp thời.
Ngay lập tức, các bác sĩ nhanh chóng triển khai phác đồ hồi sức phản vệ, duy trì adrenaline, bù dịch, lọc máu liên tục và điều chỉnh rối loạn toan kiềm. Chỉ sau vài giờ, tri giác bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, huyết áp và nhịp tim trở về ổn định.
Trước đó, ngày 28/6, Khoa Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc và Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình tiếp nhận bệnh nhân Phạm Văn T. (66 tuổi, trú tại Gia Viễn, Ninh Bình) trong tình trạng nguy kịch.
Bệnh nhân bị sốc phản vệ độ IV trên nền nhiễm khuẩn nặng sau khi sử dụng thuốc điều trị, dẫn đến hai lần ngừng tuần hoàn.
Sau hơn 30 phút hồi sinh tim phổi tại tuyến trước, ông được chuyển đến bệnh viện trong tình trạng hôn mê sâu, suy đa tạng, phải thở máy, trên nền nhiều bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, gout và từng hai lần thay khớp háng.
BSCKII Nguyễn Bá Cường, Khoa Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc và Đột quỵ cho biết, ngay khi người bệnh nhập viện đã được hồi sức tích cực toàn diện bằng thở máy, lọc máu liên tục, sử dụng thuốc vận mạch, theo dõi huyết động xâm lấn và kiểm soát chặt chẽ tình trạng toan kiềm cũng như tổn thương đa cơ quan.
Sau nhiều giờ điều trị, huyết động bệnh nhân dần ổn định, tri giác cải thiện từ 8 lên 12 điểm theo thang điểm Glasgow, chức năng các cơ quan từng bước hồi phục và đặc biệt không ghi nhận tổn thương thần kinh nặng sau hai lần ngừng tim.
Theo BS Cường, trong hồi sức cấp cứu, đặc biệt với các trường hợp sốc phản vệ hoặc ngừng tuần hoàn, từng phút đều có ý nghĩa quyết định.
“Thành công của hai ca bệnh đến từ việc nhận diện đúng tình trạng, kích hoạt quy trình hồi sức ngay từ những phút đầu, đồng thời phối hợp đồng bộ giữa các chuyên khoa. Điều quan trọng nhất là không để mất ‘thời gian vàng’ trong điều trị”, BS Cường nói.
Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Sơn, Giám đốc Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai, đây đều là những trường hợp có nguy cơ tử vong rất cao.
“Ngừng tuần hoàn kéo dài và sốc phản vệ nặng đều là những tình trạng cấp cứu tối khẩn cấp. Người bệnh chỉ có cơ hội sống khi được xử trí đúng ngay từ đầu và được hồi sức tích cực liên tục. Không chỉ cần trang thiết bị hiện đại, điều quan trọng hơn là đội ngũ bác sĩ phải có kinh nghiệm, làm chủ kỹ thuật và phối hợp nhịp nhàng trong từng quyết định chuyên môn”, PGS Sơn thông tin.
Theo đó, mô hình hoạt động của Khoa Hồi sức – Cấp cứu – Chống độc và Đột quỵ tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình được xây dựng đồng bộ với cơ sở Hà Nội, dưới sự hỗ trợ thường xuyên của Trung tâm Hồi sức tích cực, Trung tâm Cấp cứu A9, Trung tâm Đột quỵ và Trung tâm Chống độc.
Điều này giúp người dân Ninh Bình và các tỉnh lân cận được tiếp cận ngay các kỹ thuật hồi sức chuyên sâu mà trước đây chỉ có ở tuyến cuối, giảm đáng kể thời gian chuyển viện và tăng cơ hội cứu sống người bệnh.
PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trong hồi sức cấp cứu, đặc biệt đối với phản vệ nặng hay ngừng tuần hoàn, thời gian chính là sự sống.
Bên cạnh việc làm chủ kỹ thuật hồi sức đa cơ quan, sự phối hợp đồng bộ giữa các chuyên khoa, việc điều trị kỹ thuật cao tại địa phương giúp người bệnh được tiếp cận điều trị sớm nhất.
Ông cho biết, việc đưa Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình vào hoạt động không đơn thuần là mở rộng quy mô khám chữa bệnh mà còn hiện thực hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế trong việc đưa y tế kỹ thuật cao đến gần người dân.
Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai thông tin thêm, chỉ sau vài ngày đi vào hoạt động, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình đón rất nhiều người bệnh.
“Theo thống kê ngày 30/6, tổng số khám ngoại trú là 3.500 trường hợp, 500 ca nội trú. Các bác sĩ làm việc tập trung cao độ vì số lượng bệnh nhân đến rất đông. Bệnh viện đảm bảo điều động luân phiên nhân sự chất lượng cao để đảm bảo chất lượng điều trị tốt nhất”, PGS Cơ nói.
Ngoài hai ca cấp cứu sốc phản vệ nguy kịch, bệnh viện cũng mổ cấp cứu nhiều trường hợp nặng, cấp cứu nhồi máu cơ tim, can thiệp tim mạch, phối hợp sản – nhi điều trị trẻ sinh non…
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí y khoa uy tín Annals of Internal Medicine đã tìm ra một cách ăn có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tới 31%.
Nghiên cứu do các nhà khoa học tại Đại học Navarra (Tây Ban Nha) dẫn đầu, thực hiện cùng hơn 200 chuyên gia từ 22 trường đại học và hơn 100 bệnh viện của Tây Ban Nha.
Nghiên cứu theo dõi 4.746 người từ 55 đến 75 tuổi trong suốt 6 năm. Tất cả đều thừa cân hoặc béo phì, mắc hội chứng chuyển hóa nhưng chưa bị tiểu đường hay bệnh tim mạch. Mục tiêu là đánh giá liệu có chế độ ăn nào hiệu quả hơn chế độ ăn Địa Trung Hải trong việc phòng ngừa tiểu đường hay không. Những người tham gia được chia thành 2 nhóm.
Nhóm can thiệp: Áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải, đồng thời giảm khoảng 600 kcal mỗi ngày, kết hợp hoạt động thể chất mức độ vừa phải như đi bộ nhanh, tập sức mạnh và thăng bằng.
Nhóm đối chứng: Thực hiện chế độ ăn Địa Trung Hải truyền thống mà không giảm calo hoặc tập luyện.
Kết quả cho thấy kết hợp chế độ ăn Địa Trung Hải, cùng với giảm lượng calo - hỗ trợ giảm cân, với hoạt động thể chất mang lại hiệu quả vượt trội trong việc phòng ngừa bệnh tiểu đường so với chế độ ăn Địa Trung Hải truyền thống.
Cụ thể, những người trong nhóm can thiệp đã giảm đến 31% nguy cơ mắc bệnh tiểu đường so với đối chứng, theo trang tin khoa học Science daily.
Họ cũng giảm cân và giảm mỡ bụng hiệu quả hơn. Trung bình, họ giảm 3,3 kg cân nặng và giảm 3,6 cm vòng eo, trong khi nhóm đối chứng chỉ giảm 0,6 kg và giảm 0,3 cm vòng eo.
Theo giáo sư Miguel Ángel Martínez-González, Đại học Navarra (Tây Ban Nha), đây là bằng chứng lâm sàng rõ ràng đầu tiên cho thấy chế độ ăn Địa Trung Hải giảm calo kết hợp vận động và giảm cân có thể phòng ngừa hiệu quả bệnh tiểu đường loại 2. Ông cho rằng những thay đổi nhỏ nhưng duy trì lâu dài có thể giúp ngăn ngừa hàng nghìn ca mắc mới mỗi năm.
Ông giải thích: Chế độ ăn Địa Trung Hải hoạt động theo cơ chế hiệp đồng để cải thiện độ nhạy insulin và giảm viêm. Khi kết hợp thêm kiểm soát calo và hoạt động thể chất, các lợi ích này được tăng cường hơn nữa.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng chế độ ăn Địa Trung Hải, giảm calo để giảm cân từ từ, kết hợp vận động thường xuyên là phương pháp thiết thực, bền vững và hiệu quả để phòng ngừa tiểu đường loại 2.
Như vậy, áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải - tập trung vào thực phẩm từ thực vật như rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và chất béo lành mạnh như dầu ô liu; hạn chế thịt đỏ và thực phẩm chế biến sẵn, đường tinh luyện và chất béo bão hòa.
Quan trọng, ăn ít hơn một chút, vận động nhiều hơn một chút và duy trì đều đặn có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc căn bệnh đang ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều người ngủ đủ 7-8 tiếng nhưng sáng dậy vẫn uể oải, đau đầu nhẹ, thiếu tỉnh táo.
Theo BS Nguyễn Huy Hoàng, thành viên Hội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam, nguyên nhân có thể không nằm ở điều hòa mà ở việc phòng ngủ quá kín khiến CO2 tích tụ suốt đêm.
Điều hòa dân dụng thông thường không tự tạo ra khí độc hay làm “bẩn” không khí. Vấn đề nằm ở chỗ nhiều gia đình đóng kín hoàn toàn cửa phòng để giữ lạnh, trong khi con người vẫn liên tục hô hấp suốt đêm.
“Mỗi người trưởng thành khi ngủ có thể thải ra khoảng 15-20l CO2 mỗi giờ. Nếu phòng kín và không có trao đổi không khí, nồng độ CO2 sẽ tăng dần theo thời gian”, BS Hoàng nói.
Trong điều kiện bình thường, nồng độ CO2 ngoài trời vào khoảng 400ppm. Đây là mức không khí tự nhiên.
Tuy nhiên, trong phòng ngủ kín diện tích khoảng 20m2, bật điều hòa suốt 7-8 tiếng mà không mở cửa hoặc thông gió, nồng độ CO2 có thể tăng lên 1.500-2.000 ppm.
Theo nhiều nghiên cứu về môi trường không khí trong nhà, khi CO2 vượt khoảng 1.000ppm, chất lượng giấc ngủ bắt đầu giảm. Người ngủ có thể ngủ nông hơn, dễ tỉnh giấc, cảm giác không thực sự được nghỉ ngơi.
Ở mức trên 2.000ppm, nhiều người xuất hiện cảm giác ngột ngạt nhẹ, đau đầu âm ỉ, khô miệng, ngủ dậy uể oải dù ngủ đủ thời gian.
Điểm dễ gây hiểu nhầm là nhiều người cho rằng điều hòa có chức năng “làm sạch” hoặc “đổi” không khí. Thực tế, phần lớn điều hòa dân dụng hiện nay chỉ tuần hoàn khí trong phòng, làm lạnh rồi thổi trở lại, gần như không cấp khí tươi từ bên ngoài.
“CO2 ở mức này không gây ngạt cấp tính hay tổn thương cơ quan. Tác động chủ yếu là làm giấc ngủ kém sâu, cơ thể không được phục hồi tốt”, BS Hoàng phân tích.
Ông cũng nhấn mạnh hiện chưa có bằng chứng khoa học cho thấy nồng độ CO2 trong phòng ngủ kín ở mức thông thường gây rụng tóc, hỏng não, hỏng thận hay các tổn thương nghiêm trọng như nhiều thông tin lan truyền trên mạng xã hội.
Theo chuyên gia, người cao tuổi, trẻ nhỏ, người mắc bệnh hô hấp mạn tính, tim mạch hoặc hen suyễn thường nhạy cảm hơn với môi trường không khí bí bách.
Nhóm này có thể dễ cảm thấy khó chịu, nặng đầu hoặc ngủ không sâu khi phòng thiếu thông thoáng.
Ngoài CO2, phòng ngủ đóng kín lâu ngày còn có thể tích tụ hơi ẩm, bụi mịn, mùi cơ thể và các hợp chất hữu cơ bay hơi từ đồ nội thất, chăn ga, sơn tường… khiến chất lượng không khí giảm thêm.
Tuy nhiên, BS Hoàng lưu ý không nên quá cực đoan đến mức “sợ điều hòa”. Trong thời tiết nắng nóng kéo dài, điều hòa vẫn giúp cơ thể tránh mất nước, sốc nhiệt và ngủ dễ chịu hơn.
Điều quan trọng không phải bỏ điều hòa mà là tạo được sự lưu thông không khí phù hợp.
Chỉ cần một khe hở nhỏ
Theo các khuyến nghị về thông gió trong nhà ở, không khí trong phòng nên được thay mới khoảng một lần mỗi giờ.
Theo BS Hoàng, chỉ cần hé cửa phòng hoặc cửa sổ vài centimet, lượng CO2 tích tụ có thể giảm đáng kể. Một khe hở nhỏ giúp không khí được trao đổi liên tục mà vẫn giữ được độ mát trong phòng.
Ngoài ra, người dùng có thể lắp quạt thông gió nhỏ ở nhà vệ sinh hoặc trên tường phòng ngủ để tạo dòng khí lưu thông.
Với các căn hộ kín hoàn toàn, hệ thống cấp khí tươi sẽ giúp cải thiện chất lượng không khí rõ hơn, dù chi phí cao hơn.
BS Hoàng cũng lưu ý máy lọc không khí không có khả năng xử lý CO2. Thiết bị này chủ yếu lọc bụi mịn, phấn hoa, vi khuẩn hoặc mùi trong không khí.
Ngoài ra, các vết thương ở người tiểu đường cũng lâu lành hơn. Một vết xước nhỏ hay vết phồng rộp tưởng chừng vô hại cũng có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng nếu không được phát hiện kịp thời, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Biến chứng bàn chân ở người tiểu đường thường liên quan đến hai vấn đề chính là tổn thương thần kinh và suy giảm tuần hoàn máu.
Với tổn thương thần kinh, đường huyết cao kéo dài có thể gây bệnh thần kinh ngoại biên. Tình trạng này khiến người mắc cảm thấy tê bì, châm chích hoặc giảm cảm giác ở bàn chân. Khi cảm giác đau bị suy giảm, họ có thể không biết mình vừa bị trầy xước, bị phồng rộp hay dẫm phải vật sắc nhọn. Hệ quả là khiến các tổn thương nhỏ dễ bị bỏ qua và không được chăm sóc kịp thời.
Bên cạnh đó, tiểu đường còn có thể làm tổn thương các mạch máu nhỏ, khiến lượng máu lưu thông đến bàn chân giảm xuống. Khi bị vết thương, cơ thể sẽ khó đưa đủ ô xy và dưỡng chất đến vùng tổn thương. Kết quả là vết thương lâu lành hơn và nguy cơ nhiễm trùng cũng tăng lên.
Người mắc tiểu đường không nên đi chân trần, kể cả khi ở trong nhà, bác sĩ Shelley Gath, chuyên gia sức khỏe bàn chân thuộc Hiệp hội Tiểu đường Mỹ, cho biết.
Nguyên nhân là người bệnh có thể bị tổn thương bàn chân mà không nhận ra, đặc biệt nếu đã xuất hiện biến chứng thần kinh ngoại biên. Ngay cả khi nền nhà được lau dọn thường xuyên, vẫn có thể xuất hiện những nguy cơ khó lường như mảnh thủy tinh nhỏ, cạnh sắc đồ vật hoặc những va chạm bất ngờ với chân bàn, chân ghế.
Đối với người có cảm giác bàn chân bình thường, những tổn thương này thường được phát hiện ngay. Tuy nhiên, với người tiểu đường, đặc biệt là những người bị giảm cảm giác, vết thương có thể âm thầm tiến triển trong nhiều ngày trước khi được chú ý.
Dù tất cả người mắc tiểu đường đều nên chú ý bảo vệ bàn chân. Thế nhưng, một số nhóm có nguy cơ cao cần đặc biệt tránh đi chân trần. Đầu tiên là những người đã có dấu hiệu bệnh thần kinh ngoại biên như tê bì, giảm cảm giác nóng lạnh hoặc giảm cảm giác đau ở bàn chân. Khi khả năng cảm nhận tổn thương bị suy giảm, nguy cơ bỏ sót các vết thương nhỏ sẽ tăng lên đáng kể.
Nhóm thứ hai là những người từng bị loét bàn chân hoặc từng điều trị nhiễm trùng bàn chân. Sau khi đã xuất hiện biến chứng, nguy cơ tái phát thường cao hơn nhiều so với người chưa từng bị.
Ngoài ra, người lớn tuổi mắc tiểu đường lâu năm cũng thuộc nhóm cần chú ý đặc biệt. Tuổi tác càng cao, nguy cơ tổn thương thần kinh, suy giảm thị lực và khó khăn trong việc tự kiểm tra bàn chân càng tăng, theo Healthline.