Làng phong Quy Hòa, phường Quy Nhơn Nam, nằm dưới chân núi Xuân Vân, mặt hướng ra biển. Năm 1929, khu vực này được khai hoang, xây bệnh viện điều trị người mắc bệnh phong từ nhiều nơi trong nước, đồng thời là chốn an trú giúp họ tránh sự kỳ thị.
Sau gần một thế kỷ, nơi đây hình thành cộng đồng dân cư đặc biệt với khoảng 300 hộ sinh sống.
Làng phong Quy Hòa, phường Quy Nhơn Nam, nằm dưới chân núi Xuân Vân, mặt hướng ra biển. Năm 1929, khu vực này được khai hoang, xây bệnh viện điều trị người mắc bệnh phong từ nhiều nơi trong nước, đồng thời là chốn an trú giúp họ tránh sự kỳ thị.
Sau gần một thế kỷ, nơi đây hình thành cộng đồng dân cư đặc biệt với khoảng 300 hộ sinh sống.
Một góc tu viện, nhà thờ và bệnh viện trong thung lũng Quy Hòa năm 1938. Khu điều trị khi đó rộng khoảng 100.000 m2, tiếp nhận hơn 150 bệnh nhân phong, giúp họ có nơi ở ổn định, từng bước gây dựng đời sống.
Linh mục người Pháp Paul André Maheu (1869-1931), người khai hoang thung lũng Quy Hòa, lập nơi điều trị bệnh nhân phong từ năm 1929.
Nhà cửa, hạ tầng trong làng mang dấu ấn kiến trúc Pháp kết hợp phong cách Đông Dương. Qua nhiều thập kỷ, Quy Hòa không chỉ là nơi chữa bệnh mà trở thành nhà, gia đình và quê hương của nhiều thế hệ bệnh nhân phong.
Năm 1999, Bệnh viện Phong và Da liễu Quy Hòa được thành lập, tiếp tục là nơi điều trị và sinh sống của bệnh nhân phong. Phần lớn người ở đây đã khỏi bệnh nhưng còn mang di chứng.
Năm 1999, Bệnh viện Phong và Da liễu Quy Hòa được thành lập, tiếp tục là nơi điều trị và sinh sống của bệnh nhân phong. Phần lớn người ở đây đã khỏi bệnh nhưng còn mang di chứng.
Bà Phạm Thị Sắc, 66 tuổi, quê Quảng Ngãi, vào Quy Hòa điều trị bệnh phong từ năm 1980 sau khi bị chồng bỏ. Di chứng bệnh khiến bà phải cưa chân phải. Sau đó, bà kết hôn với một bệnh nhân cùng quê đang điều trị tại đây.
Ông Nguyễn Đình Tân, 55 tuổi, có cha quê Quảng Nam, vào Quy Hòa điều trị bệnh phong và sinh sống từ năm 1960. Ông Tân theo nghề đánh cá ven bờ hàng chục năm nay.
Theo ông, nhiều hộ trong làng, gồm con cháu bệnh nhân phong và một số người đang điều trị, sống bằng nghề khai thác thủy sản. Vào mùa biển thuận, ông kiếm 200.000-300.000 đồng mỗi ngày; riêng sáng nay bắt được hai con cá đuối, bán khoảng 700.000-800.000 đồng.
Ông Nguyễn Đình Tân, 55 tuổi, có cha quê Quảng Nam, vào Quy Hòa điều trị bệnh phong và sinh sống từ năm 1960. Ông Tân theo nghề đánh cá ven bờ hàng chục năm nay.
Theo ông, nhiều hộ trong làng, gồm con cháu bệnh nhân phong và một số người đang điều trị, sống bằng nghề khai thác thủy sản. Vào mùa biển thuận, ông kiếm 200.000-300.000 đồng mỗi ngày; riêng sáng nay bắt được hai con cá đuối, bán khoảng 700.000-800.000 đồng.
Nơi an táng đầu tiên của thi sĩ Hàn Mặc Tử trong khuôn viên làng phong Quy Hòa. Ông từng điều trị bệnh phong tại đây và qua đời năm 1940.
Nơi an táng đầu tiên của thi sĩ Hàn Mặc Tử trong khuôn viên làng phong Quy Hòa. Ông từng điều trị bệnh phong tại đây và qua đời năm 1940.
Căn phòng lưu niệm trưng bày kỷ vật của thi sĩ Hàn Mặc Tử trong thời gian ông điều trị bệnh phong tại Quy Hòa.
Căn phòng lưu niệm trưng bày kỷ vật của thi sĩ Hàn Mặc Tử trong thời gian ông điều trị bệnh phong tại Quy Hòa.
Vườn tượng các danh y Việt Nam và thế giới trong khuôn viên làng phong Quy Hòa, nhằm tri ân những đóng góp cho y học và tinh thần nhân văn.
Vườn tượng các danh y Việt Nam và thế giới trong khuôn viên làng phong Quy Hòa, nhằm tri ân những đóng góp cho y học và tinh thần nhân văn.
Hồi tháng 5, UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Khu vực nghiên cứu rộng gần 2.900 ha, thuộc các phường Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc và Quy Nhơn Tây.
Tỉnh yêu cầu phương án di dời Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa đến xã Tuy Phước phải được nghiên cứu kỹ, bảo đảm hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân không bị gián đoạn.
Hồi tháng 5, UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2.000 Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Khu vực nghiên cứu rộng gần 2.900 ha, thuộc các phường Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc và Quy Nhơn Tây.
Tỉnh yêu cầu phương án di dời Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa đến xã Tuy Phước phải được nghiên cứu kỹ, bảo đảm hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân không bị gián đoạn.
Ngày 14-5, nguồn tin cho hay UBND tỉnh Gia Lai đã kiến nghị Bộ Xây dựng, Ban Quản lý dự án Thăng Long rà soát, điều chỉnh cục bộ hướng tuyến dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam qua địa bàn để hạn chế thấp nhất việc chồng lấn, ảnh hưởng với các quy hoạch đô thị, khu dân cư, khu tái định cư, các dự án trọng điểm của tỉnh và các di tích lịch sử.
Cụ thể, sau khi nghiên cứu hướng tuyến dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam theo hồ sơ tiền khả thi, tỉnh Gia Lai đề nghị cơ quan chức năng sớm hoàn thành công tác lựa chọn đơn vị tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án.
Đồng thời đề nghị chủ đầu tư làm việc với địa phương trong quá trình nghiên cứu phương án thiết kế chi tiết, hạn chế thấp nhất việc chồng lấn, ảnh hưởng các khu dân cư, khu tái định cư.
Qua nghiên cứu hướng tuyến sơ bộ dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, tỉnh nhận thấy nhiều khu tái định cư chỉ mới được đầu tư xây dựng phục vụ giải phóng mặt bằng dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam có khả năng bị ảnh hưởng bởi dự án.
Đặc biệt, qua nghiên cứu hướng tuyến, địa phương nhận thấy đoạn từ km886 tại phường Hoài Nhơn Bắc đến km903+500 thuộc phường Tam Quan ảnh hưởng nhiều tới các khu dân cư hiện trạng và các khu tái định cư đường bộ cao tốc vừa mới xây dựng xong và bố trí cho người dân.
Tương tự, đoạn tuyến đường sắt đi qua thôn Đại Thuận, xã Phù Mỹ Nam cũng cắt ngang qua khu tái định cư thôn Đại Thuận vừa mới xây dựng bố trí tái định cư cho người dân ảnh hưởng bởi dự án đường bộ cao tốc.
Còn đoạn tuyến đi qua xã Tuy Phước Tây hiện nay sẽ ảnh hưởng rất lớn tới cụm công nghiệp Tây Hoàng Giang (66ha), giải tỏa trắng khu tái định cư xóm 3 Bình An 1, xã Tuy Phước Tây (3ha) thuộc dự án đường bộ cao tốc vừa xây xong.
Ngoài ra, dự án chiếm dụng lớn phần đất đã giải phóng mặt bằng cho dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2. Phải giải tỏa các khu dân cư dày đặc thuộc xã Tuy Phước Tây đã hình thành.
Trước tình hình trên, tỉnh Gia Lai đề nghị Bộ Xây dựng, Ban quản lý dự án chỉ đạo đơn vị tư vấn cập nhật đầy đủ hướng tuyến của dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông qua địa bàn tỉnh; xác định phạm vi chồng lấn để điều chỉnh hướng tuyến dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam cho phù hợp, cụ thể tại đoạn km953+500 đến km962 và phạm vi bố trí ga Diêu Trì.
Làm việc chặt chẽ với tỉnh trong quy hoạch hướng tuyến để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng tới người dân và di tích, các dự án trọng điểm.
Pháp luật chúng ta quy định thế nào về loại tội phạm này, và thực tiễn xét xử cho thấy những người ra tay với trẻ nhỏ sẽ phải trả giá ra sao?
Những năm gần đây, mức độ các vụ bạo hành ngày càng nghiêm trọng, nhiều vụ để lại thương tích nặng nề hoặc khiến nạn nhân tử vong. Điểm chung của hầu hết các vụ: thủ phạm là người thân trong gia đình, người tình của cha hoặc mẹ, hoặc người được giao trực tiếp trông nom trẻ.
Trẻ em, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, hoàn toàn không có khả năng tự vệ, không thể cầu cứu, không thể kể lại sự thật với ai.
Đó là lý do pháp luật dành sự bảo vệ đặc biệt và nghiêm khắc đặc biệt cho nhóm nạn nhân này.
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chặt chẽ, đủ sức trừng trị mọi hành vi bạo hành trẻ em, tùy theo tính chất, mức độ và mối quan hệ giữa người gây hại với nạn nhân. Cụ thể:
- Người không phải cha mẹ ruột nhưng đang sống chung, trực tiếp chăm sóc trẻ mà có hành vi đối xử tàn ác, đánh đập, bỏ đói, hành hạ bị xử lý về tội "hành hạ người khác" theo Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015. Khi nạn nhân là trẻ dưới 16 tuổi, phạt tù từ 1-3 năm. Đây là hành vi phổ biến trong các vụ người tình của cha hoặc mẹ bạo hành con riêng.
- Cha, mẹ hoặc người có trách nhiệm nuôi dưỡng mà ngược đãi, hành hạ con cái bị xử lý về tội "ngược đãi hoặc hành hạ con" theo Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015. Không cần gây thương tích nặng, chỉ cần hành vi thường xuyên gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần là đã cấu thành tội phạm. Mức hình phạt tối đa đến 5 năm tù khi nạn nhân là trẻ dưới 16 tuổi.
- Hành vi nghiêm trọng nhất là cố ý đánh đập gây thương tích thực tế được xử lý về tội "cố ý gây thương tích" theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Với nạn nhân dưới 16 tuổi, dù tỉ lệ thương tích chỉ dưới 11% vẫn bị truy cứu hình sự - mức bảo vệ pháp lý cao hơn nhiều so với nạn nhân là người lớn. Hình phạt tăng dần theo mức độ thương tích và hậu quả.
Đặc biệt, nếu nạn nhân tử vong, người phạm tội đối mặt với mức hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, tùy thuộc vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng.
Nhiều vụ án, tòa án áp dụng đồng thời nhiều tội danh đối với cùng một bị cáo. Ví dụ vừa bị xử về tội hành hạ người khác, vừa bị xử về tội cố ý gây thương tích. Các hình phạt được tổng hợp lại theo quy định. Nghĩa là hình phạt thực tế người phạm tội phải chịu có thể rất cao, không phải chỉ tính theo một tội danh.
Từ thực tiễn xét xử có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, lý do "dạy con" hay "dạy dỗ nghiêm khắc" không được tòa án chấp nhận là tình tiết miễn hoặc giảm nhẹ đáng kể. Ranh giới pháp luật và thực tiễn xét xử xác định rất rõ: đánh đập nhiều lần, bỏ đói, dùng vật cứng gây thương tích, dùng tay không nhưng tác động vào vùng đầu, cổ - đó là hành vi phạm tội, không phải dạy dỗ.
Hai là, tuổi trẻ của bị cáo không phải lá chắn. Nhiều người lầm tưởng rằng bị cáo còn trẻ, lần đầu phạm tội sẽ được giảm nhẹ mạnh.
Trong các vụ bạo hành trẻ nhỏ gây hậu quả nghiêm trọng, hội đồng xét xử luôn ưu tiên bảo vệ nạn nhân và răn đe xã hội.
Không ít bản án trong loại tội phạm này ở mức trên 10 năm tù, thậm chí tù chung thân khi nạn nhân tử vong.
Ba là, người mẹ hoặc cha biết con bị bạo hành mà im lặng, bao che, hoặc tiếp tục giao con cho kẻ bạo hành cũng đối mặt với trách nhiệm hình sự. Nghĩa vụ bảo vệ con là nghĩa vụ pháp lý ghi trong luật, không chỉ là đạo lý. Im lặng trước hành vi bạo hành con mình là vi phạm pháp luật.
Bốn là, thái độ sau khi gây án có ý nghĩa lớn trong quyết định hình phạt. Những bị cáo kịp thời đưa trẻ đi cấp cứu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thực sự được tòa án ghi nhận. Ngược lại, bỏ mặc nạn nhân, tạo dựng lý do che giấu, không hợp tác điều tra - những điều này luôn khiến mức án cao hơn đáng kể.
Thực tiễn xét xử tại các tòa án cho thấy: những người bạo hành trẻ em đều phải trả giá rất đắt. Pháp luật chỉ phát huy hiệu quả khi vụ việc được phát hiện kịp thời. Và người phát hiện trước hết không phải cơ quan chức năng mà là hàng xóm, người thân, chủ nhà trọ, giáo viên, nhân viên y tế.
Điều 51 Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ: mọi cá nhân, tổ chức khi phát hiện trẻ bị xâm hại hoặc nghi ngờ bị xâm hại đều phải thông báo ngay cho cơ quan chức năng. Không lên tiếng khi biết cũng là vi phạm.
Nhìn lại các bản án về bạo hành trẻ em đã được xét xử, điều day dứt nhất không phải là mức hình phạt mà là câu hỏi: liệu có ai đó biết sớm hơn, lên tiếng sớm hơn thì kết cục có khác không?
Điều còn thiếu là sự dũng cảm của một người hàng xóm, một tiếng gõ cửa đúng lúc, một cuộc gọi không ngại phiền. Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 2.4.2026 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24.1.2022 về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Chương trình).
Chương trình phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2025 đạt tối thiểu 45%, đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 1,5 - 1,9% vào năm 2025, đến năm 2030 đạt khoảng 1,9 - 2,3%.
Số lượng đô thị toàn quốc đến năm 2025 khoảng 950 - 1.000 đô thị, đến năm 2030 khoảng 1.000 - 1.200 đô thị. Đến năm 2025, 100% các đô thị hiện có và đô thị mới có quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, chương trình cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị. Đến năm 2030, hình thành một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cấp vùng đạt các chỉ tiêu về y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa cấp đô thị tương đương mức bình quân của các đô thị thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN.
Tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt khoảng 11 - 16% vào năm 2025, 16 - 26% vào năm 2030. Diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân tại khu vực đô thị đạt khoảng 6 - 8 mét vuông vào năm 2025, khoảng 8 - 10 mét vuông vào năm 2030. Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt tối thiểu 28 mét vuông vào năm 2025, đến năm 2030 đạt tối thiểu 32 mét vuông.
Đến năm 2025, hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình tại đô thị, phổ cập dịch vụ mạng di động 4G, 5G và điện thoại thông minh; tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt trên 80%. Đến năm 2030, phổ cập dịch vụ mạng internet băng rộng cáp quang, phổ cập dịch vụ mạng di động 5G, tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt 100%.
Kinh tế khu vực đô thị đóng góp vào GDP cả nước khoảng 75% vào năm 2025 và khoảng 85% vào năm 2030. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc Trung ương đạt bình quân 25 - 30% vào năm 2025, 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030.
Tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.