Chiều 7.4, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thông qua nghị quyết bầu ông Nguyễn Văn Quảng làm Chánh án TAND tối cao nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Phát biểu nhậm chức, ông Nguyễn Văn Quảng bày tỏ cảm ơn Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bộ Chính trị; Ban Bí thư; Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Quốc hội, cùng cử tri và nhân dân đã tiếp tục tin tưởng tín nhiệm giao cho ông trọng trách là đại biểu Quốc hội khóa XVI và làm Chánh án TAND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông nhận thức sâu sắc rằng, đây là vinh dự và trọng trách to lớn trước Đảng, trước Quốc hội và nhân dân.
Theo Chánh án TAND tối cao, những năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tư pháp, của các bộ, ban, ngành, địa phương cùng sự tin tưởng ủng hộ của nhân dân, ngành tòa án đã có nhiều nỗ lực đổi mới, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và hoàn thành tốt nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp.
Những kết quả này đã góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Chánh án TAND tối cao cũng nhấn mạnh, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi các cơ quan tư pháp nói chung và TAND nói riêng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, thực chất và hiệu quả hơn nữa, đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Với tư cách là người đứng đầu cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp, ông sẽ tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp và lời hứa đã trình bày khi được bầu làm Chánh án TAND tối cao tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV.
Trọng tâm là quán triệt chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, TAND tối cao sẽ tập trung xây dựng hoàn thiện thể chế, phát huy vai trò của tòa án trong kiến tạo và phát triển.
Ngành tòa án sẽ chủ động tổng kết thực tiễn xét xử, phát hiện những bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn trong các quy định của pháp luật để kịp thời kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi nhằm khơi thông các nguồn lực, tháo gỡ các điểm nghẽn phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Theo Chánh án TAND tối cao Nguyễn Văn Quảng, ngành tòa án sẽ tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hoạt động xét xử, lấy chất lượng, công bằng, nghiêm minh và nhân văn làm nền tảng xuyên suốt; bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất, kiên quyết không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
Đồng thời, ngành sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, cắt giảm các thủ tục hành chính tư pháp hướng tới xây dựng tòa án điện tử hiện đại, minh bạch, chuyên nghiệp để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Cùng với đó là tập trung làm tốt công tác xây dựng Đảng gắn với công tác xây dựng ngành, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả phù hợp với mô hình tòa án 3 cấp.
Chú trọng tăng cường kỷ luật kỷ cương, xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán có bản lĩnh chính trị vững vàng, chuyên nghiệp, liêm chính để làm cơ sở nền tảng vững chắc cho việc nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động xét xử của tòa án các cấp, hoàn thành tốt các chỉ tiêu, yêu cầu mà Quốc hội đã đề ra.

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bản tuyên bố:
1. Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Sri Lanka Anura Kumara Dissanayake, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Sri Lanka từ ngày 7 đến ngày 8.52026. Ngày 8.5.2026, tại Phủ Tổng thống, Thủ đô Colombo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón trọng thể với 21 loạt đại bác chào mừng và hội đàm với Tổng thống Sri Lanka. Hai nhà lãnh đạo cũng đồng chủ trì gặp gỡ báo chí chung, dâng hoa tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Thư viện Công cộng Colombo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến và cùng Thủ tướng Harini Amarasuriya dự lễ khai mạc Diễn đàn Thương mại - Đầu tư - Du lịch Việt Nam - Sri Lanka tại Colombo; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Jagath Wickramaratne và phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka.
2. Chuyến thăm tái khẳng định tình hữu nghị truyền thống và sự tin cậy hơn 55 năm qua được vun đắp dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau, các giá trị và cam kết chung vì hòa bình, ổn định và phát triển. Quan hệ song phương càng được thúc đẩy bởi khát vọng chung về hòa bình, độc lập, tự cường, bởi tầm nhìn chung về an ninh, thịnh vượng kinh tế, phát triển bền vững, tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hiệp Quốc.
3. Tại hội đàm, Tổng thống Dissanayake gửi lời chúc mừng nồng nhiệt nhân dịp đồng chí Tô Lâm tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện sự tin tưởng và tín nhiệm sâu sắc. Tổng thống Dissanayake bày tỏ tin tưởng chắc chắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những thành tựu to lớn và phát triển bền vững hơn nữa.
Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi toàn diện và thực chất về các vấn đề song phương, khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Hai bên hài lòng trước sự phát triển của quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước và chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện.
Với việc nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác Toàn diện, Hai nhà lãnh đạo cam kết tiếp tục củng cố và tăng cường hợp tác hữu nghị, xác lập tin cậy chính trị ở mức cao, mở rộng quy mô và mức độ hợp tác theo hướng toàn diện, thực chất trên tất cả các lĩnh vực. Việc nâng cấp này cũng trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hệ thống chính trị và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
4. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tiếp tục tăng cường tiếp xúc, trao đổi cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh, trong đó có giao lưu nhân dân để làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có.
5. Hai bên cũng nhất trí về tầm quan trọng và nhu cầu thúc đẩy hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhất là giữa nhóm nữ đại biểu quốc hội, nhóm đại biểu quốc hội trẻ; thúc đẩy thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Việt Nam - Sri Lanka.
6. Hai bên nhất trí triển khai hiệu quả bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng ký năm 2011; khuyến khích các hoạt động hợp tác thực chất hơn, nhất là đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc; nhất trí hợp tác trong các lĩnh vực như dịch vụ sửa chữa và mua sắm thiết bị quốc phòng; đẩy nhanh đàm phán, hướng tới ký kết các thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng để tạo cơ sở hợp tác; tăng cường hợp tác trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ quốc phòng.
7. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác an ninh và nhất trí triển khai hiệu quả cơ chế đối thoại an ninh; rà soát, cập nhật Thỏa thuận hợp tác về đấu tranh, phòng chống tội phạm ký năm 2009; phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, khủng bố, nhập cư bất hợp pháp; mở rộng hợp tác an ninh hàng hải, cảnh sát và an ninh mạng.
8. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp giữa hai nước thông qua việc đàm phán và ký kết bản ghi nhớ hợp tác mới giữa hai Bộ Tư pháp để thay thế bản ghi nhớ ký năm 2013 đã hết hiệu lực.
9. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác thương mại và đầu tư song phương. Hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả thực chất cơ chế Tiểu ban Thương mại hỗn hợp và thực hiện các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường hợp tác thương mại, bao gồm tạo thuận lợi về thương mại, trao đổi thông tin và thúc đẩy doanh nghiệp. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận tiềm năng to lớn của việc mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế và nhất trí đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD vào năm 2030. Trong bối cảnh đó, phía Việt Nam ghi nhận mong muốn của Sri Lanka về việc sớm trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
10. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư giữa hai nước. Phía Việt Nam đánh giá cao đầu tư của Sri Lanka tại Việt Nam; phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn thu hút thêm đầu tư từ Việt Nam. Hai bên sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; hướng đến một số dự án mang tính biểu tượng trong các lĩnh vực như hạ tầng, viễn thông, giáo dục, y tế, nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông thủy sản, thực phẩm, bán lẻ, logistics, hạ tầng du lịch và năng lượng tái tạo.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; thúc đẩy ký kết văn kiện hợp tác về chuyển đổi số; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin.
12. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của các sáng kiến chia sẻ kiến thức và nâng cao năng lực. Hai bên cũng nhất trí tích cực triển khai kế hoạch công tác giai đoạn 2024 - 2026 trên cơ sở Bản ghi nhớ năm 2009 về Hợp tác phát triển nông nghiệp và chuẩn bị kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo.
13. Phía Sri Lanka đề nghị Việt Nam cung cấp phân bón phục vụ canh tác lúa gạo theo thỏa thuận cấp Chính phủ. Xét tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với cả hai nước và những thách thức hiện tại về nguồn cung, phía Việt Nam xem xét tích cực đề nghị này.
14. Ghi nhận mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, được xây dựng trên nền tảng tình hữu nghị lâu đời, các hoạt động giao lưu Phật giáo trải dài qua nhiều thế kỷ và bắt nguồn từ những giá trị chung cũng như di sản văn hóa phong phú, hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình giao lưu, quảng bá văn hóa, lịch sử và thể thao; tăng cường kết nối giữa các tổ chức Phật giáo; thúc đẩy đối thoại liên văn hóa và nghiên cứu tổ chức các diễn đàn, hoạt động hành hương và tiến tới đồng đăng cai các sự kiện Phật giáo khu vực và quốc tế.
15. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm triển khai hiệu quả các cơ chế song phương hiện có trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; nhất trí hợp tác sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình giới thiệu về văn hóa, con người và lịch sử của hai nước.
16. Trong khuôn khổ Hiệp định hợp tác giáo dục, hai bên nhất trí khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu hai bên, triển khai việc trao đổi sinh viên, nghiên cứu sinh hai nước.
17. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận những chuyển biến trong nỗ lực sớm đưa vào vận hành các đường bay thẳng giữa hai nước ngay trong năm nay, nhằm tăng cường kết nối, thúc đẩy hiệu quả hợp tác du lịch, thương mại và giao lưu nhân dân.
18. Sri Lanka và Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của thúc đẩy hợp tác giữa các hội hữu nghị, hội đoàn kết hai nước; nhất trí tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị, trong đó có giao lưu thanh niên, phụ nữ và mở rộng hơn nữa giao lưu nhân dân.
19. Hai nhà lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác khu vực và đa phương, đặc biệt là trong khuôn khổ Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), coi đây là nền tảng quan trọng cho đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực chất về các vấn đề cùng quan tâm. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ, bao gồm việc đồng chủ trì cuộc họp giữa kỳ của ARF về cứu trợ thiên tai gần đây và nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác trong quản lý thiên tai và hỗ trợ nhân đạo. Phía Sri Lanka bày tỏ mong muốn trở thành Đối tác Đối thoại theo Lĩnh vực của ASEAN và cảm ơn sự ủng hộ liên tục của Việt Nam về vấn đề này.
20. Sri Lanka và Việt Nam tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định và tự do hàng hải, đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của việc tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm bảo đảm trật tự hàng hải quốc tế ổn định và hòa bình.
21. Hai bên nhất trí ủng hộ chủ nghĩa đa phương với vai trò trung tâm của Liên Hiệp Quốc; nhất trí tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, Phong trào Không liên kết (NAM), Hợp tác Nam - Nam, Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện Châu Á - Thái Bình Dương (APPF) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
22. Hai nhà lãnh đạo cũng trao đổi về các thách thức toàn cầu, trong đó có biến đổi khí hậu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động chung, đặc biệt là hỗ trợ các nước đang phát triển thông qua khả năng tiếp cận tài chính khí hậu và chuyển giao công nghệ. Hai bên nhất trí thúc đẩy hợp tác trong phòng, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng. Sri Lanka bày tỏ ủng hộ sáng kiến thành lập Trung tâm khu vực về chống tội phạm mạng của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) tại Hà Nội.
23. Nhân chuyến thăm, hai nước đã ký một số văn kiện hợp tác về an ninh, khoa học và công nghệ, tôn giáo, văn hóa, thông tin và truyền thông.
24. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chân thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Sri Lanka về sự đón tiếp trọng thị, thân tình và nồng hậu dành cho đoàn trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Sri Lanka.
1. Bản ghi nhớ giữa Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an Việt Nam và Học viện Cảnh sát quốc gia, Bộ Công an và các vấn đề Nghị viện Sri Lanka.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Khoa học - Công nghệ Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ Sri Lanka về các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
3. Bản ghi nhớ giữa Bộ Dân tộc - Tôn giáo Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác văn hóa giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Phật giáo, Tôn giáo và Văn hóa Sri Lanka.
5. Bản ghi nhớ hợp tác về hợp tác trong lĩnh vực Thông tin và Truyền thông giữa Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam và Bộ Y tế - Truyền thông đại chúng Sri Lanka.
Tin Gốc: Thanh Niên

Nói chuyện với cán bộ Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao và biểu dương Đại sứ quán, cơ quan đại diện và cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ đã phối hợp tổ chức chuyến thăm lần này rất chu đáo, toàn diện, với nhiều hoạt động thiết thực.
Chia sẻ một số nét nổi bật về tình hình trong nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, bảo đảm 3 mục tiêu quan trọng: giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân.
Đảng, Nhà nước cũng xác định tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trung tâm; phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Đường lối đối ngoại tiếp tục được khẳng định nhất quán: độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Về quan hệ hợp tác Việt Nam - Ấn Độ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, trong khuôn khổ chuyến thăm, đoàn công tác sẽ triển khai nhiều hoạt động phong phú, thiết thực, qua đó góp phần làm sâu sắc hơn tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác thực chất, tạo xung lực mới cho quan hệ hai nước.
Hai nước có nhiều dư địa hợp tác trên các lĩnh vực; có nhiều sự tương đồng về văn hóa là nền tảng quan trọng để thúc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, góp phần mở rộng quan hệ hợp tác, phát huy những tiềm năng, lợi thế của mỗi bên.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm sâu sắc, coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước vui mừng nhận thấy cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ ngày càng trưởng thành, đoàn kết, hội nhập tốt, có nhiều đóng góp thiết thực cho quan hệ hai nước và mong muốn cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ tiếp tục đoàn kết, vững mạnh, luôn hướng về Tổ quốc, góp phần vun đắp tình hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ ngày càng bền chặt, phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn các trí thức, sinh viên Việt Nam tại Ấn Độ tiếp tục nỗ lực học tập, nghiên cứu, chủ động kết nối với trong nước, tham gia các mạng lưới tri thức, chuyển giao công nghệ, đề xuất sáng kiến phục vụ phát triển đất nước.
Cộng đồng doanh nghiệp và người lao động tiếp tục phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, tận dụng tốt các cơ hội hợp tác kinh tế giữa hai nước; góp phần kết nối thị trường, thúc đẩy thương mại, đầu tư, chuỗi cung ứng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, mỗi người Việt Nam tại Ấn Độ chính là một "đại sứ nhân dân", góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, tiếp tục gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, nuôi dưỡng tình yêu quê hương trong thế hệ trẻ; đồng thời tích cực hội nhập, tôn trọng pháp luật và văn hóa sở tại.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, các gia đình Việt - Ấn cần tiếp tục là những "nhịp cầu sống", nơi hai nền văn hóa giao thoa, lan tỏa và bền vững. Các hội đoàn tiếp tục củng cố tổ chức, phát huy vai trò kết nối, xây dựng cộng đồng ngày càng vững mạnh, hướng về Tổ quốc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đại sứ quán và các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ấn Độ tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo; triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng; làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt Nam - Ấn Độ. Đồng thời, chăm lo tốt hơn công tác cộng đồng, tăng cường gắn kết kiều bào với trong nước.
Hiện cộng đồng người Việt Nam sinh sống, làm việc tại Ấn Độ có khoảng 1.000 người, phân bố ở nhiều địa phương, tập trung nhiều nhất tại New Delhi và Chennai. Trong đó, phần lớn là tăng, ni sinh Phật giáo sang học tập, nghiên cứu về Phật giáo, triết học hay tu tập và lưu học sinh.
Tin Gốc: Thanh Niên

PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo (Học viện Báo chí - Tuyên truyền) cho rằng khi nói "quan trọng hơn là để xây" thì không có nghĩa xem nhẹ việc "chống", mà là sự nhấn mạnh đặc biệt vào nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thực tế trong công tác xây dựng Đảng, Đảng luôn coi trọng cả việc xây và chống, vừa kiên quyết chống các biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín và thanh danh của Đảng, vừa ra sức xây dựng Đảng luôn thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiên phong và sứ mệnh của Đảng cầm quyền.
Tuy nhiên, theo ông Bảo, thực tế công tác xây dựng Đảng vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều biểu hiện tiêu cực, tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến uy tín của Đảng mà còn khiến cho niềm tin của nhân dân với Đảng bị giảm sút. Chính vì vậy, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh các cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, với quy định mới về công tác chính trị tư tưởng, Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường, làm tốt hơn nữa nhiệm vụ "xây".
PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo cho rằng khi mỗi cán bộ, đảng viên được rèn luyện nêu gương và tu dưỡng đạo đức suốt đời theo gương Bác Hồ, họ sẽ tự hình thành một "sức đề kháng tự nhiên" trước các luồng tư tưởng sai trái và ảnh hưởng tiêu cực. Do đó, yêu cầu cần thiết đối với cán bộ, đảng viên là kiên định về mục tiêu, lý tưởng; luôn đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp, nhân dân lên trên hết, trước hết và phải nêu gương đạo đức, tu dưỡng đạo đức suốt đời; nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân để xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh.
Đồng quan điểm, ông Hoàng Ngọc Đạo, Trưởng khoa Lý luận cơ sở, Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, nhấn mạnh: xây về bản chất cũng có nghĩa là chống.
"Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng, chúng ta sẽ xây dựng nhiều tấm gương, nhiều hình ảnh, nhiều việc làm tốt đẹp để xây dựng niềm tin lòng tin trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ đảng viên và hình ảnh của VN trước bạn bè quốc tế. Chúng ta đẹp như vậy thì không có cái gì để kẻ thù nói xấu, tức là chống rồi", ông Đạo nói và nhấn mạnh tư duy này tương đồng với nguyên lý dùng sự tích cực để đẩy lùi tiêu cực một cách tự nhiên và bền vững.
Để công tác chính trị thực sự giữ vai trò "đi trước, mở đường", theo PGS-TS Nguyễn Quốc Bảo, công tác chính trị, tư tưởng phải luôn làm tốt và thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thời cơ, vận hội cũng như khó khăn, thách thức, để từ đó luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định công cuộc đổi mới.
Cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào tự tôn dân tộc; cùng chung tay chung sức quyết tâm xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, giàu mạnh; đồng thời kiên quyết đấu tranh, làm rõ những âm mưu thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt trên không gian mạng; từ đó nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những toan tính của các lực lượng phản động, thù địch.
Công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tham mưu cần chỉ ra những điểm nghẽn, nút thắt đặt ra cả về KT-XH, từ đó đề xuất những giải pháp từng bước tháo gỡ một cách có hiệu quả để tiếp tục phát triển.
Quy định mới về công tác chính trị, tư tưởng được ban hành với mục tiêu khắc phục hiệu quả tình trạng "nói không đi đôi với làm", hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng "luật đúng nhưng làm khó" đang gây lãng phí nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hải Phòng, thẳng thắn nhìn nhận trong không ít lĩnh vực, không thiếu chủ trương đúng, thậm chí rất đúng; không thiếu quy định pháp luật, cũng không thiếu các chương trình hành động được xây dựng công phu; nhưng khoảng cách từ "đúng" đến "được thực hiện" vẫn còn khá xa.
Một bộ phận cán bộ nắm rõ quy định, hiểu rõ yêu cầu nhưng triển khai chậm, né tránh, thậm chí đùn đẩy trách nhiệm. Điều này không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách mà còn bào mòn niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, bà Nga cho rằng cần tiếp cận từ cả 2 chiều: siết chặt trách nhiệm thực thi và đồng thời tạo dựng môi trường để cán bộ dám hành động. Theo đó, bà Nga đề nghị cần thiết lập một cơ chế ràng buộc trách nhiệm cá nhân rõ ràng, cụ thể và có thể đo lường được.
Mọi chủ trương, chính sách khi ban hành phải đi kèm với địa chỉ trách nhiệm: ai chịu trách nhiệm chính, ai phối hợp, thời hạn hoàn thành là khi nào, tiêu chí đánh giá ra sao. "Không thể để tình trạng báo cáo chung chung, "đúng quy trình" nhưng không phản ánh được hiệu quả thực chất", bà Nga nêu.
Cùng với đó, bà Nga cho rằng cần tăng cường cơ chế hậu kiểm và xử lý trách nhiệm. "Nếu "nói không đi đôi với làm" mà không có hệ quả rõ ràng thì rất khó tạo chuyển biến. Việc đánh giá cán bộ cần chuyển mạnh từ "đánh giá quá trình" sang "đánh giá kết quả", lấy sản phẩm cụ thể và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo", bà Nga phân tích.
Tuy nhiên, theo nữ đại biểu, siết kỷ luật thôi là chưa đủ vì một nguyên nhân sâu xa của tình trạng "biết nhưng không làm" là tâm lý e ngại rủi ro, sợ sai, sợ trách nhiệm của không ít cán bộ. Do đó, bà đề nghị cần sớm hoàn thiện khung thể chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
"Trước hết là làm rõ ranh giới giữa "sai phạm vì vụ lợi" và "rủi ro trong quá trình đổi mới, sáng tạo". Những quyết định được đưa ra trên cơ sở vì lợi ích chung, có căn cứ, có quy trình, dù kết quả chưa như mong muốn, cần được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan", bà Nga kiến nghị.
TS Nguyễn Viết Chức, Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Văn hóa - xã hội, Ủy ban T.Ư MTTQ VN, thì cho rằng để khắc phục tình trạng "nói không đi đôi với làm" cần giải quyết 2 điểm mấu chốt: tăng cường công khai, minh bạch và phải thay đổi cách đánh giá cán bộ.
"Minh bạch, công khai là phương thuốc tốt nhất. Minh bạch không chỉ giúp cán bộ không dám làm sai, mà còn giúp họ tự tin làm đúng. Đây còn là cơ sở quan trọng để người dân có đủ căn cứ để mà tham gia giám sát, bảo vệ cán bộ", ông Chức nói và kiến nghị cần công khai, minh bạch tất cả quy trình, thủ tục hành chính cũng như tài sản cán bộ.
Về đánh giá cán bộ, TS Nguyễn Viết Chức đồng tình phải có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm. "Chính phủ đã có nghị định về bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song dường như vẫn chưa thực sự thẩm thấu vào đời sống.
Sau Hội nghị T.Ư 2, cần có đề án để tuyên truyền, triển khai đến từng cấp cơ sở, từng đảng viên, và với cả từng người dân. Người dân không thể đứng ngoài cuộc mà cần thực hiện giám sát, phản biện, đó cũng là cách thức để bảo vệ cán bộ", ông Chức nói.
Sau cùng, yếu tố con người vẫn là then chốt. Theo bà Việt Nga, cùng với hoàn thiện thể chế, cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, có năng lực và có đạo đức công vụ.
Khi mỗi cán bộ ý thức rõ trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được đặt trong một hệ thống thể chế minh bạch, công bằng, thì thông điệp "nói đi đôi với làm" sẽ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, mà trở thành chuẩn mực hành động trong bộ máy.
Nguồn: https://thanhnien.vn/de-cong-tac-chinh-tri-tu-tuong-thuc-su-di-truoc-mo-duong-185260406214102239.htm

