Tối 21.7, Công an thành phố Đồng Nai thông tin Cơ quan CSĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam đối với Trần Thanh Hải (41 tuổi, ở tỉnh Khánh Hòa) để điều tra về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Bị can Trần Thanh Hải là tài xế điều khiển xe khách trong vụ cháy xe khách khiến 7 người tử vong xảy ra vào rạng sáng 21.7 trên quốc lộ 1 qua địa bàn Đồng Nai.
Theo điều tra ban đầu, vào khoảng 22 giờ ngày 20.7, bị can Trần Thanh Hải điều khiển xe khách 24 giường nằm biển số 50E-447.02 chở 37 hành khách cùng 1 phụ xe lưu thông từ Khánh Hòa đi TP.HCM.
Đến khoảng 2 giờ ngày 21.7, khi lưu thông đến Km1839 quốc lộ 1 (qua xã Hưng Thịnh, thành phố Đồng Nai), do buồn ngủ dẫn đến ngủ gật, tài xế Hải đã để xe va chạm vào hộ lan chắn bên phải đường.
Sau cú va chạm, một phần hộ lan đã đâm xuyên gầm xe khiến phương tiện tắt máy, sau đó lửa bốc cháy dữ dội ở phần đầu, ngọn lửa nhanh chóng bao trùm toàn bộ phương tiện.
Xe khách chỉ có một cửa lên xuống nằm ở đầu xe và đóng mở bằng hơi, nên khi máy tắt không thể mở cửa. Bị can Trần Thanh Hải cùng phụ xe đã phá cửa, hướng dẫn và đưa một số hành khách thoát ra ngoài.
Tuy nhiên do ngọn lửa và khói lan rất nhanh, bao trùm xe khiến nhiều hành khách không kịp thoát thân. Hậu quả có 7 hành khách tử vong, 6 người khác bị thương.
Sau khi sự việc xảy ra, bị can Trần Thanh Hải đến Công an xã Hưng Thịnh trình diện, khai nhận toàn bộ diễn biến vụ tai nạn.
Trong ngày 21.7, lực lượng Công an thành phố Đồng Nai phối hợp Viện KSND thành phố Đồng Nai đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập dấu vết, tài liệu phục vụ công tác điều tra.
Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục thu thập chứng cứ, làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn, xử lý theo quy định pháp luật.
Liên quan đến vụ cháy xe khách biển số 50E-447.02 làm 7 người tử vong xảy ra vào rạng sáng 21.7 trên quốc lộ 1, theo dữ liệu đăng kiểm, xe khách do Công ty TNHH thương mại – dịch vụ vận tải N.L đứng tên chủ sở hữu, địa chỉ tại phường Tân Sơn (TP.HCM).
Theo xác minh, xe khách 50E-447.02 là loại ô tô khách giường nằm 24 chỗ, đăng ký lần đầu ngày 28.1.2026, có thời hạn kiểm định đến ngày 27.1.2028.
Trong sáng 21.7, Chủ tịch UBND thành phố Đồng Nai Nguyễn Văn Út đã đến hiện trường vụ cháy xe khách khiến 7 người tử vong, đồng thời gặp các nạn nhân bị nạn thăm hỏi, động viên; chia buồn với người nhà có người thân tử vong.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Bài phát biểu 19 lần nhắc về 'hòa bình' của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ở Đối thoại Shangri-La

Tối 29-5, tại Singapore, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu dẫn đề ở Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 - diễn đàn có uy tín và ảnh hưởng lớn đối với các vấn đề hòa bình, an ninh và cấu trúc khu vực.
Bài phát biểu tập trung vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quan điểm và đề xuất của Việt Nam trước bối cảnh hiện tại. Xuyên suốt phát biểu là một tinh thần hành động: hòa bình không thể thụ động chờ đợi, mà phải được chủ động kiến tạo; ổn định không thể chỉ dựa vào răn đe, mà phải được nuôi dưỡng bằng luật lệ, đối thoại, tự kiềm chế và lòng tin; còn phát triển không thể đứng ngoài an ninh, mà ngược lại phải là nền tảng cho an ninh bền vững.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu với nhiều thông điệp quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:
CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn.
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát.
Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: Khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé".
Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế.
Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn.
Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới.
Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải. Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường. Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng.
Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia. Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có. Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối.
Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung. Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung.
Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác.
Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới.
Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu, mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn.
Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại.
Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng.
Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế.
Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Cử tri Đà Nẵng băn khoăn việc luân chuyển cán bộ chỉ trong thời gian ngắn

Chiều nay 5.5, Đoàn đại biểu Quốc hội phối hợp với Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI đối với cử tri 3 phường trên địa bàn thành phố.
Tham dự hội nghị có Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan.
Tại buổi tiếp xúc, cử tri Phạm Ngọc Lãnh (phường Hòa Khánh) cho rằng địa bàn Hòa Khánh có tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và lực lượng lao động lớn, cơ cấu dân cư đa dạng, biến động thường xuyên.
Để Hòa Khánh trở thành đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm thương mại - dịch vụ khu vực tây bắc thành phố, cử tri Phạm Ngọc Lãnh kiến nghị Trung ương và thành phố nghiên cứu, đề xuất đặt nhà ga hành khách của tuyến đường sắt tốc độ cao tại địa bàn phường.
Theo đề xuất, khu vực phía bắc nút giao giữa đường Bà Nà - Suối Mơ với đường cao tốc tại Km701 có nhiều lợi thế như quỹ đất rộng, thuận lợi kết nối với trục Nguyễn Sinh Sắc và các tuyến huyết mạch dẫn đến Bà Nà Hills, khu đô thị lấn biển và trung tâm thành phố. Đồng thời, vị trí này cũng thuận lợi kết nối với sân bay quốc tế Đà Nẵng thông qua tuyến vành đai phía tây, góp phần giảm áp lực giao thông tại các khu vực đông dân cư.
Cử tri Phạm Ngọc Lãnh cho rằng khu vực này phù hợp phát triển đô thị theo định hướng TOD, hình thành các khu đô thị sinh thái, đô thị vệ tinh, thúc đẩy phát triển khu tây bắc thành phố, đồng thời tăng cường liên kết với khu công nghệ cao, cảng Liên Chiểu và khu thương mại tự do trong tương lai.
Cũng tại hội nghị, cử tri Huỳnh Lê Hồng Linh (phường Liên Chiểu) bày tỏ sự đồng tình và đánh giá cao công tác cán bộ của Đảng thời gian qua, đặc biệt là việc điều động, luân chuyển, bố trí cán bộ lãnh đạo nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tuy nhiên, cử tri phản ánh tại một số địa phương, trong đó có Đà Nẵng, việc luân chuyển cán bộ chủ chốt, nhất là Chủ tịch UBND hoặc cán bộ quản lý diễn ra trong thời gian ngắn đã phần nào ảnh hưởng đến tính ổn định trong chỉ đạo, điều hành và tính liên tục của các chương trình, dự án lớn cũng như việc xây dựng tầm nhìn dài hạn cho địa phương.
Từ thực tế đó, cử tri Hồng Linh đề nghị Trung ương cần có định hướng để công tác luân chuyển cán bộ vừa bảo đảm yêu cầu đào tạo, bố trí cán bộ chiến lược, vừa giữ được tính ổn định, liên tục trong lãnh đạo, điều hành tại địa phương. Đồng thời, xem xét cơ chế bố trí thời gian công tác phù hợp hơn đối với các đô thị lớn như Đà Nẵng.
Cử tri cũng kiến nghị thời gian tới, Trung ương cần có giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ, lựa chọn đúng người, đúng việc, hạn chế xáo trộn, tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
"Chúng tôi mong công tác cán bộ thời gian tới sẽ ngày càng khoa học, chặt chẽ, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước và từng địa phương", cử tri Huỳnh Lê Hồng Linh kỳ vọng.
Phát biểu tại hội nghị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đánh giá cao các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, cụ thể của cử tri đã gửi tới Đoàn đại biểu Quốc hội. Những kiến nghị này sẽ được tổng hợp, tiếp thu đầy đủ để chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền địa phương, ông Trần Cẩm Tú đề nghị lãnh đạo thành phố và các sở, ngành liên quan khẩn trương xem xét, xử lý dứt điểm, trả lời kịp thời cho người dân, tránh tình trạng chậm trễ hoặc để tồn đọng kéo dài.
Về định hướng chung, Thường trực Ban Bí thư nhấn mạnh: Trung ương xác định nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới là tiếp tục thể chế hóa các chủ trương lớn; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, tạo điều kiện để các địa phương chủ động, sáng tạo trong phát triển.
Liên quan đến công tác cải cách hành chính và tổ chức bộ máy, ông Trần Cẩm Tú yêu cầu tiếp tục tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động nhưng phải đảm bảo đồng bộ, không làm gián đoạn việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Về công tác cán bộ, Thường trực Ban Bí thư khẳng định chủ trương điều động, luân chuyển cán bộ là nhất quán nhằm đào tạo, rèn luyện, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, việc thực hiện cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu đào tạo với sự ổn định, phát triển của địa phương; đặc biệt với các đô thị lớn như Đà Nẵng phải tính toán kỹ lưỡng, đảm bảo tính kế thừa, liên tục trong lãnh đạo, điều hành.
Ông Trần Cẩm Tú cho hay trong thời gian tới, Trung ương sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định, chính sách về công tác cán bộ theo hướng công khai, minh bạch, lựa chọn đúng người, đúng việc; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện để cán bộ yên tâm công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 6/7, Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh đã có thông báo về thời gian và khung giờ tạm dừng khai thác cao tốc Cam Lộ - La Sơn trong thời gian thi công dự án mở rộng tuyến đường này từ 2 làn lên 4 làn xe.
Theo thông báo, cơ quan chức năng sẽ cấm tất cả phương tiện (trừ các phương tiện phục vụ thi công dự án) tham gia giao thông trên cao tốc Cam Lộ - La Sơn trong khung giờ từ 17h hôm trước đến 5h ngày hôm sau. Thời gian bắt đầu cấm từ ngày 10/7 cho đến khi có thông báo mới.
Cao tốc Cam Lộ - La Sơn (giai đoạn 1) dài hơn 98km, thuộc tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, thông xe năm 2022, nối tỉnh Quảng Trị với thành phố Huế, quy mô 2 làn xe.
Cuối năm 2025, dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ - La Sơn từ 2 lên 4 làn xe, với tổng vốn đầu tư hơn 6.000 tỷ đồng chính thức được khởi công, dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026.
Ông Chu Văn Long, Giám đốc điều hành Ban quản lý dự án mở rộng cao tốc Cam Lộ - La Sơn, cho biết từ đầu năm, tuyến đường này đã hạn chế tốc độ tối đa 50km/h đối với các loại phương tiện được phép lưu thông để phục vụ dự án.
Đến giữa tháng 3, phương án tổ chức giao thông được điều chỉnh, có 5 đoạn đủ 4 làn xe, tổng chiều dài hơn 10km, các phương tiện tham gia lưu thông được phép chạy với tốc độ tối đa 80km/h.
Theo ông Long, các nhà thầu đang thi công đồng loạt nhiều hạng mục trên toàn tuyến cao tốc Cam Lộ - La Sơn, dẫn đến phải tháo dỡ hệ thống biển báo hiệu đường bộ, hộ lan tôn sóng, phạm vi mặt đường bị thu hẹp, điều kiện khai thác không còn đảm bảo theo yêu cầu của đường cao tốc.
Đặc biệt vào thời điểm từ 17h hôm trước đến 5h ngày hôm sau, các tài xế bị hạn chế tầm nhìn, lưu lượng xe ít nên phương tiện lưu thông với tốc độ cao, có nguy cơ mất an toàn giao thông.
Để phòng ngừa tai nạn giao thông, đảm bảo an toàn cho các phương tiện cũng như lực lượng tham gia thi công, Cục Cảnh sát Giao thông, chủ đầu tư đã đề xuất tạm dừng khai thác cao tốc Cam Lộ - La Sơn vào ban đêm trong thời gian thi công mở rộng đường.
Sau thời gian nghiên cứu, xem xét, lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn, Cục Đường bộ Việt Nam đã phê duyệt phương án tạm dừng khai thác tuyến cao tốc trên để phục vụ dự án mở rộng, nâng cấp lên 4 làn xe.
Tin Gốc: Dân Trí

